TÌM VỀ CỘI NGUỒN

TÌM VỀ CỘI NGUỒN

LỜI NGỎ:

Nguồn cội! Luôn luôn là một nôi niêm trăn trờ tìm vê cội nguồn! Một niềm ngưỡng mộ, hy vọng.

Cái cây có gốc, con sông con suối có lạch có nguồn. Con người cũng vậy, cội nguồn luôn nhắc nhờ trong trái tim ta.

Vậy, cội nguồn cùa họ Tộc ta ở đâu? Ở đàng ngoài, đất Quỳnh? Hay đất Diễn?... Suốt mấy trăm năm, Cha ông ta đã từng tâm niệm như vậy. Nhưng rồi lực bất tòng tâm, con cháu “Họ Nguyễn Binh Ngô” vẫn chưa tìm được cội nguồn.

Mùa xuân năm Đinh Hợi 2007, nhằm ngày 11 tháng giêng, ngày HỘI TỤ ĐÓN XUÂN CỦA CÁC DÒNG HỌ “QUỲNH ĐÔI", gia đình chú Nguyễn Xuân Mạnh, cùng vợ thím Nguyễn Thị Bích Nguyệt và cháu ngọai Vương Nghi đã hành hương về tìm “cội nguồn của họ Tộc Bình Ngô tại nhà thờ ĐẠI TÔN “HỌ NGUYỄN QUỲNH ĐÔI”!

Sang ngày 14 tháng giêng, đại diện cho “Chi Họ Nguyễn Bình Ngô” gồm có chú Nguyễn Xuân Mạnh - nhánh 4 và các cháu Nguyễn Văn Hương - nhánh trưởng; Tô Thị Phượng, Nguyễn Văn Hải, Nguyễn Văn Hùng - Nhánh 2; Nguyễn Văn Thành và Nguyễn Văn Nam - nhánh 3 (Chi Họ Nguyễn Bình Ngô có bốn nhánh). Anh em chú bác hành hướng về Quỳnh Đôi hành lễ NHẬN TỔ - NHẬP HỌ.

Đúng 10g ngày 4 tháng giêng năm Đinh Hợi, chuyến xe chở đoàn từ Vinh về Ọuỳnh Đôi, Quỳnh Lưu dừng bánh tại nhà thờ Đại Tôn “Họ Nguyễn Quỳnh Đôi”. Thổ Tổ là Ngài An Hòa Hầu Nguyễn Thạc, lần đầu tiên sau mấy trăm năm xa cách, anh em tay bắt mặt mừng, như có đấng tối linh chỉ bảo, Đàng Trong (chi Binh Ngô, Thanh Chương), Đàng Ngoài (chi Quỳnh Đôi, Quỳnh Lưu) anh em cùng chung một dòng máu, một Ông Tổ sinh ra Bước đầu chúng ta tìm được cội nguồn. Cảm động và sung sướng.

Rồi tiết Thanh minh tháng 3 Đinh Hợi, các bác Nguyễn Kiện, Nguyễn Thịnh, Nguyễn Bút từ Quỳnh Đôi, Quỳnh Lưu vào xứ Bình Ngô thắp hương “nhà thờ Họ Nguyễn Bình Ngô” và thăm lại những người anh em sinh sống nơi viễn xứ.

Và sau đó ngày 4 tháng 4 năm Đinh Hợi, ngày Giỗ Tổ Ma Lạnh Công Nguyễn Thạc. Các bác Nguyễn Văn Thân, Nguyễn Văn Hương, Nguyễn Văn Trường, Tô Thị Phượng và cháu Nguyễn Văn Đức thay mặt con cháu “họ Nguyễn Bình Ngô” về nhà thờ “họ Nguyễn Quỳnh Lưu” dâng hương, chú Nguyễn Xuân Mạnh gửi điện và lễ vật bái phụng.

Con cháu chi “họ Nguyễn Bình Ngô” trăm người trọn một tấm lòng, tất cả hướng về cội nguồn, mong đền đáp tri ân Tiên Tổ.

Thiết nghĩ, chấp nối tìm lại cội nguồn, để con cháu muôn đời về sau biết được nguồn cội dòng tộc là một việc làm cần thiết.

TỰ LUẬN CỘI NGUỒN “NGUYỄN TỘC BÌNH NGÔ”

1.            Truyền miệng của Tiền nhân:

a)            Cha ông kể rằng, vào những năm 1941 - 1942, các bác “họ Nguyễn Quỳnh Lưu” có về Bình Ngô, Bích Hào Thanh Chương tìm họ. Anh em tri ngộ, tay bắt mặt mừng sau đó các bác lấy mất Gia phả mang về ngoài đó. Rồi do chiến tranh, anh em xa cách lại càng xa cách hơn, không có thời cơ gặp mặt, nhưng việc tìm họ vẫn canh cánh bên lòng.

b) Cha ông cũng căn dặn nguồn gốc “họ Nguyễn Bình Ngô” là ở Đàng ngoài. Ở đó, nhà thờ Tổ có đồ thờ bằng đá, muôn đời không mất. Con cháu nhớ tìm về.

c) Tại nhà thờ “họ Nguyễn Bình Ngô” trước đây con cháu những lúc gặp khó khăn hoặc đau ốm thường hay cầu Tổ để kêu van, cầu cứu. Lần nào cũng linh nghiệm.

