Nghiên cứu phần thượng phả dòng họ Nguyễn Bặc

NGUỒN GỐC CỦA DÒNG HỌ NGUYỄN BẶC

Nguyễn Bặc là khởi tổ của một dòng họ Nguyễn

Sở dĩ gọi ông là khởi tổ vì ông là vị tổ mở đầu cho một dòng họ lớn đã tồn tại hàng nghìn năm gồm rất nhiều hệ, chi nhánh hậu duệ trên toàn quốc với rất nhiều vị thủy tổ hậu duệ khác nhau. Vì thế, người ta còn gọi ông là Thái thủy tổ. Nhưng một vấn đề được đặt ra trên ông là ai, tức là nguồn gốc của dòng họ Nguyễn như thế nào. Vấn đề này liên quan mật thiết với vấn đề các dòng họ Việt Nam có từ bao giờ.

Hồi thực dân Pháp còn thống trị nước ta, một số nhà sử học người Pháp đã có lập luận cho là người Việt không phải gốc bẳn địa. Thời cổ đã có sự di dân từ phương Bắc xuống giống như những cuộc di dân ở châu Âu, châu Phi. Một mặt khác, cha ông ta ngày xửa khi viết phả, viết sử, để tránh bị gọi mình ỉà "Nam Man", đã ghi nguồn gốc của ta là từ phương Bắc xuống. Đế Minh, hậu duệ của Thần Nông, truyền ngôi cho con cả là Hùng Ly làm vua ở phương Bắc và con thứ ỉà Lộc Tục làm vua ở phương Nam. Lộc Tục truyền ngôi cho con là Lạc Long Quân. Có phả họ Trần ở ta ghi nguồn gốc của họ này là từ nước Trần ờ Trung Quốc ngày xưa, mặc dù phả không hề ghi rõ mối quan hệ đó như thế nào.

Ngành khảo cổ đã có công phát hiện người Việt có nguồn gốc bản địa. Với các di vật khai quật được, từ những năm 30, một số sử gia phương Tây đã viết các cuốn Vương quốc Văn Lang (Le royaume du Văn Lang) và Bắc Kỷ thời cổ (Le Tonkin dans l’antiquité). Ngành khảo cổ Việt Nam, sau cách mạng tháng Tám, đã đi sâu vào chuyên đề này, tiếp tục khai quật nhiều nơi và đã thành công to lớn. Viện Khảo cô đã tổ chức một số hội nghị khoa học và kết luận các di chỉ cổ thời Phùng Nguyên khai quật ở các khu vực đền Hùng, Đồng Đậu, Tràng Kênh có niên đại tính theo phương pháp phóng xạ C14 là 3.405 ± 100 năm. Vì thế các nhà khoa học đã khẳng định dân tộc ta có nguồn gốc bản địa, dân tộc ta có 4000 năm lịch sử, thời đại Hùng Vương là có thực.

Cuốn Lịch sử Việt Nam tập I tức cuốn lịch sử chính thức của nước ta ngày nay không viết tổ tiên ta từ phương Bắc xuống nữa. Chương đầu của cuốn sử này viết về "Nước Văn Lang" có nêu 5 điểm nổi bật như sau:

1. "Việt Nam là một trong những quê hương của loài người". Câu đầu tiên này của chương mở đầu cuốn sử nói lên nguồn gốc bản địa của người Việt.

--------

(1) Người ta thường giải thích người Việt cổ thờ vật tổ là chim Lạc. Trên mặt trống đồng có khắc hình chim, họ cho đo là chim Lạc. Còn cụ thể chim Lạc như thê nào không ai rõ. Có lẽ là do nó bị "lạc" mất từ lâu. Tại sao trên mặt trống đồng có khi có khắc hình cóc mà không gọi luôn là cốc Lạc. Thực ra người Trung Quốc đọc chữ "Lạc" là "LÚA" tức là cây lúa. Sách Thủy Kinh chú: Ruộng lạc (lúa) theo nước triều lên xuống mà làm, dàn khẩn ruộng ấy mà ăn, nên mới có tên ây". Rõ ràng tên ấy là "lúa". Lạc là lúa.

--------
2. "Ruộng lạc theo nước triều lên xuống mà làm, dân khẩn ruộng ấy mà ăn, nên gọi là dân Lạc". Điểm này nói rõ dân ta sớm biết trồng lúa nước à Đông Nam Á, quê hương của lúa nước. "Lạc Việt" là dân Việt trồng lúa.

3. "Sơn Tinh chiến thắng Thủy Tinh là thiên anh hùng ca đậm đà mầu sắc thần thoại ngợi ca người dân Lạc Việt (dân Việt trồng lúa) đánh thắng trận đầu giặc lụt giành lấy mảnh đất mầu mỡ ven sông". Điểm này nói lên thời Hùng Vương đã biết huy động sức mạnh thần thánh của dân để đắp đê chống lụt.

4. "Thời Hùng Vương đã có sự chuyển biến từ chế độ mẫu hệ sang chế độ phụ hệ. Trong làng có họ, họ hàng làng nước kết hợp chặt chẽ với nhau". Điểm này nói lên sự hình thành các họ theo phụ hệ ngay từ thời Hùng Vương. Việc Lạc Long Quân truyền ngôi cho con trai cả đánh dấu sự hình thành của nhà nước theo chế độ thế tập của một vương triều cũng như trong lịch sử Trung Quốc bắt đầu thực hành chế độ thế tập từ nhà Hạ.

5. "Thời kỳ Văn Lang, thời kỳ Hùng Vương là giai đoạn trọng yếu của lịch sử Việt Nam. Chính trong thời kỳ này đã xây dựng nền tảng dân tộc Việt Nam, nền tảng văn hóa Việt Nam và truyền thống dân tộc Việt Nam”. Điểm này là kết luận chung của chương đầu "đất nước Văn Lang". Kết luận này rất xác đáng: Phải có một thời đại Hùng Vương huy hoàng, gồm hàng trăm họ gốc bản địa ở các thôn xã, người dân Âu Lạc trong suốt hàng nghìn năm bị đô hộ mới luôn giữ vững bản sắc dân tộc của mình, liên tiếp nổi lên để giành lại độc lập tự do. không bị đồng hóa như một số dân bách Việt khác.

Như vậy là hàng trăm họ, trong đó có họ Nguyễn đã được hình thành từ thời kỳ Hùng Vương. Đó chính là nguồn gốc của các dòng họ Việt Nam ngày nay. Thế nhưng các dòng họ không thể nào có một phả hệ liên tục từ thời Hùng Vương đến nay bởi vì thời ấy ông cha ta chưa có chữ viết, mãi đến thế kỷ thứ II, III trước Công nguyên các cụ mới dùng chữ Hán, và cũng mãi đến đời Lý, các cụ mới bắt đầu viết sử và đến đời Trần mới viết gia phả.

Tuy nhiên, trong nhiều phẳ họ Nguyễn có ghi: "Họ Nguyễn vốn dòng lạc tướng ở đất Phong Châu". Phong Châu ngày xưa gồm cả vùng Sơn Tây và nam Phú Thọ với trung tâm là Đền Hùng. Điểm đó chứng tỏ họ Nguyễn đã có từ thời Hùng Vương khi các dòng họ bắt đầu hình thành với nhà nước Văn Lang.

Chắc chắn đã có nhiều vị tổ họ Nguyễn trong 17 đời đầu Hùng Vương, nhưng chưa phát hiện. Đến đời Hùng Vương thứ 18, tức vào thế kỷ III trước Công nguyên mới thấy tên một số vị họ Nguyễn.

Theo ngọc phả đền Và (thị xã Sơn Tây), thờ Sơn Thánh Tản Viên thì đời Hùng Vương thứ 18 có hai anh em ruột là Nguyễn Cao Hạnh và Nguyễn Ban, quê ở Động Lăng Xương, huyện Thanh Xuyên thuộc đất Phong Châu (nơi Lạc Long Quân cưới bà Âu Cơ), tuổi đều quá ngũ tuần, nhưng chưa có con nối dõi nên làm phúc làm đức cầu trời cho sinh con. Một thầy địa lý bảo đem mộ gia tiên táng ờ ngọn Thu Tinh, đỉnh cao nhất của núi Tản Viên, sau đó hai bà vợ của hai anh em có mang. Bà chị sinh Nguyễn Tuấn, bà em sinh đôi: Nguyễn Sùng và Nguyễn Hiển. Lớn lên, nhờ có tài, Nguyễn Tuấn được vua gả công chúa Ngọc Hoa. Nguyễn Sùng và Nguyễn Hiển cũng được làm quan. Nguyễn Tuấn có công huy động sức mạnh to lớn thần thấnh của dân đắp đê trị thủy nên dân ta đã kết hợp hư cấu thành câu chuyện thần thoại "Sơn Tinh chiến thắng Thủy Tinh". Biết vua Hùng không còn con trai nối nghiệp, Thục Phán ở Tây Âu tức vùng Tây Bắc đuầ quân xâm lược để chiếm nước Văn Lang. Ba anh em Nguyễn Tuấn, Nguyễn Sùng, Nguyễn Hiển vâng lệnh vua cầm quân đánh Thục Phán. Nguyễn Sùng, Nguyễn Hiển đem quân và huy động thêm lực lượng nhân dân chặn đánh đối phương từ Thanh Hóa ra, còn Nguyễn Tuấn chặn đánh cánh chính của chúng từ Quỳnh Nhai xuống. Để lấy ít chống nhiều, lấy yếu thắng mạnh, Nguyễn Tuấn giả thua dử địch vào trận địa phục kích để bất ngờ xuất quân như thiên binh thiên tướng đánh địch. Lần thứ hai, Thục Phán liên minh với một số bộ tộc xung quanh, động viên nhiều quân hơn đánh ta từ bốn phíạ. Nguyễn Tuấn sử dụng quân triều đình và quân dân địa phương chặn đánh. Nguyễn Sùng, Nguyễn Hiển đánh địch từ Ma Linh Bố Chánh ra, còn Nguyễn Tuấn đánh địch ở hướng chính từ Mộc Châu sang. Ông làm lệnh giả của địch gửi chúng làm chúng cụm lại rồi bất ngờ tập kích địch.

Thắng trận, Nguyễn Tuấn được vua phong làm Tản Viên Sơn Thánh và được vua truyền ngôi, nhưng ông nhất quyết không nhận. Nguyễn Sùng được phong làm Cao sơn Đại vương. Nguyễn Hiển được phong làm Quy Minh Đại vương.

Thục Phán biết không thể đánh thắng bằng sức mạnh quân sự bèn viết thư gửi vua Hùng xin nhận lỗi. Vì vốn dòng dõi họ Hùng nên Thục Phán xin được nối ngôi. Sơn Thánh Tản Viên đề nghị vua Hùng chấp thuận để tránh chiến tranh tiếp diễn. Vua Hùng đồng ý. Lạc Việt và Tây Âu hợp nhất thành nước Âu Lạc rộng lớn hơn. Khi Sơn Thánh và hai em qua đời đều táng tại núi Thu Tinh và được nhân dân nhiều địa phương thờ làm Thành hoàng. Như vậy, Nguyễn Cao Hạnh, Nguyễn Ban, Nguyễn Tuấn, Nguyễn Sùng, Nguyễn Hiển và một số tướng họ Nguyễn khác chính là một số viễn tổ của họ Nguyễn ngày nay.

Trước các vị viễn tổ họ Nguyễn nhiều đời, có tư liệu cho biết, còn có nhiều vị cao viễn tổ họ Nguyễn, nhưng cần nghiên cứu mới xác minh ghi vào.

Trong lịch sử cổ đại, đã có một số vị họ Nguyễn. Dưới thời Hai Bà Trưng, là khu vực Long Biên (Hà Nội ngày nay) có tướng Nguyễn Tâm Chinh cùng tham gia khởi nghĩa. Thời Tiền Lý Nam Đế có hai tướng họ Nguyễn: Nguyễn Hống, Nguyễn Hách.

------

  (2) Trong thần phả đình ba thôn Hưng Quan, Tràng Quan, Vinh Quan (gọi tắt là Tam Quan) huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình thờ Thành hoàng Trần Đức Duệ, có ghi nhiều dòng họ có từ đời Hùng Vương. Thân phụ Thành hoàng là Trần Đức Tuệ, quê ở Vũ Ninh (nay là Vũ Giang - Bắc Ninh). Đức Tuệ có vợ cả là Vũ Thị Từ và ba vợ lẽ: họ Ngô, họ Lưu, họ Lê, sinh tất cả sáu con trai. Đức Tuệ mời thầy đồ dạy chữ cho con là Phạm Lan Đình, và thầy dạy võ cho con là Trương sử Văn. cả 6 con trai đều làm tướng của Tản Viên Sơn Thánh Nguyễn Tuấn đánh thắng Thục Phán xâm lược. Khi về cư tang cha mẹ, 6 tướng được nghỉ làm quan ba năm. Trong thời gian đó có sự hợp nhất Văn Lang và Tây Âu thành nước Âu Lạc do Thục Phán làm vua. 6 vị tướng họ Trần không theo Thục Phán. Theo lời khuyên của thầy học Phạm Lan Đình, mỗi người chia nhau đi một nơi để cư trú. Con cả ở lại quê cha là Vũ Ninh, người thứ hai lên biên giới đông bắc, người thứ ba sang tây bắc, người thứ tư lên đông bắc, người thứ năm xuống phương Nam, người thứ sáu tức Trần Đức Duệ về bên sông Bạch Lãng, Cát Bài, Hải Đông tức xã Tam Quan, Đông Hưng, Thái Bình ngày nay. ở đây ông chữa bệnh cho dân, dạy dân cày cấy làm ăn được thôn trưởng là Nguyễn Thuần Tín, và thôn phó là Trần Đăng Khoa rất kính trọng. Khi ông mất được dân thờ làm Thành hoàng...

Theo thần phả này, từ thời Hùng Vương đã có các họ Trần, Nguyễn, Vũ, Lưu, Lê, Phan, Ngô, Phạm, Trương, Thục... Họ Trần đã có từ thời Hùng Vương không phải đến thời Bắc thuộc mới từ Trung Quốc sang.

------

Thế kỷ IV có một thứ sử Giao Châu từ Trung Quốc sang tên là Nguyễn Phu. Có người nghĩ đây là viễn tổ của dòng họ Nguyễn Bặc. Không một cuốn phả cũ nào của dòng họ Nguyễn Bặc chính thức ghi Nguyễn Phu là viễn tổ của mình. Phả do Quỳnh Sơn Hầu Nguyễn Lữ ghi Nguyễn Bặc quê ờ huyện Hoằng Hóa (Ái Châu). Ghi như vậy cũng không đúng. Nguyễn Bặc cùng quê với Đinh Bộ Lĩnh ở Sách Bồng (Vân Bồng) nay là thôn Đại Hữu, xã Gia Phương, huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình, ơ tại đây còn có "Khởi Nguyên Đường" (nhà thờ nguồn gốc) thờ ông, có mộ ông ở gò cá chép, có khu mộ phát tích họ Nguyễn cạnh chân núi Hổ, tức là khu mộ của tổ tiên ông. Thuở nhổ ông cùng tập trận cờ lau với Đinh Bộ Lĩnh, cùng kết nghĩa anh em với Đinh Bộ Lĩnh. Những điểm này chứng tỏ ông là người gốc lâu đời ở địa phương này. Phụ thân ông Nguyễn Thước là bạn thân thiết với Đinh Công Trứ phụ thân của Đinh Bộ Lĩnh. Hai vị đều làm quan dưới thời Dương Đình Nghệ và Ngô Quyền.

Cho nên dòng họ Nguyễn Bặc đúng là một dòng họ bản đỊa "vốn dòng Lạc tướng ở đất Phong Châu" từ thời Hùng Vương.

------

(3) Núi Hổ và núi Kỳ Lân nối nhau thành một dải. Đầu Kỳ Lân về hướng Bắc, đầu Hổ về hướng Nam. Chân núi Kỳ Lân có khu mộ phát tích của họ Đinh, chân núi Hổ có khu mộ phát tích của họ Nguyễn. Tương truyền vì chân Kỳ Lân ngắn nên họ Đinh chí làm vua được một hai đời, còn chân Hổ dài nên họ Nguyễn có nhiều đời làm vua và đứng đầu nước.

------

Chương Một

KHỞI TỔ NGUYỄN BẬC DƯỚI TRIỂU ĐINH

Đời thứ nhất: NGUYỄN BẶC

1. Nguyễn Bặc tam đồng với Đinh Bộ Lĩnh

Nguyễn Bặc tam đồng với Đinh Bộ Lĩnh: đồng tuế, đồng hương, đồng chí hướng. Hai ông cùng sinh năm Giáp Thân (924) ở Sách Bồng (xóm Vân Bổng), thôn Đại Hữu, châu Đại Hoàng, (nay là làng Đại Hữu, xã Gia Phương, huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình), cùng có chung chí hướng dẹp loạn 12 sứ quân, thống nhất đất nước. Hai phụ thân của hai ông cùng là bạn đồng liêu thân thiết. Đinh Công Trứ, phụ thân của Đinh Bộ Lĩnh giữ chức thứ sử Hoan Châu dưới thời Dương Đình Nghệ và Ngô Quyền. Còn Nguyễn Thước, phụ thân của Nguyễn Bặc cũng là bộ tướng của Dương Đình Nghệ và Ngô Quyền. Cả Nguyễn Bặc và Đinh Bộ Lĩnh đều thuộc thế gia vọng tộc. Vì cha làm quan dưới thời Ngô Vương Quyền (939- 944), nên khi cha qua đời, hai vị đã 16-19 tuổi. Có tư liệu nói Đinh Bộ Lĩnh có thể được thế tập thay cha làm thứ sử Hoan Châu. Chuyện, cờ lau tập trận là chuyện của thời niên thiếu. Tương truyền hai người kết nghĩa anh em từ bé, rồi cùng học một lò võ và các sách thao lược. Đinh Bộ Lĩnh có sức khỏe và giỏi võ nhất, Nguyễn Bặc cũng giỏi võ nhưng tinh thông sách thao lược nhiều hơn.

Đinh Bộ Lĩnh không nối được nghiệp cha làm thứ sử Hoan Châu mà trở về quê cùng mẹ và gặp khó khăn to lớn: chú ruột là Đinh Thúc Dự đã chiếm mất quyền làm chủ sách Đào úc (còn đọc là Áo) do cha để lại. Ông phải về quê mẹ ở Điềm Xá. Nguyễn Bặc cùng các bạn đồng niên Đinh Điền, Trịnh Tú, Lưu Cơ ra sức giúp đỡ Bộ Lĩnh. Tương truyền lúc bé khi Bộ Lĩnh giết trâu khao quân, bị chú đuổi đánh, trời cho hiện cầu để ông vượt sông. Nhưng thực ra Nguyễn Bặc và các bạn khác đã tìm cách che chở, đánh tháo.

Vì có tình thân thiết như trên, nên trong "Khởi Nguyên Đường" là Đại Hữu có đôi câu đối như sau:

Hoa Lư kết nghĩa anh hùng chủ

Đại Hữu ân khâm tướng quốc công

tạm dịch:

Hoa Lư kết nghĩa uới chúa anh hùng

Đại Hữu ơn ban làm tướng quốc công

2. Nguyên Băc là vi tướng sô môt, vi thâp đao tướng quân đầu tiên phò tá Vạn Thắng Vương Đinh Bộ Lĩnh dẹp yên 12 sứ quân

Năm 944, Ngô Vương Quyền băng hà. Năm 945, em vợ là Dương Tam Kha (con Dương Đình Nghệ) cướp ngôi, tự xưng là Dương Bình Vương. Thổ hào các nơi không phục, đua nhau nổi lên, hình thành 12 sứ quân. Nước nhà hỗn loạn vô chủ.

Trong lúc đó. Triệu Khuông Dần sắp thống nhất Trung Quốc. Nếu Trung Quốc được thống nhất, họ sẽ nhân cơ hội nước ta đang rối loạn mà đem quân đánh chiếm, lập lại nền thống trị như trước đây. Cho nên việc dẹp loạn 12 sứ quân, thống nhất đất nước ta là một nhu cầu bức thiết của dân tộc, có thống nhất mới giữ được độc lập.

Tháng 11 năm Kỷ Dậu (949), Đinh Bộ Lĩnh, được sự phò tá của Nguyễn Bặc, Đinh Điền. Trịnh Tú, Lưu Cơ phất cờ khởi nghĩa ở động Hoa Lư (Gia Viễn, Ninh Bình) để dẹp loạn 12 sứ quân, thống nhất đất nước.

Nguyễn Bặc bàn với Đinh Bộ Lĩnh nên nhanh chóng xây dựng chỗ đứng chân ờ thành Hoa Lư, xây dựng và phát triển lực lượng vũ trang. Được Đinh Bộ Lĩnh giao nhiệm vụ, ông đã đến thôn Phú Cốc (huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định) động viên được 3.000 quân. Vì cuộc khởi nghĩa hợp lòng dân, lại biết Đinh Bộ Lĩnh là người có tài, nhân dân trong vùng đi theo rất đông. Đinh Thúc Dự cũng trao trả sách Đào úc cho cháu. Lực lượng vũ trang phát triển nhanh chóng, khống chế cả châu Đại Hoàng, thanh thế lan rộng.

Năm 950, Dương Bình Vương bị lật đổ. Ngô Xương Văn và Ngô Xương Ngập cùng làm vua.

Trước tình hình nghĩa quân còn non trẻ, Nguyễn Bặc và các bạn bàn với Bộ Lĩnh bề ngoài nên tỏ ra thần phục triều đình nhà Ngô để tranh thủ thời gian xây dựng lực lượng. Đinh Bộ Lĩnh đã cử một phái đoàn do Trịnh Tú cầm đầu mang theo Đinh Liễn, con cả của Bộ Lĩnh, mới 8-9 tuổi làm con tin đưa cống vật đến cổ Loa triều cống.

Thế nhưng, hai vua Ngô, thấy thế lực Hoa Lư uy hiếp họ nhất nên năm 951 kéo quân tiến công nghĩa quân ở châu Đại Hoàng. Bộ Lĩnh xuất quân nghênh chiến, một số trận quyết liệt diễn ra. Bộ Lĩnh bị thương ở chân. Đỗ Thích cõng ông chạy vào thành.

Biết sức nghĩa quân còn yếu, Nguyễn Bặc bàn với Bộ Lĩnh nên đóng cửa thành thủ hiểm và làm không bích thanh dã. Quân Cổ Loa không thể đánh thành. Cùng kế, hai vua Ngô cho treo Đinh Liễn lên cây để buộc Đinh Bộ Lĩnh khuất phục.

Bộ Lĩnh đứng trên thành nói: "Đại trượng phu chỉ mong lập công lớn, nhất thống sơn hà, há lại bắt chước thói nhi nữ xót con sao!" Nói rồi truyền lệnh cho nỏ bắn về phía Đinh Liễn. Đương nhiên, quân lính không bắn trúng. Lợi dụng đêm tối, họ đã ra giải thoát được Đinh Liễn.

Đánh thành hàng tháng không được, bị nhiều thương vong do cung tên và nổ bắn ra, đá và gỗ cháy ném xuống, lại cạn lương do dân đưa thóc lúa và trâu bò vào giấu trong các lũng núi đá, hai vua Ngô buộc phải rút quân.

Việc đánh bại cuộc tiến công của quân cổ Loa làm cho thanh thế của quân Hoa Lư lên cao. Các lãnh tụ nghĩa quân tìm cách mở rộng phạm vi kiểm soát. Biết sứ quân Trần Lãm ở Bố Hải Khẩu (cửa Bố, tức cửa sông Trà Lý, Thái Bình) đã già không có con, Đinh Bộ Lĩnh sang xin làm con nuôi và được giao chỉ huy quân và quản lý đất của sứ quân họ Trần này. Tiêp đó, quân Hoa Lư liên tiếp tiến công và phản công quân Cổ Loa và các sứ quân khác, không ngừng lớn mạnh và chiên thắng. Đinh Bộ Lĩnh được tôn làm Vạn Thắng Vương, Nguyễn Bặc được phong làm Thập đạo tướng quân đầu tiên. Ông đã góp nhiều mưu kế hoặc trực tiếp chỉ huy đánh tan lần lượt các sứ quân và cuối cùng diệt hai sứ quân mạnh nhất là Nguyễn Siêu à Tây Phù Liệt năm 967 và Đỗ cảnh Thạc ở Đổ Động Giang năm 968. (Xem Phụ lục: Việc dẹp loạn 12 sứ quân).

3. Thái tể Nguyễn Bặc giúp vua Đinh xây dựng đất nước

Dẹp xong 12 sứ quân, giang sơn quy về một mối, cuối năm Mậu Thìn (968), Đinh Bộ Lĩnh lên ngôi vua. Tương truyền vua Đinh phân vân không biết nên xưng vương hay xưng đế.

Nguyễn Bặc tâu: "Nay Chúa công đã thống nhất bờ cõi, được dân chúng khắp nơi quy phục, có sức mạnh hơn hẳn thời Lý Nam Đế và Ngô Vương Quyền, tại sao lại xứng vương mà không xưng đế như các triều vua phương Bắc. Chúa công không lên ngôi Hoàng đế, dựng nền chính thống của nước ta, thử hổi còn ai làm được việc đó nữa".

Vua hỏi: "Nếu vì thế phương Bắc mang quân sang thì sao?"

Nguyễn Bặc tâu: "Người Bắc lúc nào lại không muốn thôn tính nước ta. Nhưng trước đây Nam Hán điíci hàng vạn quân sang đã bị vua Ngô đánh cho tan tác ờ sông Bạch Đằng. Nay ta có quân hùng tướng mạnh thì sợ gì giặc Bắc".

Bấy giờ vua Đinh mới đăng quang, lấy đế hiệu là Đại Thắng Minh Hoàng đế, niên hiệu là Thái Bình, quốc hiệu là

Đại Cồ Việt, quốc đô là Trường Yên, cũng như quốc đô Trường An của Trung Quốc.

Vua Đinh định xếp Nguyễn Bặc đứng đầu tứ trụ triều đình. Ông đề nghị vua xếp Đinh Điền, cùng họ với vua vào vị trí ấy và xin đứng hàng thứ hai trong tứ trụ: Đinh Điền, Nguyễn Bặc, Trịnh Tú, Lưu Cơ. Nguyễn Bặc nắm quân nội giáp, tức là quân chủ lực của triều đình. Đinh Điền coi quân ngoại giáp, tức lực lượng vũ trang các địa phương.

Năm 971, Nguyễn Bặc được giao giữ chức Thái tể (chức Tể tướng). Trịnh Tú được giao giữ chức Sứ quan (đối ngoại). Lưu Cơ giữ chức Đô hộ phủ sĩ sư (tư pháp). Ngô Chân Lưa giữ chức Tăng thống. Lê Hoàn, một tướng trẻ (khoảng 30 tuổi) được Đinh Liễn thu nạp từ năm 961, có nhiều thành tích được cử giữ Thập đạo tướng quân thay Nguyễn Bặc.

Trên cương vị Thái tể, Nguyễn Bặc đã giúp vua nhiều việc quan trọng để xây dựng một chính quyền thống nhất tập trung. Với quan điểm: "Sử bất xứng hùng xưng bá, triều đình tất tu thống lĩnh toàn quân", tức là muốn tránh tình trạng xứng hùng xứng bá, triều đình phải thống lĩnh toàn quân, không có người nào có quân đội riêng và đất đai riêng để dễ bề cát cứ. Quân đội được tổ chức biên chế lại: cứ 10 binh là một ngũ, cứ 10 ngũ là một tốt, cứ 10 tốt là một lữ, cứ 10 lữ là một quân, cứ 10 quân là một đạo. Cả nước có 10 đạo tức một triệu quân. Thực ra đó là biên chế lý thuyết vì hồi đó tổng quân số không thể là một triệu. Sau khi dẹp xong 12 sứ quân, đất nước thái bình, vua cho bớt quân về làm ruộng. Các đạo chỉ giữ một số quân nhất định, còn à triều đình giữ lại một đạo thân vệ mạnh, trên trán có thích ba chữ "Thiên tử quân".

Chính quyền có văn võ bá quan, có chức tước chế phục rõ ràng. Quân đội cũng có đồng phục, đầu đội mũ bình thiên bằng da thuộc sơn đỏ.

Thể thống của một quốc gia độc lập được hình thành.

Năm 971, người có công tùy theo lớn bé được ban cấp tước lộc khác nhau.

Năm 975, các tướng lĩnh hy sinh được phong làm phúc thần để nhân dân các địa phương thờ phụng.

Thái tể giúp vua trong việc chấn hưng kinh tế và văn hóa, khuyến khích nghề nông, coi trọng việc khẩn hoang phục hóa. Nhân dân phát triển nghề dệt vải, dệt lụa, làm đồ gốm, làm gạch ngói để xây dựng cung điện, đình chùa. Vua cho tìm người hát chèo giỏi đến các địa phương dạy dân hát. Đinh Liễn còn cho xây cột vàng khắc kinh Phật. Việc buôn bán với nước ngoài được chú ý. Nhiều thuyền buôn một số nước ra vào tấp nập và dâng sản vật của nước họ lên vua.

Năm 970, vua cho đúc tiền trên mặt trái khắc chữ Đinh, mặt phải khắc 4 chữ "Thái Bình hưng báu". Đây là lần đầu tiên nước ta có đồng tiền riêng.

Để tăng cường phòng thủ, vua Đinh, theo đề nghị của Thái tể và của triều đỉnh đã xây thêm thành lũy ở Trường Yên.

Về ngoại giao, biết Triệu Khuông Dẫn đã lên ngôi Hoàng đế, lập ra nhà Tống từ năm Canh Thân, tức 960, nhưng vẫn còn một số đất đai chưa chiếm được, đến năm 971, họ mới dẹp xong Nam Hán tiến sát bờ cõi nước ta, Nguyễn Bặc cùng Trịnh Tú đã tâu vua cử một sứ đoàn sang Tống triều cống và cầu phong. Năm 972, vua Đinh đã cử sứ đoàn do Nam Việt Vương Đinh Liễn (lúc này khoảng 30 tuổi) cầm đầu, có Trịnh Tú phò tá đi sang kinh đô nước Tống. Năm 973, Tống Thái tổ sai sứ sang phong cho vua Đinh làm Giao Chỉ quận vương. Còn Đinh Liễn được giữ lại làm con tin, được phong làm Kiểm Hiệu Thái Sư Tĩnh Hải Quân Tiết Độ Sứ An Nam Đô Hộ Phủ và được vua Tống gả công chúa.

Như vậy, lần đầu tiên bằng chính sách ngoại giao khôn ngoan mềm dẻo, vua Đinh đã buộc vua Tống trên thực tế phải công nhận nước ta độc lập, có vua riêng. Nhà Tống không phong vua ta là Tiết độ sứ tức là một chức quan của họ nữa. Tuy họ mới phong vua ta là quận vương, chưa phải quốc vương, nhưng trên thực tế vua Đinh vẫn là một vị hoàng đế của nước Đại Cồ Việt độc lập. Kinh nghiệm ngoại giao này được các triều đại vua Việt vận dụng mãi cho đến triều Nguyễn thế kỷ XIX.

Năm 975, một sứ đoàn khác do Trịnh Tú cầm đầu lại sang Tống triều cống. Lần này Đinh Liễn được trở về nước. Vua Tống sai sứ sang phong cho Đinh Liễn chức Khai Phủ Nghi Đồng Tam Ty Kiểm Hiệu Thái Sư Giao Chỉ Quận Vương. Đây là một thủ đoạn ly gián, vì vua Tống đem chức đáng ra phong cho vua Đinh lại đem phong cho con vua, vì thế vua đem lòng nghi kỵ Đinh Liễn, và lập con thứ là Hạng Lang làm Thái tử. Đinh Liễn giết Hạng Lang. Nguyễn Bặc vạch rõ âm mưu ly gián của Tống. Vua Đinh không hỏi tội Đinh Liễn.