Mỗi lần cầu Tổ, Tổ ứng và nhập vào đồng tử, hướng về phương Bắc hô: “Binh bản huyện Lạch Quèn về từ đường “Họ Nguyễn Bình Ngô” cứu giúp con cháu”.

Thiết nghĩ, dòng họ ta có vị Đức Thánh Tổ Tối Thiêng, luôn luôn ở bên con cháu, dìu dắt che chở cho con cháu bình yên vô sự mỗi lúc bão táp mưa sa, binh lửa ác liệt. Từ chiến tranh phong kiến trước kia đến kháng chiên bảo vệ Tổ Quốc sau này. Bây giờ tâm linh rộng mở, con cháu họ ta ai cũng được hưởng phúc ấm gia tiên, với đạo lý:

“Uống nước nhớ nguồn”

“Sinh thành nghĩa trọng Thái Sơn cao Dưỡng dục âm thầm Đông Hải đại”

2. Tư luân của Hầu thể:

a) Căn cứ gia phả “họ Nguyễn Bình Ngô” và “họ Nguyễn Quỳnh Đôi”, tham khảo “Lịch sử Việt Nam” tập 3, phần khởi nghĩa Lam Sơn đến đầu thế kỷ 19. Đọc thêm “Quỳnh Đôi cổ kim sự tích hương biên” của ông Hồ Đức Lĩnh và “sổ Tay Địa Danh Việt Nam” của Đinh Xuân Vịnh. Ông Tổ của “họ Nguyễn Bình Ngô” là một Nho sinh ở làng Thổ Giáp, có tên tự là Nguyễn Đình Mỹ (1688). Ông thuộc thế hệ thứ nhất (tiền đại) của dòng tộc “họ Nguyễn Bình Ngô” và thế hệ thứ 11 của dòng tộc “họ Nguyễn Ọuỳnh Đôi”, có ngài Thủy Tổ là An Hòa Hầu Nguyễn Thạc (1378).

Con của cụ Tổ Nguyễn Đinh Mỹ là Nguyễn Công Đoài (1718) chức Khải úy tướng quân, Tổng tri võ bá, tước tứ phẩm triều đình, là một vị tướng triều Lê; Có thể là vào thời Lê Hiển Tông (1740-1786).

Con của cụ Tổ Nguyễn Công Đoài là:

- Nguyễn Nhật Nghiêm, tướng triều Lê. Chức Phấn Lực Tướng Quân, Thiên Hộ, tước ngũ phẩm.

- Nguyễn Hữu Đoan (1748), bản xứ thiền môn, từ đường nhà chùa, phát lộc cho muôn dân.

- Con của Cụ Tổ Nguyễn Hữu Đoan là Nguyễn Trung Nghĩa (1778), cũng là một vị tướng triều Lê. Chức Phó vệ úy, tước thất phẩm.

b) Trong 5 vị Tổ:

- Nguyễn Đình Mỹ (1688)

- Nguyễn Công Đoài (1718)

- Nguyễn Nhật Nghiêm (?)

- Nguyễn Hữu Đoan (1748)

- Nguyễn Trung Nghĩa (1778)

Ai là người khai cơ lập họ ở đất Bình Ngô? Có thể là cụ Tổ Nguyễn Trung Nghĩa, con cụ Tô Nguyên Hữu Đoan, cháu đích tôn cụ Tổ Nguyễn Công Đoài, chắt đích tôn cụ Tổ Nguyễn Đình Mỹ. Đã nrớc Cha mẹ và vị hiệu Ông bà can cố từ đất Đàng ngoài về Đàng trong xứ Bình Ngô lập nghiệp. Lăng mộ cụ Tổ Nguyễn Trung Nghĩa hiện ở Rú Phướn Thanh Mai.

Năm sinh của Thổ Tổ An Hòa Hầu Nguyễn Thạc (1378) là theo quyển “Quỳnh Đôi cổ kim sự tích hương biên”, lây năm cụ vê khai cơ lập nghiệp làm năm sinh của cụ Tô. Còn của các vị Tổ từ thế hệ thứ 2 (1418) cho đến thế hệ thứ 15 Nguyễn Duy Chương (1808) ỉà suy từ năm sinh của cụ Tổ thê hệ thứ 16 Nguyên Khuê Văn. Gia phả “Họ Nguyên Bình Ngô” ghi đúng năm sinh của cụ Tô 1838, nội suy ngược lên bằng cách trừ đi 30 năm cho mỗi thế hệ.