Trong những năm làm Thái tể, Nguyễn Bặc đã dốc lòng thờ vua giúp nước, đã có cống hiến to lớn trong việc xây dựng một quốc gia độc lập, thống nhất, hùng cường. Ông được vua tin dùng, nhân dân tôn trọng, bá quan tín phục. Khắp nơi không có loạn lạc, đất nước âu ca thái bình thịnh trị. Bằng việc giúp vua xây dựng đất nước, ông đã góp phần tạo tiền đề để đánh thắng quân Tống sau này.

4. Nguyễn Bặc hy sinh vì nghĩa cả, được lịch sử tôn vinh

Trong lúc đất nước đang tiến lên thì vào đêm trung thu năm Kỷ Mão (tức ngày 9 tháng 9 năm 979), vua Đinh cùng con cả Đinh Liễn bị đầu độc chết trong một bữa ăn lòng lợn. Vì thế, họ Đinh có tục không cúng lòng lợn khi giỗ vua Đinh.

Vì sợ Lê Hoàn cướp ngôi, Nguyễn Bặc và Đinh Điền đã khởi binh chống Lê Hoàn, bị Lê Hoàn đánh bại và giết chết.

Có ý kiến cho là việc khởi binh chống Lê Hoàn làm suy yếu lực lượng chống Tống. Dương Thái hậu đưa Lê Hoàn lên ngôi là để có người chỉ huy đánh thắng quân Tống vì Đinh Toàn ở ngôi vua còn quá bé không điều khiển nổi việc nước 

việc quân. Hơn nữct, nhà Đinh đã suy đồi, phải có triều đại tiến bộ hơn thay thế. Chính Lê Văn Hưu đã phê phán Nguyễn Bặc và Đinh Điền. Nhà sử họ Lê đã hết lời ca tụng Lê Hoàn. Ngược lại, nhà sử Ngô Sĩ Liên sau khi ghi công Lê Hoàn chiến thắng quân Tống lại hết lời phê phán Lê Hoàn tư thông với Thái hậu và ca tụng Nguyễn Bặc và Đinh Điền rất trung thành với triều Đinh.

Trong hội thảo khoa học tháng 11 năm 1997 do Trung tâm Khoa học Xã hội và Nhân văn Việt Nam và Uy ban nhân dân tỉnh Ninh Bình tổ chức, rất nhiều bản tham luận đã đánh giá rất khách quan sự kiện này.

Nhiều bản đã nêu rõ Thái hậu Dương thị đã tư thông với Lê Hoàn như sử đã ghi. Tuy Đinh Toàn, mới 6 tuổi, được lên ngôi và về danh nghĩa Nguyễn Bặc, Đinh Điền làm phụ chánh, nhưng Dương thị đã giao mọi quyền hành cho Thập đạo tướng quân Lê Hoàn, người nắm lực lượng vũ trang toàn quốc, nhất là nắm một đạo thân vệ rất lớn. Lê Hoàn tự do ra vào cung cấm và tự xưng là phó vương, "dồn Đinh Toàn sang nhà khác, cấm cố cả nhà họ Đinh, lên làm thống lĩnh có ý đồ thoán đoạt”. Đó là câu sứ nhà Tống sang và báo cáo về nước. Việc Lê Hoàn có âm mưu giành ngôi là đúng sự thật.

Để bảo vệ ngôi báu của nhà Đinh, Nguyễn Bặc và Đinh Điền rút về Ái Châu (Thanh Hóa) và khởi binh ra Hoa Lư chống Lê Hoàn. Vì lực lượng mới nhóm lên, cuộc chiến diễn ra không cân sức, Đinh Điền bị phục kích và chết ở đèo Tam Điệp, Nguyễn Bặc bị chặn đánh trên đường sông, bị bắt rồi bị Lê Hoàn hành hình ở Ngô Khê hạ (Hoa Lư, Ninh Bình), đúng nơi nhiệm sở của ông vào ngày 15 tháng 10 năm Kỷ Mão (979), tròn hai tháng sau khi Đinh Tiên Hoàng bị sát hại, tám tháng trước khi sứ Tống sang ta và phát hiện nước ta có biến nên đưa tin đó báo cáo về nước. Mùa thu, tháng 7 năm Canh Thìn (980), vua Tống mới lập Bộ chỉ huy quân sự để huy động lực lượng xâm lược. Mãi 15 tháng sau khi ông mất, tức mùa xuân năm Tân Tỵ (981), quân Tống mới tiến vào nước ta. Cho nên không thể vu oan cho Nguyễn Bặc và Đinh Điền đã tư thông với nhà Tống như có nhà soạn kịch đã hư cấu. Sử nước ta đã ghi, dưới triều Đinh mọi quan hệ với nước Tống đều do Đinh Liễn đảm nhiệm và đều suôn sẻ, chưa có nguy cơ nhà Tống xâm lược. Cho nên cũng không thể nói việc Nguyễn Bặc, Đinh Điền khởi binh chống Lê Hoàn làm suy yếu lực lượng chống Tống xâm lược khi Tống chưa xâm lược. Cũng không thể nói vì nhà Đinh đã thối nát nên phải thay triều đổi đại. Đinh Tiên Hoàng bị đầu độc chính lúc nước Đại Cồ Việt đang hưng thịnh. Việc Đinh Liễn giết Hạng Lang còn kém xa loạn tam vương sau khi Lý Thái Tổ băng hà, thế nhưng Lý Thái Tông dẹp xong loạn tam vương vẫn đuồ đất nước tiến lên. Đinh Tiên Hoàng không hỏi tội Đinh Liễn. Hai cha con cùng ăn với nhau và cùng bị đầu độc. Có phải vì vua nhổ tuổi nên Dương Thái hậu phải đưa Lê Hoàn lên làm vua mới chống được ngoại xâm như có ý kiến đã ca tụng bà rất sáng suốt không? Đời nhà Lý, Ý Lan Thái hậu cũng con thơ làm vua, cũng quân Tống xâm lược, nhưng Thái hậu trung thành với chồng, quyết giữ ngôi báu cho con, nên đã không có việc thay triều đổi đại, Thái úy Lý Thường Kiệt vẫn chỉ huy đánh thắng quân Tống một cách oanh liệt.

Cho nên, Nguyễn Bặc bảo vệ ngôi báu nhà Đinh, một triều đại có công lớn với nước, chống Lê Hoàn có ý đồ cướp ngôi, là rất mực trung quân, ái quốc.

Lịch sử đã ghi công Lê Hoàn đánh bại quân Tống xâm lược, giữ vững nền độc lập. Đó là một công rất lớn. Lịch sử cũng ghi việc cướp ngôi của Lê Hoàn. Trong lịch sử nước ta, đã xảy ra nhiều cuộc cướp ngôi khác nhau. Đã cướp ngôi, tất phải xây dựng thế lực, phải vận dụng nhiều thủ đoạn, phải có việc giết vua. Không riêng Lê Hoàn mà mỗi lần thay triều đổi đại nói chung đều như vậy. Bài học ờ đây là vua Đinh mất cảnh giác, không phá-t hiện vợ tư thông nhiều năm với Lê Hoàn, người được giao nắm toàn bộ lực lượng vũ trang, có điều kiện để xây dựng thế lực riêng, có kế hoạch từng bước để tiến tới giành ngôi. Việc đó tất nhiên dẫn đến việc giết vua Đinh và con cả của Vua. Người ta nói là Tri hậu nội quan Đỗ Thích nằm mộng thấy sao sa vào miệng sẽ làm vua nên giết vua để được làm vua, thực là kỳ quặc. Truyền thuyết cũng nói, chính mẹ Lê Hoàn khi sinh ông cũng nằm mộng thấy sao sa vào miệng nên Lê Hoàn làm vua. Hiếm có cơn mộng giống nhau đến thế nhưng kết cục lại trái ngược: Đỗ Thích bị giết còn Lê Hoàn thì được làm vua vì đã có Thái hậu khoác áo long cổn lên người ông khi lên ngôi. Đó là các âm mưu cung đình họ này giành ngôi họ khác khó tránh khỏi, thường gặp trong lịch sử. Trần Thủ Độ, Hồ Quý Ly, Mạc Đăng Dung, tuy thủ đoạn cụ thể có khác nhau nhưng đều giết vua. Trong trường hợp giành ngôi của Lê Hoàn, cái đặc biệt đáng chú ý là đã có Đỗ Thích được buộc tội giết vua.

Vì lực lượng quân sự và chính trị chưa mạnh, nên Nguyễn Bặc và Đinh Điền dù rất muốn bảo vệ ngôi báu nhà Đinh cũng bị thất bại. Tuy nhiên tuyệt đối không vì thế mà đánh giá không đúng tấm gương trung liệt của hai vị.

Các ông đã hy sinh vì nghĩa cả và được lịch sử tôn vinh. Tương truyền khi Nguyễn Bặc bị hành hỉnh, dông bão nổi lên dữ dội, trời đất mịt mù, quan quân của Lê Hoàn bỏ chạy. Những người tay chân tâm huyết của Nguyễn Bặc đã nhân cơ hội cướp thi hài ông đưa về quê chôn ờ gò Cá chép trong một quan tài hình thuyền bằng thân cây nguyên đục thành, trên có một phiến gỗ rất dày che kín. Gần đây, tức hàng nghìn năm sau, hậu duệ ông, khi xây lại mộ, có đào ở chân thăm dò thì thấy quan tài và phiến gỗ che còn nguyên. Được tin ông mất, nhân dân nhiều nơi rất thương xót, lập đền thờ ông. Sau khi Lý Thái Tổ lên ngôi, ông đã được phong làm Thượng Đẳng Trung Liệt Phúc Thần. Những nơi ông đã chỉ huy đánh thắng và nơi ông bị hành hình đã được lập đền thờ. ơ quê ông, thôn Vân Bồng, xã Đại Hữu, con ông là Nguyễn Đê, người có công tôn phò Lý Thái Tổ lên ngôi, đã xây dựng từ đường thờ ông và nay qua nhiều đời tu tạo trở thành "Khởi Nguyên Đường", ơ Trường Yên, trước đền thờ vua Đinh, có riêng một đền thờ Nguyễn Bặc. Ớ Phú Cốc (Vụ Bản, Nam Định), có một đền thờ ông rất lớn. Ớ xã Tứ Hiệp (Thanh Trì, Hà Nội) có một cụm 5 đền thờ ông trong đó đình Ba Dân là lớn nhất. Tất cả những nơi thờ vua Đinh đều có phối thờ Nguyễn Bặc và Đinh Điền. Theo thống kê sơ bộ của Sở Văn hóa Hà Nam Ninh trước đây thì trong tỉnh có 134 nơi thờ riêng và phối thờ Nguyễn Bặc. Những đền thờ các bộ tướng nhà Đinh có công dẹp loạn 12 sứ quân, đều ghi tên Đinh Tiên Hoàng và tên Nguyễn Bặc trong thần phả.

Các hoành phi, câu đối ở các đền (đình) thờ ồng đều ca tụng công lao dẹp loạn 12 sứ quân và đặc biệt "trung quán nhật nguyệt", nghĩa là tấm lòng trung thấu đến nhật nguyệt của ông.

Tiêu biểu nhất là đôi câu cỊoi ở đình Ba Dân, xã Tứ Hiệp (Thanh Trì, Hà Nội) như sau:

Duy nhất tâm ái quốc trung quân, chính thống phù Đinh khoi đế Việt

Xướng vạn thế danh thần nghĩa sĩ, uy thanh bình sứ lẫm thiên Nam

Tạm dịch:

Duy một lòng yêu nước trung vua, chính thống phò vua Đinh mở ra đê Việt

Lừng vạn thế danh thần nghĩa sĩ, uy thanh dẹp sứ quân lẫm liệt trời Nam

(Xem Phụ lục 2: Một số câu đối ở các đền thờ Nguyễn Bặc)

Nhà sử Đặng Minh Khiêm thời Lê đã làm thơ ca tụng Nguyễn Bặc như sau:

Quân thù tảo dĩ chỉnh hình chương

Quốc sự ninh dung thuộc phó uương

Phục nghĩa đương lang toàn đại tiết

Thủy chung thệ bất phụ Đinh Hoàng.

Nguyễn Văn Tiến thời Nguyễn đã dịch:

Thù vua sớm dã xong xuôi

Nước nhà đâu dễ thuộc người phó vương

Đương Lang tiết lớn vẹn toàn

Trước sau chẳng phụ Tiên Hoàng thề xưa.

Tháng 11 năm 1997, Trung tâm Khoa học Xã hội và Nhân văn Quốc gia và Uy ban nhân dân tỉnh Ninh Bình đã tổ chức hội thảo khoa học về danh dân Nguyễn Bặc. Cuộc hội thảo đã nhất trí đánh giá Nguyễn Bặc có công lao to lớn trong việc dẹp loạn 12 sứ quân, trong việc xây dựng đất nước Đại Cồ Việt thống nhất, độc lập, hùng cường, đặc biệt ông là một người rất mực trong sáng, trung quân ái quốc, hy sinh vì nghĩa cả để bảo vệ nhà Đinh. Nhà Khởi Nguyên Đường thờ ông và ngôi mộ của ông đã được Chính phủ công nhận là di tích lịch sử văn hóa và được trùng tu. Ngày 8 tháng 5 năm 1999, Hội 'đồng nhân dân thành phố Hồ Chí Minh đã lấy tên Nguyễn Bặc và Đinh Điền đặt cho hai đường phố gần chợ Phạm Văn Hải, quận Tân Bình.

Khởi tổ Nguyễn Bặc đã mở đầu truyền thống rạng rỡ của dòng họ chúng ta.

Không rõ tên phu nhân. Ông sinh hai trai: Nguyễn Đê và Nguyễn Đạt.

Phụ lục 1  NGUYỄN BẶC VÀ VIỆC DẸP LOẠN 12 SỨ QUÂN

Năm 945, Ngô Vương Quyền băng hà. Năm 945, em vợ là Dương Tam Kha cướp ngôi, tự xưng là Dương Bình Vương. Các thổ hào địa phương, sẵn có quân trong tay nổi lên hình thành mười hai sứ quân, tranh nhau làm trưởng. Đất nước hỗn loạn vô chủ. Năm 949, Đinh Bộ Lĩnh khởi nghĩa ở động Hoa Lư để dẹp loạn 12 sứ quân  thống nhất đất nước. Việc dẹp loạn 12 sứ quân diễn ra trong một quá trình dài nhiều năm.

Vì không có ghi rõ trong chính sử, cho nên việc nghiên cứu quá trình này phải dựa vào các thần phả, truyền thuyết, kết hợp việc tìm tòi tính hợp lý của diễn biến lịch sử.

------

(1) Chính sử viết rất sơ sài về việc dẹp loạn 12 sứ quân.

(2) Chưa có tài liệu chính thức nói về quá trình dẹp loạn 12 sứ quân, ơ đây, đã căn cứ vào thần phả, truyền thuyết để ghi lại việc dẹp loạn 12 sứ quân và sự đóng góp của Nguyễn Bặc vào sự nghiệp đó.

(3) Có nhà nghiên cứu cho việc dẹp loạn 12 sứ quân chỉ diễn ra chủ yếu trong hai năm 966-967. Có lẽ cần xem lại ý kiên này đã đúng chưa, bởi vì muốn dẹp một sứ quân phải chuẩn bị nắm địch, chuẩn bị lực lượng ta, làm kế hoạch, chuẩn bị lương thực, cơ động lực lượng rồi thực hành tác chiến, tóm lại mất nhiều thời gian. Nếu chỉ trong hai năm thì làm thế nào diệt nổi 12 sứ quân và làm thế nào nghĩa quân Hoa Lư có thể vừa đánh vừa lớn mạnh và Đinh Bộ Lĩnh có thể trở thành Vạn Thắng Vương.

------

Trước hết cần xem tỉnh hình của các sứ quân. Theo sử cũ, các sứ quân chiếm cứ các vùng sau đây:

1.       Kiều Thuận ở Hồi Hồ (Bắc Phú Thọ)

2.       Kiều Công Hãn ở Bạch Hạc (VĩnhYên)

3.       Nguyễn Khoan ở Tam Đái, Yên Lạc (Vĩrìh Yên)

4.       Ngô Nhật Khánh ở Đường Lâm (vùng Bắc Sơn Tây)

5.       Đỗ Cảnh Thạc ở Đỗ Động Giang (Quốc Oai, Thanh Oai)

6.       Nguyễn Siêu ở Tây Phù Liệt (Thanh Trì, Hà Nội)

7.       Nguyễn Thủ Tiệp ở Tiên Du. (Bắc Ninh)

8.       Phạm Bạch Hổ ờ Đằng Châu (Hải Dương)

9.       Lỹ Khuê ở Siêu Loại (Nam phần Bắc Ninh)

10.     Lã Đường ở Tế Giang (Kim Động, Hưng Yên)

11.     Trần Lãm ở Bố Hải Khẩu (Cửa Bố,-Thái Bình)

12.     Ngô Xương Xí ờ Bình Kiều (miền Tây Thanh Hóa)

Ngoài ra còn có quân của vua Ngô do Lã Xứ Binh, Kiều Trị Hữu và Dương Huy chỉ huy ờ cổ Loa.

Chính sử đã ghi gần đúng khu vực cát trị của các sứ quân. Nhưng đối với Ngô Nhật Khánh và Kiều Công Hãn, khu vực cát trị có khác.

Theo thần tích Long Kiều Đại Vương thì Ngô Nhật Khánh không ở Đường Lâm mà ở Giao Thủy: "Tom Kha sai các tướng Kiều tam chế tức Kiều Công Hãn (tại Bạch Hạc), Đỗ Cảnh Thạc (tại Động Khẩu), Ngô Nhật Khánh (tại Giao Thủy) Phạm Phòng Át (húy là Hổ tại Kim Động) đem quân đi diệt Ngô".

Giao Thủy còn gọi là Giao Châu tức Nam Định ngày nay.

Kiều Công Hãn cũng thay đổi khu vực cát trị. Bài ký Long Kiều đại vương, tức Kiều Công Hãn, ở tổng Bái Dương ghi: "Nay Kiều Công Hãn đang cát trị Hoan Châu lại gặp Đinh Bộ Lĩnh thống nhất (tức tiến công), nên ông phải chạỵ về cửa biển Thái Nha..." (Thái Nha sau đổi thành Đan Nha, tức cửa Hội Thống, cũng tức cửa Sông Lam, Nghệ An).

Như vậy hình thái bố trí của các sứ quân như sau:

- Ở Trung du có Kiều Thuận (Phú Thọ), Nguyễn Khoan (Vĩnh Yên), Nguyễn Thủ Tiệp (Bắc Ninh). Ngoài ra ở cổ Loa (Phúc Yên) còn có quân của vua Ngô.

- Ở Tả ngạn có Lý Khuê (Nam Bắc Ninh), Lã Đường (Hưng Yên), Phạm Bạch Hổ (Hải Dương), Trần Lãm (Thái Bình).

- Ở Hữu ngạn có Đỗ cảnh Thạc (ở Quốc Oai, Thanh Oai), Nguyễn Siêu (Thanh Trì), Ngô Nhật Khánh (Nam Định).

- Ở Tây Thanh Hóa có Ngô Xương Xí (Bình Kiều).

- Ở Nghệ Tĩnh có Kiều Công Hãn (Hoan Châu).

Riêng quân Hoa Lư chiếm cứ châu Đại Hoàng tức vùng Ninh Bình ngày nay.

Ngoài ra có nhiều thổ hào địa phương cũng tự xây dựng lực lượng vũ trang hoặc lập các lò dạy võ có mấy trăm đến mấy nghìn người.

Tình hình các sứ quân mạnh yếu khác nhau, trong đó hai sứ quân Đỗ Cảnh Thạc, Nguyễn Siêu là mạnh nhất nằm chặn ngang đường tiến lên phía Sơn Tây, cổ Loa. Các sứ quân ở Bình Kiều, Hoan Châu yếu, cô lập ở phía Nam. Vì các sứ quân tranh nhau làm trưởng nên không có liên minh ứng cứu cho nhau. Nghĩa quân Hoa Lư khi tiến công cơ động bằng chân, tổ chức vận tải tiếp tế bằng chân, nên không thể muốn đánh đâu trước cũng được mà nhất thiết phải tiện đường cơ động, tiện vận tải tiếp tế mới đánh được.

Năm 949, khi mci phất cờ khởi nghĩa, quân số nghĩa quân mới khoảng 2.000 người, lực lượng còn rất non trẻ. Nguyễn Bặc bàn với Bộ Lĩnh nên nhanh chóng phát triển lực lượng và xây dựng thành Hoa Lư làm chỗ đứng chân. Nhiều người được phân công đi mở rộng thế lực. Riêng ông về thôn Phú Cốc (Vụ Bản, Nam Định) huy động được 3.000 quân, Quân số nghĩa quân nhanh chóng lên hàng vạn, nhân dân địa phương đĩ theo rất đông. Khu vực kiểm soát mở rộng ra cả châu Đại Hoàng (Ninh Bình). Thần phả đình Phú Cốc đã ghi nhận điều đó.

Năm 950, Dương Bình Vương bị đánh đổ. Ngô Xương Văn và Ngô Xương Ngập cùng làm vua. Vì biết nghĩa quân còn yếu, cần có thời gian phát triển, Nguyễn Bặc khuyên vua nên thần phục hai vua Ngô. Một phái đoàn do Trịnh Tú cầm đầu, đem theo Đinh Liễn mới 9-10 tuổi và cống vật đã đến cổ Loa. Nhưng hai vua Ngô thấy thế lực nghĩa quân Hoa Lư uy hiếp nhât sự tồn tại của họ, nên năm 951 quyết định đem quân tiến công Đại Hoàng. Ngoài quân của Cỗ Loa, có thể có thêm quân của Ngô Nhật Khánh ờ Giao Thủy tham gia.

Đinh Bộ Lĩnh đã hăng hái xuất quân nghênh chiến trong thế lấy ít đánh nhiều. Ông bị thương, người cận vệ là Đỗ Thích đã cõng chạy vào thành Hoa Lư. Nguyễn Bặc khuyên Bộ Lĩnh nên đóng cửa thành thử hiểm và lệnh cho dân làm không bích thanh dã. Theo truyền thuyết địa phương, quân cổ Loa nhiều lần tiến công bị đánh lui và bị nhiều thương vong do nghĩa quân dùng nổ bắn, lăn đá và quẳng cây đốt lửa xuống. Cùng kế, vua Ngô cho treo Đinh Liễn lên cây cao để buộc Bộ Lĩnh phải khưất phục. Cũng theo truyền thuyết, Bộ Lĩnh đứng trên thành nói: "Đại trượng phu chỉ mong lập công lớn, nhất thống sơn hà, há lại bắt chước thói nhi nữ xót con sao!” Nói rồi truyền lệnh cho nổ bắn về phía Đinh Liễn. Đương nhiên quân lính không bắn trúng. Lợi dụng đêm tối họ đã ra giải thoát được Đinh Liễn.

Đánh thành hàng tháng không được, lực lượng bị tổn thất nặng, lại bị cạn lương, không lấy được tại chỗ, hai vua Ngô buộc phải rút quân.

Như vậy là các kế sách phát triển lực lượng, xây thành Hoa Lư làm chỗ đứng chân, đóng thành thủ hiểm do Nguyễn Bặc đề xuất rất phù hợp với tình hình thực tế lúc bấy giờ.

Sau khi đánh bại cuộc tiến công của cổ Loa, thanh thế của nghĩa quân lừng lẫy. Các thủ lĩnh Hoa Lư bàn phải nhanh chóng chấn chỉnh lực lượng, phát triển quân số và mở rộng phạm vi đồng thời sẵn sàng đánh bại các cuộc tiến công mới của nhà Ngô.

Biết Trần Lãm là một sứ quân đã nhiều tuổi, có đức độ, không con, các tướng bàn với Bộ Lĩnh sang xin làm con nuôi.

Thấy Bộ Lĩnh dũng mãnh, khôi ngô, Trần Lãm chấp thuận và giao cho ông quyền quản lý đất đai và chỉ huy lực lượng vũ trang của mình. Phải nối liền châu Đại Hoàng và Bố Hải Khẩu bởi vì giữa hai khu đó còn có đất Giao Thủy do Ngô Nhật Khánh cát trị. "Nhật Khánh là cháu của Ngô Quyền, trước xưng là An vương" là một tướng trẻ chưa đầy 20 tuổi, có lực lượng vũ trang không mạnh, lại không có thành lũy vũhg chắc. Đinh Bộ Lĩnh giao cho Nguyễn Bặc đem quân tiến công sứ quân họ Ngô này.

Nguyễn Bặc dùng cách hư trương thanh thế, bao vây bức hàng. Vì yếu thế, Nhật Khánh buộc phải đầu hàng. Toàn thư chép: "Đinh Bộ Lĩnh dẹp yên, lấy mẹ Ngô Nhật Khánh là Dương thị làm hoàng hậu , cưới em gái Khánh làm vợ Nam Việt Vương Đinh Liễn, còn lo sinh biến, lại đem công chúa gả cho Nhật Khánh".

Năm 965, Nam Tấn Vương Xương Văn lại tiến công quân Hoa Lư ở Dương Xá và Nguyễn Xá (Phủ Cừ, Thái Bình) thuộc phạm vi Bố Hải Khẩu (vốn đất của sứ quân Trần Lãm giao cho Đinh Bộ Lĩnh). Có thể vua Ngô huy động cả lực lượng Phạm Bạch Hổ ở Đằng Châu (Kim Động) vượt sông Luộc tiến công xuống. Xương Văn trúng tên thuốc độc chết. Triều đình cổ Loa vô chủ tan rã. Đỗ cảnh Thạc, Lữ Xứ Binh, Kiều Trị Hữu, Dương Huy tranh nhau làm vua.

Đây là thời cơ có lợi để nghĩa quân Hoa Lư chuyển sang tiến công chiến lược tiêu diệt lần lượt các sứ quân.

Như vậy là sau khi đánh bại cuộc tiến công đầu tiên của vua Ngô cuối năm 951, nghĩa quân Hoa Lư đã lần lượt mở rộng phạm vi sang Bố Hải Khẩu, hàng phục Ngô Nhật Khánh ở Giao Thủy và đánh bại một số cuộc tiến công của triều đình cổ Loa, đã kiểm soát được một vùng khá rộng ờ nam đồng bằng Bắc Bộ gồm 3 tỉnh Ninh Bình, Nam Định, Thái Bình ngày nay. Nghĩa quân hạ quyết tâm nắm thời cơ khi chính quyền vua Ngô tan rã, các sứ quân tranh nhau làm vua để tiến công các sứ quân. Đó là một quyết tâm chiến lược đúng đắn. Nhưng nên tiến công vào đâu trước? Theo truyền thuyết, Nguyễn Bặc bàn kế với Bộ Lĩnh nên "bẻ đũa từnq chiếc, tránh mạnh đánh yếu trước”. Đỗ Cảnh Thạc, Nguyễn Siêu là hai sứ quân mạnh chặn đường lên phía Bắc. Phạm Bạch Hổ, Lý Khuê, Lã Đường là ba sứ quân ở Bắc sông Luộc, tuy yếu hơn nhưng quân đông. Chỉ ở phía Nam, Ngô Xương Xí ở Bình Kiều (Tây Thanh Hóa) là yếu. Cho nên, đánh Ngô Xương Xí trước, đồng thời có chuẩn bị đánh địch tiến công từ phía Bắc xuống.

Ngô Xương Xí ở Bình Kiều là một sứ quân trẻ, con trai của Ngô Xương Ngập đã chết. Ông gọi Dương Tam Kha bằng ông cậu. Tuy Dương Tam Kha bị hạ bệ, được phong làm Chương Dương Công, nhưng vẫn có uy thế lớn ở đất Ái Châu vì ông là con trai Dương Đình Nghệ, một vị tiết độ sứ có công lớn với nước. Muốn giành lấy đất Ái Châu, muốn đánh bại Ngô Xương Xí, tất phải tranh thủ Dương Tam Kha. Đinh Bộ Lĩnh đã gặp Dương Tam Kha và xin lấy con gái ông là Dương Thị Vân  lầm hoàng hậu lúc Dương thị mới 18-19 tuổi, còn Bộ Lĩnh đã 35-36 tuổi.

Biết Ngô Xương Xí yếu, cô lập, Nguyễn Bặc bàn với Bộ Lĩnh dùng kế hư trương thanh thế rầm rộ, tổ chức khao quân thật lớn, hình thành thế bao vây dụ hàng. Ngô Xương Xí khiếp sợ xin hàng phục.

Sau khi lấy được Ái Châu, Đinh Bộ Lĩnh giao cho Nguyễn Bặc vào đánh Kiều Công Hãn thu phục Hoan Châu và giao cho Đinh Liễn tổ chức việc cai trị Ải Châu. Đinh Liễn đã thu nạp Lê Hoàn và ba nghìn quân của ông.

------

(1) Vì làm vợ vua nên được đệm chữ Ngọc: Dương Ngọc Vân. Nhà viết kịch Trúc Đường đã đổi thành Dương Vân Nga. Như vậy là Đinh Bộ Lĩnh có hai bà vợ họ Dương. Không nên nhầm bà họ Dương mẹ của Ngô Nhật Khánh đã nhiều tuổi với Dương Ngọc Vân.

(2) Lê Hoàn sinh năm 940, lúc ông được thu nạp vào nghĩa quân Hoa Lư cũng vào khoảng 20-21 tuổi. Cho nên việc tiến công Ngô Xương Xí có thể diễn ra năm 960-961.

------

Về việc Nguyễn Bặc tiến công vào Hoan Châu, bài kỹ Long Kiều Vương ở Tổng Bái Dương ghi như sau:

"Nay Kiều Công Hãn đang cát trị Hoan Châu gặp Đinh Bộ Lĩnh thống nhất, nên ồng phải chạy về cửa biển Thái Nha (Hội Thống) bị quân Nguyễn Bặc truy kích, phải chạy ra Bắc định liên ìạc với Ngô Nhật Khánh ở Giao Thủy, biêt Ngô Nhật Khánh dã đầu hàng quân Đinh lại bị nghĩa quân địa phương của tướng Nguyễn Tấn đánh nên nhảy xuống Lủng Kiều  tự uẫn. Bởi uậy mà thi thể tướng quân đã trôi dạt lưu tích ở địa phương này và trở thành vị linh thần nghìn năm được dân thờ phụng".

Như vậy lầ Nguyễn Bặc đã đưci quân vào Hoan Châu, đánh thẳng vào sứ quân Kiều Công Hãn. Quân Kiều Công Hãn bỏ chạy ra Nam Định, Nguyễn Bặc truy kích đánh tan Kiều Công Hãn phải tự vẫn. Nguyễn Bặc tổ chức khao quân. Vì không có bát đĩa phải ăn bằng lá. Nay có thôn An Lá là do tên ăn lá mà ra.

Chính trong đợt này, Nguyễn Bồ, Nguyễn Phục và Cao Sơn, quê ở Hồng Lĩnh (Hoan Châu) đã xây dựng lực lượng vũ trang cùng nghĩa quân Hoa Lư tiến công Kiều Công Hãn và lập được công. Cả ba người đều đem quân bản bộ theo Nguyễn Bặc ra Hoa Lư. Đinh Bộ Lĩnh đã gả công chúa Quế Hương cho Nguyễn Bồ, công chúa Quế Hoa cho Nguyễn Phục, công chúa Huệ Minh cho Cao Sơn.