Ví dụ: Thế hệ 15 Nguyễn Duy Chương năm sinh vào khoảng 1838 - 30 = 1808

Thế hệ 14 Nguyễn Trung Nghĩa năm sinh vào khoảng 1808 - 30 = 1778

Cách tính nội suy như vậy có thê sai số vài năm.

IV. LỜI KẾT:

Con cháu “Họ Nguyễn Bỉnh Ngô” vô cùng vui mừng xúc động khi tìm được cội nguồn và biết mình hậu duệ của Thổ Tổ An Hòa Hầu Nguyễn Thạc. Vị Tổ khai cơ ra đất Quỳnh Đôi, cùng với 2 vị Tổ khác thuộc họ Hồ và họ Hoàng, được đời sau tôn vinh là:

Hồ Khai Cơ

Nguyễn Triệu Cơ

Hoàng Lập Cơ

Thổ Tổ An Hòa Hầu Nguyễn Thạc, phần mộ được táng tại xứ Ma Lạnh, nên con cháu còn gọi là Ma Lạnh Công Nguyễn Thạc. Linh vị của ngài được thờ cúng tôn nghiêm tại nhà thờ họ Nguyễn thuộc xã Quỳnh Đôi, huyện Quỳnh Lưu, Nghệ An. Năm 1998, nhà thờ “Họ Nguyễn Quỳnh Đôi” được Bộ Văn hóa cấp bằng chứng nhận di tích lịch sử Văn hóa do Bộ trưởng Nguyễn Khoa điềm ký.

Ma Lạnh Công Nguyễn Thạc còn được Vua Khải Định phong sắc:

“Dực Bao Trung Hưng Linh Phù Tôn Thần”

Suốt ba thế kỷ 16, 17, 18 nhà Lê suy yếu, đất nước Đại Việt lâm vào cảnh chiến tranh liên miên, Trịnh Nguyễn phân tranh, Tây Sơn khởi nghĩa.

Trong giai đoạn này, người sáng lập ra dòng họ “Họ Nguyễn Bình Ngô” là Phó Vệ úy Nguyễn Trung Nghĩa. Tiên sinh là một vị quan văn võ thời cuối Lê là Lê Hiển Tông (1740 - 1786). Ngài là con Bản xứ thiền môn Nguyễn Hữu Đoan và thân mẫu là bà Hà thị. Ngài đã cùng ông bác Lê Tướng quân Thiên hộ Nguyễn Nhật Nghiêm trên con đường binh nghiệp đã dừng lại đất Bình Ngô lập nên họ Nguyễn.

Bình Ngô là vị trí chiến lược, có thành Bình Ngô của Lê Lợi chông quân Minh, có chợ Bình Ngô thuộc Tổng Bích Hào, huyện Thanh Giang, trấn Nghệ An, nay là xã Thanh Giang, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An (2).

Như vậy các cụ Tổ “Họ Nguyễn Bình Ngô” là nho sĩ Nguyễn Đình Mỹ (1688), Khải úy tướng quân Nguyên Công Đoài (1718), Bản xứ thiền môn Nguyễn Hữu Đoan (1748), Thiên hộ chức Nguyễn Nhật Nghiêm (?), Phó Vệ úy Nguyễn Trung Nghĩa (1778) là Hậu duệ của dòng tộc “Họ Nguyên Quỳnh Đôi”, nhắc nhở con cháu khẳng định thêm và tìm về cội nguồn đáp đền đạo hiếu.

Chúng tôi đã đọc nhiều trang sử và nghiên cứu kỹ gia phả “Họ Nguyễn Bình Ngô”, gia phả “Họ Nguyên Quỳnh Đôi” và lắng nghe ý kiến các vị cao niên trong họ tộc để viết nên phần bổ sung này.

Nhưng chắc chắn vẫn còn nhiều sai xót, rất mong được sự góp ý của anh em con cháu nội ngoại và toàn thể họ tộc vào dịp 15 tháng 7 năm Đinh Hợi.

Ý tưởng tìm về cội hguồn là đáng trân trọng, con đường tìm vệ cội nguồn rộng mở thênh thang nhưng vô cùng khó khăn gian khô. Rất mong các bậc đàn anh và toàn thể con cháu hậu duệ của dòng tộc An Hòa Hầu Nguyễn Thạc ở Quỳnh Đôi hay ở Bình Ngô hãy chung sức chung lòng kế nghiệp tiền nhân, vun đắp vững chắc và làm rạng rỡ thêm CỘI NGUỒN – NGUỒN CỘI.

Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 7 năm Đinh Hợi.

Cử nhân toán, nhà giáo Nguyễn Văn Kỳ

Tiến sĩ kỹ thuật, kỹ sư Nguyễn Xuân Mạnh.

(Hậu duệ thế hệ thứ 19)

(2) Trang 74 sổ tay địa danh Việt Nam

Đinh Xuân Vịnh, NXB.Đại học Quốc gia Hà Nội - 2002