Giải phóng xong Ái Châu, Hoan Châu, phạm vi kiểm soát của nghĩa quân Hoa Lư trở nên rộng lớn, tiếng tăm của nghĩa quân lừng lẫy. Đinh Bộ Lĩnh được suy tôn làm Vạn Thắng Vương. Nguyễn Bặc được phong làm đại tướng chỉ huy mười đạo quân (Thập đạo tướng quân đầu tiên). Lực lượng vũ trang lên đến mấy vạn.

Giải phóng xong phía Nam, Bộ Thống soái Hoa Lư quyết đinh vượt sông Luộc đánh Phạm Bạch Hổ ở Đằng Châu, Lã Đường ở Tế Giang, Lý Khuê ở Siêu Loại trước vì các sứ quân này yếu hơn Đỗ cảnh Thạc và Nguyễn Siêu ở hữu ngạn.

Nguyễn Bặc được giao nhiệm vụ chỉ huy đánh Phạm Bach Hổ ờ Đằng Châu. Bạch Hổ giữ chức Phòng Át tức chức chỉ huy quân sự địa phương nên thường được gọi Phạm Phòng Át. Sau khi vượt sông Luộc, nghĩa quân Hoa Lư tiến lên đánh Phạm Bạch Hổ. Trước sức mạnh của nghĩa quân, Phạm Bạch Hổ bổ Đằng Châu rút quân lên núi Côn Sơn huyện Phượng Nhãn, trụ lại trong rừng. Lợi dụng cách đốt than nhả nhiều khói của khu vực này, Nguyễn Bặc đã cho bao vây rồi hun khói mù mịt, kết hợp gọi hàng buộc Bạch Hổ phải quy phục. Vì thế núi Côn Sơn còn được gọi là Núi Hun. Hiện nay ờ Côn Sơn còn lưu truyền câu chuyện Nguyễn Bặc hun khói gọi hàng Phạm Phòng Át. Vạn Thắng Vương đã bổ nhiệm Bạch Hổ làm Thân vệ tướng quân.

------

(1) Nay là sông Đào, Nam Định.

------

Đinh Liễn và Đinh Điền được giao nhiệm vụ đánh Lã Đường ở Tế Giang. Lã Đường rút chạy về Siêu Loại cụm lại cùng Lý Khuê cũng bị quân Hoa Lư tiêu diệt.

Như vậy ờ Trung du chỉ còn lại sứ quân Nguyễn Thủ Tiệp ở Tiên Du, các đội quân ở cổ Loa, sứ quân Nguyễn Khoan ở Tam Đái, sứ quân Kiều Thuận ở Hồi Hồ. ơ hữu ngạn còn hai sứ quân mạnh nhất là Nguyễn Siêu ở Thanh Trì và Đỗ cảnh Thạc ở Đỗ Động Giang.

Bộ Thống soái Hoa Lư quyết định cánh quân Đinh Liễn, Đinh Điền trên đà thắng lợi tiếp tục đánh các sứ quân ở Trung du. Còn chủ lực do Nguyễn Bặc nắm rút sang Hữu Ngạn chuẩn bị tiến công tiêu diệt sứ quân Nguyễn Siêu trước và cuối cùng mới tập trung toàn bộ lực lượng đánh Đỗ cảnh Thạc.

Cho đến giĩto năm 967, địch ờ Tiên Du, cổ Loa, Bạch Hạc, Hồi Hồ lần lượt bị đánh tan. Nguyễn Thủ Tiệp đem một số bộ phận chạy bằng thuyền đến Lạch Cờn (Quỳnh Lưu, Nghệ An) rồi bị giết. Kiều Thuận ở Hồi Hồ chống không nổi chạy về Trù Mật (Sơn Vi, Phong Châu) cũng bị giết. Quân cổ Loa và sứ quân Nguyễn Khoan nhanh chóng bị đánh tao- Đồng thời với cuộc tiến công ở Trung du, quân Hoa Lư chuyển sang đánh Nguyễn Siêu.

Dựa vào thần phả, thần tích, thần ký các đình thờ ở khu vực Thanh Trì, có thể ghi trận đánh sứ quân Nguyễn Siêu ở Tây Phù Liệt kỹ hơn.

Nguyễn Siêu cùng hai anh Nguyễn Khoan, Nguyễn Thủ Tiệp là con của Lã Nê. Lã Nê từ Phúc Kiến đem theo 8 vạn quân và dân vào đất Thanh Quả nước ta, lấy vợ Việt là Nguyễn Ngọc Giá, nên các con đều lấy họ Nguyễn của mẹ. Lã Nê thần phục Dương Đình Nghệ. Sau khi Nê mất, các con thần phục Ngô Quyền. Khi Ngô vương băng, Tam Kha đoạt ngôi, ba anh em mỗi người hùng cứ một nơi trở thành ba sứ quân: Nguyễn Khoan tự xứng là Đại tướng quân chiếm cứ vùng Yên Lạc, Bạch Hạc. Nguyễn Thủ Tiệp tự xứng là Trung tướng quân, chiêm cứ vùng Tiên Du, Nguyễn Siêu tự xưng là Thứ tướng quân chiếm cứ vùng Tây Phù Liệt.

Tuy thê, Siêu là sứ quân hùng mạnh bậc nhất. Thấy Đinh Bộ Lĩnh khởi nghĩa để thống nhất đất nước, Nguyễn Siêu, theo lời khuyên của Đỗ Khả Vi, cũng tự xưng là thống lĩnh tướng quân phát triển lực lượng, luyện tập binh mã, xây thành đắp lũy định tranh hùng với Bộ Lĩnh để thâu tóm thiên hạ về tay mình. Lũy xây từ sông Đại Hà An Việt qua bến sông Phúc Am chỉ một đêm đã hình thành.

Đinh Bộ Lĩnh chọn trong số 47 tướng nanh vuốt của mình 4 tướng giỏi là Nguyễn Bồ, Nguyễn Phục, Cao Sơn (tức ba tướng theo Nguyễn Bặc từ Hoan Châu ra) và Đinh' Thiết giao cho chỉ huy trận đánh này.

Từ cuối năm Bính Dần (966), tổng quân số Hoa Lư lên đến 7 vạn người, một nghìn voi ngựa. Chủ lực kéo đến Đội Lĩnh Sơn (núi Đọi, huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam) và đặt bản doanh à đấy. Tháng sáu năm Đinh Mão (967), 4 tướhg đã dàn quân ở đất Ngọc Hồi, Bình Vọng, gươm giáo ngút trời, cờ xí rỢp đất, dựa vào thế bờ cao để vây chặt quân của Nguyễn Siêu, uy hiếp buộc sứ quân này phải đầu hàng như cách đánh một số trận trước.

Để chống lại quân Hoa Lư, Nguyễn Siêu tự thân đốc chiến, sai 4 tướng Nguyễn Hương Khả, Trần cổn, Đỗ Cơ, Phạm Du mở cửa lũy, phá vòng vây đánh nhau mấy chục hiệp rất quyết liệt.

Quân Hoa Lư từ xa tiến đến dàn mỏng để bao vây, không có lực lượng dự bị, không có viện binh nên bị tan vỡ phải rút. Đên Điền Kiều, thuộc xã cổ Điển (xã Tứ Hiệp), Nguyễn Bồ, Nguyễn Phục thu thập tàn quân, động viên binh sĩ quyết chiến đế chặn địch, khôi phục lại tình thế. Quân lính tuân lệnh dạ ran. Vì thế Điền Kiều sau này được gọi là "Cầu Dạ". Tuy quân Hoa Lư chiến đấu anh dũng nhưng thế không cản nổi. Nguyễn Bồ tuẫn tiết ở Điền Kiều. Nguyễn Phục hy sinh ở Văn Điển, Cao Sơn ờ Tương Trúc, Đinh Thiết ở Phúc Am. Mấy phu nhân được tin chồng hy sinh đã nhịn ăn chết theo chồng. Sau, 4 tướng và vợ đã được thờ làm phúc thần ờ khu vực này.

Vạn Thắng Vương cử đại tướng Nguyễn Bặc làm tiên phong chỉ huy một vạn quân ra đảnh Tây Phù Liệt lần thứ hai để quyết tiêu diệt cho được Nguyễn Siêu, Lê Hoàn nắm 8.000 quân làm dự bị ở phía sau.

Nguyễn Bặc tiến quân đến cẩm Cơ và định kế hoạch đêm 15 tháng 7 năm Đinh Mão (967) cho mấy chục chiến sĩ do Nguyễn Đoàn cầm đầu bí mật luồn sâu vào khu đóng quân của địch, còn chủ lực chờ sẵn ở ngoài, hẹn khi có pháo lệnh nổ thì trong đốt trại giặc, ngoài tiến công mãnh liệt vào, trong ngoài cùng đánh để tiêu diệt địch.

Theo lời bàn của Đỗ Khả Vi, Nguyễn Siêu chia quân làm hai bộ phận: một ở lại giữ bản doanh, một do Nguyễn Siêu cầm đầu vượt sông đến Tiên Du cứu viện cho anh là Nguyễn Thủ Tiệp. Y chưa biết Thủ Tiệp cũng đang bị Đinh Liễn tiến công.

Đúng vào đêm 15 tháng 7 năm Đinh Mão (967), Khi Nguyễn Siêu vượt sông, nước lũ dâng cao, dông bão nổi lên, mây đen ngùn ngụt kéo về, sóng nước cuồn cuộn, giữa sông như đang có trận giao chiến lớn. Đoàn thuyền chở quân bị đắm, bao nhiêu khí giới, quân lính trong đó có cả Nguyễn Siêu bị chìm, bị chết đuối.

Phút chốc sóng yên, gió lặng, trăng sáng, trời trong. Dân cho là 4 tướng Nguyễn Bồ, Nguyễn Phục, Đinh Thiết, Cao Sơn đã hiển thánh nổi gió bão, lũ lụt đánh đắm thuyền Nguyễn Siêu.

Cũng trong đêm 15 tháng 7, khi trời tạnh, Nguyễn Bặc ra lệnh cho nổ pháo làm hiệu. Các chiến sĩ luồn sâu đã thừa cơ đốt trại giặc, lửa khói ngất trời, đồng thời nghĩa quân từ ngoài mãnh liệt đánh vào. Quân địch hoảng loạn bị giết và bị bắt gần hết, chỉ một bộ phận vợ con Nguyễn Siêu chạy thoát.

Với mưu hay kế giỏi, Nguyễn Bặc đã chỉ huy đánh thắng trận Tây Phù Liệt.

Sau khi cánh quân Đinh Liễn, Đinh Điền tiêu diệt các sứ quân ở Trung du, chỉ còn lại một sứ quân cuối cùng mạnh nhất Đỗ Cảnh Thạc ờ Đỗ Động Giang. Thần tích "Độc nhĩ đại vương" (Đỗ Cảnh Thạc) cũng ghi đây là sứ quân cuối cùng chưa bị diệt.

Đỗ Cảnh Thạc vốn người Quảng Lăng, Trung Quốc đưa một lực lượng vũ trang mạnh sang rồi thần phục Ngô Vương Quyền. Khi Ngô vương mất, Tam Kha cướp ngôi, cảnh Thạc hùng cứ vùng Quốc Oai, Thanh Oai lập trại Quyền, xây thành Cổ Hiền khá vững chắc, ông khống chế 72 ấp trong vùng. Năm 950, vâng lệnh Dương Bình Vương, ông cùng một số sứ quân khác đem quân đi bắt vua Ngô, dọc đường các sứ quân đã phản mệnh, đưa vua Ngô về hạ bệ Tam Kha, rồi chiếm cứ xiửig hùng trong vùng kiểm soát của mình. Khi Nam Tấn Vương bị trúng tên thuốc độc chết, ông đã cùng một số sứ quân khác tranh nhau làm vua.

Để đánh Đỗ cảnh Thạc, Vạn Thắng Vương bàn với các tướng: "Đỗ Cảnh Thạc trí dũng mưu lược, chỉ có thê thắng bằng kế, chứ không thể thắng bằng lực".

Nguyễn Bặc hiến kế như sau: "Cảnh Thạc có thành cao hào sâu, ta đem quân đánh thành ắt tốn nhiều xương máu. Chi bảng cho một bộ phận hư trương thanh thế đánh vào Bảo Đà Ở phía dông, điệu hổ ly sơn kéo chủ lực của họ Đỗ ra đâỵ. Còn chủ ìực ta thì từ bốn cánh: một từ Mỹ Lương (tức Mỹ Đức) ra, hai từ Yên Lạc, Tam Đới (Vĩnh Phúc) sang, ba từ Chương Đức (tức Chương Mỹ) lên, bốn từ Bát Bạt Quảng Oai xuống , bốn mặt bí mật bất ngờ tập kích vào thành cổ Hiền thì có thể thắng".

Kế hoạch đó được thực hiện. Theo thần phả đình thờ Bạch Tượng một tướng huy động được khoảng 500 quân (ở đông bắc Vân Đình, ứng Hòa, Hà Tây khoảng 3 cây số) tham gia trận đánh này, thì Đinh Bộ Lĩnh và Nguyễn Bặc đã tiến quân qua đây để đánh Đỗ cảnh Thạc.

------

(1) Cánh quân Đinh Liễn, Đinh Điền phải tiêu diệt trước các sứ quân ở Trung du, mới có hai cánh từ Yên Lạc Tam Đới sang và từ Bát Bạt Quảng Oai xuống và trước đó phải giải phóng Hưng Yên, Hải Dương mới tiến lên Trung du được.

------

Thần tích "Độc Nhĩ đại vương" (Đỗ cảnh Thạc) có ghi quân Hoa Lư 4 mặt cùng đánh. Lúc bấy giờ cảnh Thạc dồn quân vào đồn Bảo Đà, ở cổ Hiền chỉ có một tướng giữ thành. Vì thế mà đầu đuôi không ứng cứư được nhau. Tất cả cung điện thành lũy đồn trại, lương thực, thuyền chiến, khí giới đều bị nghĩa quân tước đoạt hết hoặc phá phách tan tành rồi rút.

Đỗ Cảnh Thạc tập họp tàn quân và gia thần dân phu của 72 ấp, củng cố lại đồn lũy ở Trại Quyền để giao tranh với Đinh Bộ Lĩnh. Vạn Thắng Vương bàn với các tướng cách đánh. Nguyễn Bặc hiến kế nên vây hãm dài ngày để bức hàng. Đỗ Cảnh Thạc cầm cựđược hơn một năm. Quân Hoa Lư dùng nỏ bắn liên tiếp nhiều ngày.

Cuối cùng cảnh Thạc trúng tên, bị thương nặng, chọn 10 tay chèo thuyền giỏi chở về Trung Quốc, nhưng đến núi Đồng Lĩnh (Lạng Giang) thì mất. Hiện ờ đấy có đền thờ.

Sứ quân cuối cùng mạnh nhất bị tiêu diệt. Việc dẹp loạn 12 sứ quân kết thúc với thắng lợi to lớn, toàn vẹn. Cuối năm Mậu Thìn (968), Đinh Bộ Lĩnh lên ngôi Hoàng đế.

Trong quá trình dẹp loạn 12 sứ quân, Nguyễn'Bặc luôn là vị tướng số một của Đinh Bộ Lĩnh. Ông đã hiến nhiều mưu kế tài giỏi, hoặc trực tiếp chỉ huy đánh thắng nhiều trận, phò tá đắc lực cho vua Đinh chiến thắng hoàn toàn.

 

Phụ lục 2  MỘT SỐ ĐÔI CÂU ĐÔÌ Ở CÁC NHÀ THỜ, ĐỀN MIÊU 

Sau đây xin ghi một số đôi câu đối ở một số đình, miếu, nhà thờ ca tụng Nguyễn Bặc.

Ở nhà thờ Khởi Nguyên Đường (Đại Hưu)

Đôi thứ nhất:

Cồ Việt thiên khai, chủ hữu anh hùng thần tráng liệt Đọi Hoàng địa tú, gia ui khởi tổ quốc nguyên huân Tạm dịch:

Cổ Việt trời khai, chúa đã anh hùng tôi trong liệt Đại Hoàng đất đẹp, nhà làm khởi tổ nước nguyên huân

Đôi thứ hai:

Hoa Lư kết nghĩa anh hùng chủ Đại Hữu ân khâm tướng quốc công Tạm dịch:

Chúa anh hùng Hoa Lư kết nghĩa Tướng quốc công Đại Hữu chịu ơn

Đôi thứ ba:

Duệ xuất Gia Miêu uương tính hiển Khánh ìưu Đại Hữu tướng môn quang Tạm dịch:

Cửa tướng sáng ngời thôn Đại Hữu Dòng uương hiển hách đất Gia Miêu

Đôi thứ tư:

Thiên thu ẩn hiện sơn hà cựu Ưc tải lưu truyền cảnh sắc tân

Tạm dịch:

Nghìn thủa non sông còn ẩn hiện Muôn đời cảnh sắc mới ¡ưu truyền

2. Ở đình Ngô Khê ha (Hoa Lư, Ninh Bình)

Đôi thứ năm:

Bất tử tinh trung như nhật nguyệt Như sinh khí phách tráng sơn hà Tạm dịch:

Lòng trung chẳng mất như nhật nguyệt Khí phách vẫn còn với sơn hà

Đôi thứ sáu:

Trung tuấn Long Giang bình Sứ Bắc Danh tiêu Mã Lĩnh quán Cồ Nam Tạm dịch:

Trung sáng Long Giang bình Sứ Bắc Danh lừng Mã Lĩnh rạng Cồ Nam

3. Ở đền Phủ Đô (Ninh Xuân, Hoa Lư, Ninh Bình)

Đôi thứ bảy:

Nhất phiến trung can huyền nhật nguyệt Thiên thu chính khí tác sơn hà Tạm dịch:

Một mảnh gan trung treo nhật nguụệt Ngàn năm chính khí rọi sơn hà

4. Ở đền Khê Đầu

Đôi thứ tám:

Trận vong Nguyễn Tướng tiêu thần tiết Chiến thắng Lê quân dục đoạn hồn Tạm dịch:

Tướng Nguỵễn trận vong ngời thần tiết Quân Lê chiến thắng sợ đứt hồn

5. Ở miếu hang tôi

Đôi thứ chín:

Nhân canh bất thụ tân vương vị Thê biến nan uong cô quốc tình Tạm dịch:

Người con chẳng chịu vị uua mới Thế đổi không quên tình nước xưa

6. Ở Ngô Khê

Đôi thứ mười:

Đức mãn càn khôn, Lư động văn khai, truyền hiển tích Trung quán nhật nguyệt, Nam Sơn nghĩa tụ thụ tiền trinh

Tạm dịch:

Đức dậy đất trời, mây tỏa động Lau, truyền hiển tích Trung trùm nhật nguyệt, nghĩa tụ trời Nam dựng cột dầu

7. Ở đình Phú Côc (Vu Bản, Nam Đinh)

Đôi thứ mười một:

Nhất thống sơn hà, thần vận trung hưng, tiêu Việt địơ ức niên vũ trụ, hùng uy thượng đẩng chấn nơm thiên Tạm dịch:

Thống nhất non sông, thần vận trung hưng ngời đất Việt Muôn năm uủ trụ, oai hùng thượng đẳng động trời Nam

Đôi thứ mười hai:

Quái thụ khải vô tình, nộ mục Lê đình trung quán nhật Chinh Hoàn phi vị kỷ,- thống tai Đinh xã, tiết lăng sương Tạm dịch:

Treo ấn há vô tình, mắt giận nhìn họ Lê, lòng trung thấu nhật nguyệt

Đánh Hoàn nào uị kỷ, lòng đau ƯÌ triều Đinh, khí tiết đặc trời sương

8. Ở đình Ba Dân (Tứ Hiêp, Thanh Trí, Hà Nôi)

Đôi thứ mười ba:

Húc vương huân liệt Chu cơ tể Hộ quốc trình trung Tống Nhạc Phi.

Tạm dịch:

Thờ vuo huân liệt như tể tướng họ Chu (Chu Công Đán)

Giúp nước lòng trung giống Nhạc Phi đời Tống

Đôi thứ mười bốn:

Duy nhất tâm ái quốc trung quân, chính thông phù Đinh khai đế Việt

Xương vạn thê danh thẩn nghĩa sĩ, uỵ thanh bình sứ lẫm thiên Nom

Tạm dịch:

Duy một lòng yêu nước trung uua, chính thống phò vua Đinh mở ra đế Việt

Lừng uọn thế danh thần nghĩa sĩ, uy thanh dẹp sứ quân lẫm hệt trời Nam

 

Phụ lục 3  BÀI TỤNG CA NGỢI ĐỨC KHỞI Tồ ĐỊNH Quốc CÔNG

Kính nghe:

Công đức dựng xâỵ một thuở Tiếng thơm ỉưu lại nghìn thu

Nhớ đức khởi tổ xưa!

Nguồn gốc từ Ngoại Ai Châu

Sinh ra tại thôn Đại Hữu

Văn chương tìm thầỵ học đạo

Vô nghệ đua bạn luyện rèn

Rủ Trinh Tú, Lưu Cơ cùng tuổi thiêu niên

Chọn Bộ Lĩnh, Đinh Điền kết giao tri kỷ

Mưu phục hổ, hàng long dã nấu nung dong khi uận bĩ

Chí định quốc, an dân từng ôm ấp từ thuở cờ lau

Nhìn nhân dân /y tán lòng đau

Thấỵ đất nước cắt chia ruột đứt

Ngàỵ sáu khắc quên ăn thường băn khoăn daỵ dứt

Đêm năm canh biếng ngủ những trăn trở âu ìo

Gương Lý Bôn xưa, đuổi giặc giành lại cơ đồ

Chuyện Ngô Quyển trước diệt thù xây nền tự chủ

Nay mười hai sứ quân đang chia rthau cát cứ

Với hàng chục ¡ủy.thành mưu tranh bá đồ uương

Khởi nghĩa động Hoa Lư để thống nhất giang san

Suy tôn Đinh Bộ Lĩnh đứng lên làm minh chủ

Tuy lực lượng buổi đầu còn nhỏ

Nhưng uỵ thanh liên tiếp dâng cao

Hai vua Ngô toan tính dẹp mau

Một trận đánh rắp tâm thực hiện

Để chiến thắng Khởi tổ bày mưu đóng cửa thành thủ hiểm

Vì cạn lương, Ngô vương lâm thế bị thất trận lui quân

Chỉ một châu Đại Hoàng hẹp đất ít lương ăn

Cẩn nhiều uùng căn cứ thêm dân tăng của cỏi

Biết Trần Lãm Ở miền Bố Hải

Có đức hiền một cõi xưa nay

Cùng anh em bàn bạc đêm ngày

Tìm Trần Công tôn làm nghĩa phụ

Nhờ hợp nhất có quân hùng ỉươrtg đủ

Mở tiến công như trúc chẻ ngói tan

Đánh một trận, Ngài thu phục Ngô Nhật Khánh đất Thành Nam

Đánh trận sau, Ngài dụ hàng uùng Bình Kiều Ngô Xương Xí

Lo bẻ đũa từng chiếc, cùng Vạn Thắng Vương, Ngài dâng diệu kế

Diệt yếu trước mạnh sau, làm Thập đạo tướng Ngài lập kỷ mưu

Truy diệt Kiều Công Hãn Ngài giải phóng đất Hoan Châu

Khói hun núi Côn Sơn Ngài bức hàng Phạm Phòng Át

Quân Đinh Liễn, Đinh Điền lừa tiến công theo hướng khác

Bọn Lỷ Khuê Lã Đường phải tan tác hoặc đầu hàng

Buộc Thủ Tiệp bỏ Tiên Du công chiếm cổ Loa đất Ngổ Vương

Quét Kiều Thuận khỏi Trù Mậí mưu đuổi Nguụễn Khoan nơi Yên Lạc

Nội công ngoại kích Khởi tổ phá tan Nguyễn Siêu Tây Phù Liệt

Điệu hổ /y sơn Khởi tổ uây diệt cảnh Thạc Đỗ Động Giang

Nghĩa quân Hoa Lư toàn thắng Ưẻ vang

Tổ quốc thân yêu quy ưề một mối

Trơi đất thoát vòng mờ tối

Non sông đón ánh dương quang

Tôn vua Đinh xưng Đế hiệu Đại Thắng Minh Hoàng

Lập Cồ Việt sánh ngang hàng Tống Triều Khai Bảo

Công lao ì ớn đứng trên hàng nguyên lão

Trí tuệ cao xếp trước bậc anh hùng

Giữ chức quan Thái Tể Ngài cứu thế độ dân

Mang tước Đinh Quốc Công Ngài phò uua giúp nước

Hiến kế cầu phong dề phòng quân xâm lược

Dùng mưu đức trị thu phục lủ gian tà

Giận ¡ủ kia nuôi chước quỷ mưu ma

Biên Đỗ Thích thành sát nhân thí chủ

Nghiệp lớn dựng lên trải bao tháng năm đấu tranh mới có

Ngôi cao giành được há một sớm chiều chịu để tiêu vong

Cùng Điền Cơ và Tú Hạp lo dế nghiệp cáo chung

Rước âu chúa uề Ái Châu giữ Đinh triều toàn vẹn

Bởi Thái hậu cùng kẻ kia đã thề non hẹn biển

Dùng cấm quăn cướp uua trẻ hòng giành vị đoạt quyền

Một trận thư hùng quyết định sống còn

Phút giây thất thế sa cơ bị bắt

Vạch tội đối phương rõ ràng rành mạch

Nêu gương lão tướng lẫm hệt đàng hoàng

Dù lâm nguy vẫn khí phách hiên ngang

Bị sát hại nhưng thanh danh bất tủ

Naỵ hậu duệ đời đời noi theo gương củ

Luôn hiếu trung mãi mãi tô thắm lòng son

Củng giữ uững bền cơ nghiệp tổ tông

Góp ỉàm giàu mạnh nhân dân đất nước

Cúi xin uong linh Ngài chứng giám cho lời nguỵện ước

Dẫn dắt con cháu Ngài không ngừng thẳng bước tiến lên.

HOÀI VIỆT - THỂ NGUYÊN Đồng phụng soạn

 

Chương Hai  CÁC VỊ TỔ HỌ NGUYỄN DƯỚI TRIỀU LÝ 

SỰ HÌNH THÀNH HAI ĐẠI HỆ

Sau khi Nguyễn Bặc bị hại, các con ông chạy về đâu? Phả

Ở nhà thờ Đại Hữu có đôi câu đối:

Duệ xuất Gia Miêu vương tích hiển Khánh lưu Đại Hữu tướng môn quang tạm dịch:

Cửa tướng sáng ngời thôn Đại Hữu Dòng vương hiển hách đất Gia Miêu

Đúng là hậu duệ cửa Nguyễn Biện ở Gia Miêu đã dựhg nên nghiệp vua chúa.

Như vậy, có nhiều khả năng không phải Gia Miêu đã là quê hương thứ hai của dòng họ Nguyễn Bặc ngay sau khi ông bị hại.

Sách Bắc Ninh chí viết: Khi Nguyễn Bặc bị sát hại, đất Bắc Giang (tức Bắc sông Hồng, nay là Bắc Ninh) hiếu khách đã đón nhận hai người con trai của ông lánh nạn.

Chi họ Nguyễn ờ Đại Từ (nay là Đại Kim, Hà Nội) ghi: sau khi Nguyễn Bặc bị sát hại, hai con nhổ lánh nạn lên Bắc Giang hạ (nay là Bắc Ninh). Sau hình thành nhiều chi rải ra ở Đông Ngàn, Yên Phong, Quế Dương, Vũ Giàng, Gia Lâm, Gia Bình, Lương Tài, Đông Triều, Chi Ngại, Phượng Sơn (sau đổi thành Phượng Nhãn, nay là Chí Linh, Hải Dương), Nam Sách.

Trong thực tế hiện nay ở khu vực này có nhiều đền thờ và lăng mộ của nhiều hậu duệ kế cận của Nguyễn Bặc. Ví dụ ở dọc sông Đuống (Bắc Ninh) có 12 đền thờ Nguyễn Nộn, hậu duệ đời thứ 8 của Nguyễn Bặc. Thôn Phù Dực, xã Phù Đổng được các cụ phụ lão địa phương nói chính là quê gốc nhiều đời của Nguyễn Nộn. Mộ ông được chôn ờ Đồng Mực của thôn này. ơ Lai Hạ (Gia Lương, Bắc Ninh) có nhà thờ và mộ của Nguyễn Thuyên, hậu duệ đời thứ 9 của Nguyễn Bặc, vì đó là quê hương của ông. Ớ Diềm Xá (Yên Phong, Bắc Ninh) có một chi họ hậu duệ của Nguyễn Đạt...

Một điểm rất quan trọng là nhiều gia phả đều ghi sau khi cha mất, Nguyễn Đê, Nguyễn Đạt lên huyện Đông Ngàn, phủ Từ Sơn (Bắc Ninh) kết giao với hào kiệt để tìm cách trả thù cho cha. Biết Lý Công ưấn là người lỗi lạc, ông đã kết thân. Đươc Lý Công uẩn che giấu tông tích đưa vào triều Lê Hoàn làm Hữu thân vệ. Có người biết chuyện mới hỏi riêng sao nói trả thù mà lại vào làm thân vệ cho vua Lê. Ông chỉ cười mà không đáp. Khi Ngọa Triều vô đạo chết, Nguyễn Đê cùng Đào Cam Mộc dựa vào quân thân vệ trong tay đã tôn phò Lý Công Uẩn lên ngôi.

Một tư liệu mới phát hiện về họ Lý nói rõ thêm về môi quan hệ giữa Lý Công Uẩn và Nguyễn Đê.

Ở chùa Tiêu (chùa Cảm ứng Thiên Tâm) có một phiến đá ghi bốn chữ "Lý Gia linh thạch" nghĩa là phiến đá linh thiêng nhà Lý. Vì ghi là "linh thạch" nên xưa nay chẳng ai dám đụng đến. Gần đây, nhân việc bệ thờ bị nứt, phải trùng tu, phiến đá được lật ra thì thấy phía mặt trong là một bài minh ghi rõ: Bà Phạm Mẫu đến ở chùa Tiêu do nhà sư Vạn Hạnh trụ trì. Hàng ngày đèn nhang và được một "thần hầu" (khỉ thần) yêu đưa lên núi ái ân trên phiến đá này có mang sinh ra Lý Công uẩn sau làm vua, nên phiến đá trở thành linh thiêng của nhà Lý. Vị thần hầu ấy chính là nhà sư Vạn Hạnh. Vạn Hạnh, theo Thiền Uyên tập anh và theo sách Phật học phổ thông xuất bản ở Sài Gòn, "là người họ Nguyễn". Ông là con của Nguyễn Minh Không, quê ở Điềm Giang, châu Đại Hoàng. Người ta thường nhầm Nguyễn Minh Không với Từ Không Lộ, vị thiền sư đã chữa khỏi bệnh hóa hổ cho Lý Thần Tông, ớ Gia Viễn (Ninh Bình) có câu: "Đại Hữu sinh vương" (tức sinh vua Đinh), Điềm Giương (tức Giang) sinh thánh (tức sinh thánh Nguyễn Minh Không, vì là tổ phụ của vua nên được tôn là thánh). Điềm Giang ở gần Đại Hữu. Hiện nay ờ Điềm Giang còn đền thờ Nguyễn Minh Không.

Cả hai anh em Nguyễn Vạn Hạnh và Nguyễn Khánh Vân đều là thiền sư ở vùng cổ Pháp (Đình Bảng, tức chùa Tiêu và chùa Rặn).

Thần tích của đền thôn Dâm Bến, xã Thụy Lôi, huyện Đông Anh (ngoại thành Hà Nội) thờ Lý triều quốc mẫu (tức mẹ Lý Thái Tổ) có ghi tên bà là Phạm Thị Tiên, con gái ông Phạm Long và bà Đặng Thị Quang, quê ở làng Hoa Lâm, huyện Đông Ngàn (nay là xã Mai Lâm, huyện Đông Anh). Bà và nhà sư Vạn Hạnh yêu nhau và có mang. Khi bà sắp sinh, sợ mang tiếng ờ chùa lại có mang với sư ông, nên sư ông đã gửi gắm bà sang một chùa gần do em ruột là Nguyễn Khánh Vân trụ trì, tức chùa ứng Tâm để bà sinh ờ đấy. Bà đã sinh ở gần cổng tam quan của chùa, dưới gốc cây mận cho nên sau này chùa được gọi là chùa Rặn, tức nơi bà rặn để sinh ra vua Lý Thái Tổ. Vì sợ lấy họ Nguyễn của cha sẽ bị lộ là con nhà sư, nên lấy họ Lý do sinh ra ở gốc một cây mận (chữ Nho Lý là mận). Cho nên họ Lý không phải có gốc từ Phúc Kiến sang như nhà bác học Hoàng Xuân Hãn đã phán đoán mà là gốc họ Nguyễn ở Việt Nam. Còn tên uẩn là sâu kín, uẩn khúc. Tên cũ của làng cổ Pháp là Diên uẩn. Vì Nguyễn Minh Không và Nguyễn Bặc là anh em bà con cùng họ thân thiết nên khi Nguyễn Bặc bị hại, Nguyễn Vạn Hạnh đã đưa hai con, '4

Cho nên các con cháu Nguyễn Bặc chịu ơn lớn của nhà Lý trong việc che giấu tung tích, bảo vệ nòi giống của mình, đồng thời họ trở thành các khai quốc công thần của nhà Lý, một lòng trung thành phó tá nhà Lý.

Dòng họ Nguyễn hình thành hai đại hệ vì Nguyễn Bặc có hai con trai:

1. Đại hệ một: Nguyễn Đê

2. Đại hệ hai: Nguyễn Đạt

 

ĐẠI HỆ MỘT: NGUYỄN ĐÊ

Đời thứ hai: NGUYỄN ĐÊ

Là con trưởng của Nguyễn Bặc. Khi cha bị sát hại, ông còn nhỏ tuổi (xấp xỉ tuổi Lý Công uẩn, Công Uẩn sinh năm 974), ông được người cùng họ là Nguyễn Vạn Hạnh đưa lên Đông Ngàn dạy dỗ và trở thành người thân thiết của Lý Công uẩn. Phả cũ ghi, biết Công Uẩn là một đấng hào kiệt, Nguyễn Đê đã kêt giao với ông. Thiền sư Vạn Hạnh, người có uy tín với Lê Hoàn, đã che giấu tung tích Nguyễn Đê, cài ông vào làm Hữu thân vệ, một tướng chỉ huy quân cấm vệ rất quan trọng của nhà vua, bên cạnh Tả thân vệ là Lý Công uẩn. Có người bí mật hỏi ông: Sao muốn trả thù cha mà lại làm quan thân vệ của vua Lê, người đã giết cha mình. Ông chỉ mỉm cười không đáp.

Khi Lê Ngọa Triều vô đạo chết, ông cùng Đào Cam Mộc nắm quân thân vệ đã tôn phò Lý Công uẩn lên ngôi hoàng đế năm 1009, chấm dứt triều đại nhà Tiền Lê. Việc giành ngôi vua thành công của nhà Lý là kết quả của một quá trình nhiều năm. Vạn Hạnh và Công uẩn bí mật xây dựng lực lượng, đặc biệt là việc nắm chắc lực lượng vũ trang mà nòng cốt là quân thân vệ. Vì chuẩn bị tốt, nắm đúng thời cơ, cho nên việc giành chính quyền của vua Lý đã diễn ra thuận lợi, không có đổ máu, được mọi triều quan tuân theo. Việc dựa vào lực lượng thân vệ do Đào Cam Mộc và Nguyễn Đê chỉ huy giữ vị trí có tính chất quyết định của việc Lý Công uẩn lên ngôi. Cho nên Nguyễn Đê là một khai quốc công thần của nhà Lý.

Sau khi lên ngôi, Lý Thái Tổ đã phong ông làm Đô hiệu điểm, một vị tướng chỉ huy một đơn vị quân đội lớn của nhà vua. Vua đã phong Trung liệt phúc thần cho cha ông là Nguyễn Bặc và lệnh cho các địa phương nơi Nguyễn Bặc đã lập công diệt các sứ quân phải lập đền thờ như ở Phú Cốc (Nam Định), ở Tây Phù Liệt (Thanh Trì) và ở Ngô Khê (Ninh Bình) nơi ông bị hành hình. Nguyễn Đê cũng cho xây nhà thờ ở Đại Hữu sau trở thành Khởi Nguyên Đường.

Phả cữ ghi Nguyễn Đê sinh ba con trai: Nguyễn Quang Lợi, Nguyễn Viện và Nguyễn Phúc Lịch. Bây giờ nghiên cứu lại thì thấy nên ghi hậu duệ của ông hình thành ba hệ (I, II, III) thì đúng hơn. Sẽ nói rõ điểm này ở mục nói về các vị tổ nói trên ở sau.

Nguyễn Đê được vua phong là Á Khanh Hầu.

 

ĐAI HỆ HAI: NGUYỄN ĐẠT

Đời thứ hai: Nguyễn Đạt

Là con trai thứ hai của Nguyễn Bặc. Có tư liệu ghi tên ông là Nguyễn Tuân hoặc Nguyễn Phúc Đạt. Sau khi cha bị hại, ông cùng anh được nhà sư Vạn Hạnh bí mật đưa lên Đông Ngàn che giấu và nuôi dạy. Về sau, anh là Nguyễn Đê lập công lớn phò Lý Thái Tổ lên ngôi, còn ông định cư ở Viêm Trang (sau là Viêm Xá (Diềm Xá), tổng Châm Khê, huyện Yên Phong, phủ Từ Sơn, nay thuộc tỉnh Bắc Ninh). Hiện có một chi họ Nguyễn hậu duệ của ông ờ thôn này. Đời Lê Trung hưng, có hậu duệ của Nguyễn Đạt là tướng Nguyễn Đại Độ, phù Lê, chống Mạc, chuyển cư đến xã Ngọc Than, huyện Yên Sơn, phủ Quốc Oai, trấn Sơn Tây (nay là làng Ngọc Than, xã Ngọc Mỹ, huyện Quốc Oai, tỉnh Hà Tây), ơ thôn này đời Lê có một tiến sĩ là Nguyễn Đình Hiền, có thể là hậu dúệ của Nguyễn Đạt.

Cũng như hậu duệ của Nguyễn Đê, qua hàng nghìn năm hậu duệ của Nguyễn Đạt phải hình thành một đại hệ. Tiếc rằng chưa có liên lạc với các chi nhánh của đại hệ này nên chite thể ghi vào phả được. Vì thế sau đây chỉ có thể ghi được các hệ của Đại hệ một.

 

Mục 1  CÁC VỊ TỔ HỆ I (ĐẠI HỆ MỘT) DƯỚI TRlỀU LÝ

Đời thứ ba: Nguyển Quang Lợi

Là con cả của Nguyễn Đê, ông có công cùng cha phò lập Lý Thái Tổ, nên được giao giữ chức Đô chỉ huy sứ, tức tướng chỉ huy một cơ cấm vệ (dưới quân có cơ, dưới cơ có vệ, dưới vệ có đội).

Khi Thái Tổ băng hà (1028), xảy ra loạn tam vương: ba hoàng tử Đông Chinh Vương, Dực Thánh Vương và Vũ Đức Vương đem quân riêng về triều định cướp ngôi của anh trưởng là thái tử Lý Phật Mã.

Nguyễn Quang Lợi đã cùng Lê Phụng Hiểu đem quân cấm vệ dẹp yên loạn tam vương, bảo vệ được ngôi báu của Lý Thái Tông (Phật Mã). Lê Phụng Hiểu đã giết Vũ Đức Vương, lập công lớn được ban quốc tính: Lý Phụng Hiểu và được ban ruộng đất theo phép "thác đao điền", tức cầm dao ném xa đến đâu thì được hưởng ruộng đất đến đấy.

Nguyễn Quang Lợi cũng có công lớn. Tháng 11 năm Mậu Thìn (1028), ông được phong chức Thái úy, tức chức chỉ huy quân đội cao nhất. Sau ông được ban tước Hòa Quốc Công. Quốc công là tước rất cao, chỉ kém tước Vương thường ban cho các em vua. Phả cũ ghi ông có một con trai là Nguyễn Nghĩa Trường.

Đời thứ sáu: NGUYỄN NGHĨA TRƯỜNG

Phả cũ ghi ông là con Nguyễn Quang Lợi. Cần xem lại có íúng không. Chính sử ghi, năm Đinh Mùi, niên hiệu Thiên Phù Khánh Thọ nguyên niên (1127) đời Lý Thần Tông, viên ngoại lang Nguyễn Nghĩa Trường dâng rùa 3 chân, mắt có 6 ngươi, rồi xin về hưu. Như vậy là ông xin về hưu chưa đúng tuổi. Phán đoán khoảng 50 tuổi, như vậy ông sinh vào khoảng 1077. Nếu 60 tuổi mới xin về hưu thì ông sinh vào khoảng 1067.

Còn Nguyễn Quang Lợi phải sinh khoảng 990-992 và đến năm 1009 lúc 18-19 tuổi ông mới cùng cha tham gia phò lập Lý Thái Tổ. Như vậy Nguyễn Quang Lợi hơn Nguyễn Nghĩa Trường 80-90 tuổi. Nguyễn Nghĩa Trường phải là chắt của Nguyễn Quang Lợi. Phả đã bổ mất hai đời không ghi được. Việc viết phả thời quá xa xưa, bỏ mất vài ba đời, viết cháu chắt, thậm chí chút thành con là việc không hiếm. Tuy phả cũ ghi Nguyễn Nghĩa Trường là con của Nguyễn Quang Lợi, ông là đời tổ thứ tư, nhưng ờ đây ghi là đời thứ sáu, bỏ hai đời không ghi. Có như vậy mới phù hợp với chính sử đã ghi. vả lại nếu là con của Quang Lợi, một vị Thái úy Quốc Công nhất phẩm của triều đình, sao phải đến hai đời vua sau mới lục dụng Nguyễn Nghĩa Trường với chức viên ngoại lang tức chánh ngũ phẩm. Phải là cháu chắt của đại thần mới có trường hợp lục dụng như thế này.

Nguyễn Nghĩa Trường sinh ra Nguyễn Quốc, có phả ghi thêm Nguyễn Nghi.

Đời thứ bảy: NGUYỄN QUỐC

Trong cuốn Lịch sử chế độ phong kiến tyiệt Nam ghi là Nguyễn Quốc Dĩ. Việt Nam sử lược ghi là Nguyễn Quốc. Nhiều gia phả ghi là Nguyễn Quốc. Ông là con của Nguyễn Nghĩa Trường.

Ông đậu tiến sĩ khoa Bính Thìn (1136) đời Lý Thần Tông. Ông là vị đậu đại khoa được ghi đầu tiên trong gia phả dòng họ Nguyễn Bặc. Năm Giáp Tuất (1154) đời Lý Anh Tông, ông được cử đi sứ sang nước Tống. Về nước năm Mậu Dần (1158), ông được bổ nhiệm làm Thượng thư Bộ Binh.

Ông dâng sớ tâu vua:

"Thần sang Tống thấy giữa sân rồng có cái hòm dồng để thu các tấu chương của bốn phương. Thần mong ta bắt chước làm như thế để bề trên tỏ được tình của người dưới".

Đó là một lời tâu rất tiến bộ. Anh Tông chuẩn tấu và cho đặt hòm đồng ở sân rồng. Không ngờ việc này đã gây họa lớn cho ông. Sau đó, có thư nặc danh viết Đỗ Anh Vũ sắp làm loạn. Đỗ Anh Vũ là em ruột Đỗ Thái Hoàng Thái hậu (tức mẹ của Lý Thẩn Tông). Lý Thần Tông băng hà năm 1138, Lý Anh Tông mới 2 tuổi lên nối ngôi. Đỗ Anh Vũ, ông cậu của vua được Đỗ Thái Hoàng Thái hậu cử làm phụ chánh. Anh Vũ lộng quyền, lại tư thông với mẹ vua là Lê Thái hậu, làm nhiều điều xằng bậy.

Khi có thư nặc danh, Anh Vũ cho tra xét, không tìm được đích danh người viết nên đổ cho Nguyễn Quốc, người đã tâu vua đặt hòm. Đại Việt sử ỉược ghi: "Đỗ Anh Vũ tâu vua: "Ấy tất là người bày ra cái án (tức hòm đồng) làm đây". Nhà vua cho là phải bèn sai bắt Nguyễn Quốc Dĩ và em trai y là Nghi, rồi lưu đày Nguyễn Quốc Dĩ ở trại Quy Hóa...".

Ít lâu sau, vua biết Nguyễn Quốc bị oan, triệu hồi về kinh và phong cho ông chức Đại Tư Đồ (Thượng thư Bộ Lễ).

Anh Vũ đem rượu có thuốc độc đến mừng. Ông uống và mất năm 1158.

Ông sinh 9 con trai, trong đó phả chỉ ghi được một là Nguyễn Giới. Nhiữig Nguyễn Giới đỗ tiến sĩ năm Kỷ Hợi (1239) làm Thượng thư năm Kỷ Mùi (1259), đều dưới triều Trần, tức hàng' trăm năm sau khi Nguyễn Quốc bị hại (1158) nên không thể là con mà là chắt của Nguyễn Quốc. Chỉ trong thần phả đền Phù Đổng nơi có phối thờ Nguyễn Nộn có ghi rõ Nguyễn Nộn là con của Nguyễn Quốc. Điểm này sẽ nói rõ thêm ở sau.

 

Đời thứ tám: NGUYỄN NỘN

Trong cuốn phả do Quỳnh Sơn Hầu Nguyễn Lữ nhiếp biên bằng chữ Hán năm 1515 ghi: "Nguyễn Nộn là đời thứ 5. Ồng là con của Tả đô đốc Nguyễn Phụng, có 5 con trai là Thế Tứ, Long, Hiến, Thức, Diễn. Ông sinh vào thời mạt vận của triều Lý, quyền thần Đỗ Anh Vũ lộng quyền tác oai tác phúc, triều chính hỗn loạn. Ông ẩn ờ Phù Đổng, Tiên Du, Bắc Giang (tức Bắc Ninh ngày nay), chiêu nạp hào kiệt với chí lớn. Niên hiệu Kiến Gia đời Lý Huệ Tông, ông bị bắt về Đông Đô, sau lập công bình man chuộc tội. Kíp đến khi Lý Chiêu Hoàng nhường ngôi cho nhà Trần, ông bèn chiếm cứ các huyện Đông Ngàn chống lại họ Trần. Niên hiệu Kiến Trung đời Trần Thái Tông, ông đại phá Đoàn Thượng ở Hồng Châu, uy thế rất lớn. Thái Tông sai sứ chúc mừng, gia phong ông làm Hoài Đạo Hiếu Vũ Vương, gả công chúa Ngoạn Thiềm. Nhân đấy, tự xưng là Đại Thắng Vương. Năm Quý Sửu Kiến Trung thứ 5, bị bệnh mất, truyền cho con về với nhà Trần, các con đều được phong quan tước. Nay các xã Đông Ngàn và xã Phù Minh Tiên Dư thờ làm Phúc thần, các triều phong làm Thượng đẳng".

Quỳnh Sơn Hầu ghi đoạn phả này 286 năm sau khi Nguyễn Nộn mất. Tuy so với các vị tổ khác, Nguyễn Nộn được ghi kỹ hơn nhiều, nhưng một hậu duệ ghi một vị tổ cách khoảng 300 năm về trước không phải đã đúng hoàn toàn. Có nhữhg điểm sai sót là điều khó tránh khỏi. Tuy nhiên, các phả khác gốc Gia Miêu ngoại trang thường dựa vào Quỳnh Sơn Hầu để ghi về Nguyễn Nộn.

Cuốn Dự thảo Gia phả họ Nguyễn, quyển Thượng đã phát hiện từ năm 924 Nguyễn Bặc sinh, đến năm 1229 Nguyễn Nộn mất, tất cả 305 năm, có 5 đời, bình quân mỗi đời 61 năm là vô lý, bởi vì bình quân mỗi đời cách nhau quá xa. Thường các đời cách nhau 25-30 năm, nhiều lắm 40 năm là cùng.

Đến đền Phù Đổng Thiên Vương, nơi có bài vị thờ Nguyễn Nộn và đến đình Phù Dực cũng thuộc xã Phù Đổng, nơi thờ chính Nguyễn Nộn thì phát hiện nhiều điểm rất khác cách ghi về Nguyễn Nộn của Quỳnh Sơn Hầu.

Thần phả đền Phù Đổng Thiên Vương ghi về Nguyễn Nộn như sau: "Vương họ Nguỵễn, húy Nộn, quê Ở hương Phù Đổng, sau đổi là Phù Ninh, rồi Phù Dực huyện Đông Ngàn, ìộ Bắc Giang (naỵ ỉà thôn Phù Dực, xã Phù Đồng, huyện Gia Lâm, ngoại thành Hà Nội)".

Như vậy là thần phả ghi về Nguyễn Nộn được viết chính ngay tại quê hương ông nên có độ tin cậy rất lớn.

Thần phả ghi tiếp: "Vương thị Nguỵễn Đê chi thất đại hậu duệ, Nguyễn Quốc chi tử, Chiêu Huân Tĩnh Công chi cao cao tổ", nghĩa là Vương ìà hậu duệ đời thứ bảy của Nguyễn Đê, con của Nguỵễn Quốc, cao cao tổ của Chiêu Huân Tĩnh Công (tức Nguỵễn Kim). Như vậy ông là hậu duệ đời thứ 8 của Nguyễn Bặc, trong khoảng 305 năm có tám đời, mỗi đời cách nhau 38 năm là tương đối hợp lý.

Điểm đáng chú ỹ là thần phả ghi ông là con của Nguyễn Quốc chứ không phải con của Nguyễn Phụng. Nguyễn Quốc bị hại năm 1158, có thể lúc đó Nguyễn Nộn mới sinh được vài ba năm. Khi Nguyễn Nộn mất năm 1229, ông khoảng 73 tuổi. Đúng Nguyễn Nộn là cao cao tổ của Nguyễn Cam (Kim). Cho nên dựa vào thần phả ghi ờ ngay quê hương Nguyễn Nộn là có cơ sở của nó. Vì thế ở đây đã xếp ông vào đời thứ 8 và ông là con của Nguyễn Quốc.

Đương nhiên, nếu xếp như Quỳnh Sơn Hầu Nguyễn Lữ thì ông là con Nguyễn Phụng, thì ông vẫn là đời thứ 8 và thuộc hệ 2 của Đại hệ I.

Về hành trạng của Nguyễn Nộn, theo thần phả và một số truyền thuyết và gia phả khác, có nhiều điểm khác với Quỳnh Sơn Hầu đã ghi.

Nguyễn Nộn lớn lên thì Đỗ Anh Vũ đã không còn làm phụ chánh nữa. Nhưng đúng là nhà Lý đã đi vào mạt vận. Lý Cao Tông đã lớn và nắm quyền bính. Từ năm Đinh Mão (1207), nhiều cuộc nổi loạn nổ ra. Tháng 3 năm Kỷ Tỵ (1209), Cao Tông sai tướng Phạm Bĩnh Di đi dẹp được loạn. Vì bị kế ly gián của bọn gian thần, Cao Tông sai bắt rồi giết Bĩnh Di vừa thắng trận trở về.

Tức giận, Quách Bốc, bộ tướng của Bĩnh Di đem quân phá hoàng thành, chiếm kinh đô, buộc Cao Tông và Thái tử Sam phải bỏ chạy. Cao Tông chạy lên Quảng Oai, Thái tử Sam chạy về nhà họ Trần ở Lưu Gia (Sơn Nam). Trần Lý đang chiêu binh mãi mã hùng cứ một phương, gả con gái Trần Thị Dung cho Thái tử làm cầu leo lên nắm quyền bính hòng đoạt lấy thiên hạ sau này.

Đoàn Thượng, người cùng nhũ mẫu với Thái tử cũng xây thành đắp lũy, mộ quân, tự xưng là Đông Hải Đại vương, chiếm cứ vùng Hồng Châu, tức vùng Hải Dương ngày nay.

Ở Quảng Oai, ở Đại Hoàng, một số thủ lĩnh địa phương cũng nổi lên.

Trước tình thế đó, Nguyễn Nộn, cư sĩ chùa Sùng Khánh (Phù Dực, hiện chùa Sùng Khánh vẫn còn), cũng nổi lên chiếm cứ vùng Đông Ngàn, Tiên Du, Gia Lâm, dọc sông Thiên Đức. Ong lập đàn tế cầu trời phật phù hộ, phao tin bắt được một thần đao, một ngựa thần, nằm mộng thấy đức Phù Đổng Thiên Vương trao cờ nghĩa cho mình để cứu đời trị loạn. Với danh nghĩa dựhg lại cơ nghiệp nhà Lý, lại dấy binh ngay trên quê hương nhà Lý, đồng thời chú ý đến việc bảo vệ dân lành, ông được đông đảo nhân dân vùng Bắc Giang (Bắc Ninh), Lạng Giang, Tam Đái đi theo.

Là người có học thức, có mưu lược, biết trọng dụng và ưu đãi hiền tài, ông thu hút được các tinh hoa ở đất Kinh Bắc. Ông đặc biệt chú ý việc tổ chức luyện binh nhưng lại tìm cách che giấu không phô trương thực lực. Quân lính có đến mấy vạn, tổ chức thành tiền, hậu, tả, hữu doanh và trung quân, có hiệu lệnh nghiêm chỉnh, có hô úhg quy củ.

Khi quân san đất làm nơi tập ờ bãi nổi giữa sông, đào được vàng, ông cho luyện rồi đem bán lấy tiền mua sắm binh khí, lương thực.

Ông tự xưng là Hoài Đạo Đại Vương, đặt bản doanh ở thôn Phù Đổng, được dân trong vùng tôn làm "Vua Thầy".

Quách Bốc ở Thăng Long rất sợ thế lực hùng mạnh của Hoài Đạo Đại Vương ở ngay sát nách. Bốc tập trung quân tiến công hòng tiêu diệt nhưng bị thảm bại. Nhân cơ hội Bốc bị bại trận, Trần Lỹ tiến đánh Thăng Long diệt được Quách Bốc vào tháng 8 năm Kỷ Tỵ (1209) rồi đón vua Cao Tông về.

Vì biết chưa đủ điều kiện giành ngôi, lại được tin bọn phiến loạn Đại Hoàng đang tiến về Sơn Nam nơi hùng cứ của họ Trần, Trần Lý giao Thăng Long lại cho Cao Tông và rút quân về đánh quân Đại Hoàng rồi bị tử trận. Các con Trần Thừa, Trần Tự Khánh và con nuôi Trần Thủ Độ lên nắm quyền.

Năm Canh Ngọ (1210), Cao Tông băng hà, Thái tử Sam nối ngôi tức Lý Huệ Tông. Huệ Tông đón Trần Thị Dung về kinh, lập làm nguyên phi.

Đàm Thái hậu, mẹ Huệ Tông biết mưu đồ của họ Trần muốn đoạt ngôi báu, nên định giết Trần Nguyên Phi nhưng bị Huệ Tông ngăn cản. Vì thế, Thái hậu muốn dựa vào thế lực của Đoàn Thượng, người cùng nhũ mẫu với vua, để chống lại thế lực của họ Trần.

Biết được ý đồ đó, năm Giáp Tuất (1214), họ Trần một lần nữa đúct đại quân ra Thăng Long, đánh tan quân của triều đình, đánh lui quân của Đoàn Thượng. Đàm Thái hậu, Lý Huệ Tông và Trần Nguyên Phi phải chạy lên Lạng Châu rồi quay lại Bắc Giang hạ dựa vào thế lực của Hoài Đạo Đại Vương để chống họ Trần, do đó phong ngài chức "Hiếu Vũ Vương".

Không giữ được Huệ Tông, Trần Tự Khánh đã lập con thứ của Lý Anh Tông là Huệ Văn Vương làm vua, hiệu là Nguyên đế.

Hai năm sau, vào năm Bính Tỹ (1216), Huệ Tông nghe theo Trần Thị Dung, bỏ Hoài Đạo Đại Vương, bí mật về Thăng Long theo quân Trần. Trần Tự Khánh lại phế Lý Nguyên đế, phò Lý Huệ Tông để nắm toàn bộ quyền binh.

Năm Đinh Sửu (1217), họ Trần tập trúng quân tiến công Hoài Đạo Đại Vương nhưng bị đánh lui. Năm Mậu Dần (1218), họ lại tiến công một lần nữa. Lần này, đang mùa lũ, họ cho phá đê. Hoài Đạo Đại Vương phải dời đại bản doanh sang Phù Ninh (nay là Ninh Hiệp, Từ Sơn). Sau khi đánh lui quân Trần, ông cho đắp lại đê và giúp đỡ nhân dân.

Vì biết không thể dùng sức mạnh để khuất phục, họ Trần chuyển sang dùng biện pháp khác. Tháng 8 năm Mậu Dần (1218), lấy cớ Hoài Đạo Đại Vương đào được vàng không nộp cho nhà nước, họ Trần đã lấy danh nghĩa nhà vua xuống chiếu cho người mang đến triệu ông về kinh để hỏi tội. Đại Việt sử lược ghi, ông đã về kinh bị Trần Tự Khánh dùng dây trói lại, nhưng thấy ông khôi ngô tuấn tú cho thả ra làm tướng đi đánh giặc Man để đái tội lập công. Quỳnh Sơn Hầu Nguyễn Lữ cũng ghi như vậy vào gia phả.

Theo thần phả và truyền thuyết thì không phải như vậy.

Thực ra ông không về kinh, vì nếu ông về kinh thì Trần Tự Khánh không bao giờ chịu thả hổ về rừng. Khi sứ giả nhà vua đến, Hoài Đạo Đại Vương nhận chiếu, mở tiệc chiêu đãi và nói:

"Ông Trần Tự Khánh có bao nhiêu quân tinh nhuệ? Ông to làm Thái úy. Giặc nổi dậy ở Quảng Oai, tự đem quân di đánh không nổi. Nếu ta xin được vua đi đánh, liệu ông ấy có nhường chức Thái úy cho ta không?

Anh hùng nước Nam nào có thiếu. Ồng về nói với ông Trần Tự Khánh rằng: "Ông ấy không đụng đến ta thì ta củng không đụng đến ông ấy".

Trần Tự Khánh biết không thể bắt, bèn lấy lệnh vua giao cho đi dẹp loạn Quảng Oai và đại vương đã chiến thắng.

Sau khi Trần Tự Khánh chết, anh là Trần Thừa và em nuôi là Trần Thủ Độ từng bước tăng cường thế lực. Năm Giáp Thân (1224), họ ép Huệ Tông nhường ngôi cho con gái là Phật Kim mới 8 tuổi làm vua tức Lý Chiêu Hoàng. Cuối năm Ât Dậu (tức đầu năm 1225), họ buộc Chiêu Hoàng nhường ngôi cho chồng là Trần cảnh (mới 8 tuổi, kém vợ một tuổi). Nhà Lý sụp đổ, ngôi báu từ đấy thuộc về nhà Trần.

Trần Thủ Độ tập trung mọi nỗ lực để bình định thiên hạ. Các cuộc nổi dậy ở nhiều nơi lần lượt bị dẹp yên. Chỉ còn hai thế lực lớn của Nguyễn Nộn và của Đoàn Thượng. Trần Thủ Độ lôi kéo Đoàn Thượng chống lại Nguyễn Nộn.

Từ trước Nguyễn Nộn. có liên minh với Đoàn Thượng ước hẹn sẽ không tiến công nhau, hễ bên nào bị quân Trần đánh thì bên kia ứhg cứu. Hoài Đạo Đại Vương Nguyễn Nộn còn lấy thuế thóc của 10 xã do mình kiểm soát giúp cho Đoàn Thượng khi thiếu lương.

Nhưng Đoàn Thượng đã nghe theo Thủ Độ, năm Giáp Thân (1220), đem quân bất ngờ tiến công Hoài Đạo Đại Vương, bị ông đánh trả quyết liệt, tướng Đoàn Nhuyễn bị giết ở núi Đồng Cứu (thuộc cụm núi Thiên Thai, Gia Lương, Bắc Ninh), quân Đoàn Thượng buộc phải rút.

Biết Đoàn Thượng sẽ tiến công tiếp, năm Mậu Tý (1228), nhân khi ông ta đang phải đối phó với cậc tướng lục lâm ở mạn Đông Bắc, Hoài Đạo Đại Vương tập trung lực lượng bất ngờ tiến đánh Hồng Châu bằng hai đường thủy, bộ, vừa đánh cạnh sườn, vừa đánh vỗ mặt thọc thẳng vào bản doanh của đối phương. Quân Đoàn Thượng bị đánh tan. Hoài Đạo Đại Vương đã dùng thần đao chém chết Đoàn Thượng. Lương thực khí giới thu được rất nhiều.

Trần Thừa, Trần Thủ Độ được tin lo lắng nhưng không dám làm gì mà sai sứ sang chúc mìửig và phong cho Nguyễn Nộn tước "Hoài Đạo Hiếu Vũ Vương". Trần Thừa còn gả em gái con dì là công chúa Ngoạn Thiềm cho ông. Nhân chiến thắng lớn, ông tự xưng là "Đại Thắng Hiếu Vũ Hoàng Đế”.

Nhà Trần vẫn làm ngơ trước việc xiửig đế để tìm cách lôi kéo. Đề phòng mỹ nhân kế, Nguyễn Nộn đã không để Ngoạn Thiềm trong bản doanh, vì theo hầu công chúa còn 50 mỹ nữ có khả năng lung lạc tinh thần các tướng sĩ và thu thập tin tút cho nhà Trần. Ngoạn Thiềm (con cóc xinh) đã được bố trí ở Siêu Loại (nay là Thuận Thành) cách Phù Đổng mấy chục cây số. Do đó công chúa khó nắm được tin tức để đuồ cho quân Trần và các mỹ nữ khó có điều kiện lung lạc tinh thần các tướng sĩ.

Năm Kỷ Sửu (1229), Kiến Trung thứ năm, tức Trần Thái Tông lên ngôi được năm năm, nhờ cố gắng lớn nhà Trần cơ bản đã bình định được thiên hạ.

Hoài Đạo Hiếu Vũ Vương thấy cơ nghiệp nhà Lý không thể nào dựhg lại được, vả lại từ năm Đinh Mão (1207) bắt đầu loạn lạc đến năm Kỷ Sửu (1229) đã 23 năm can qua liên tiếp, nhân dân cơ cực không nên để đất nước bị chia cắt, không thể tiếp tục làm đế làm vương một phương. Cho nên về với nhà Trần để thống nhất đất nước, để trăm họ được thái bình là hợp với lẽ trời. Vì thế ông định đến tháng mười sẽ về kinh chính thức thần phục vua Trần.

Thế nhưng, ông bỗng lâm bệnh. Vua Trần sai sứ sang thăm. Ông cố uống rượu, cưỡi ngựâ để tổ ra mình vẫn khỏe. Nhưng vì bệnh nặng, ông mất ngày mồng 1 tháng ba năm Kỷ Sửu (1229). Ông được táng tại quê nhà ở xứ Đầm Mực, thôn Phù Dực, xã Phù Đổng theo nghi lễ tước vương. Ngày xite ở Đầm Mực vẫn có một cái nghè, hồi kháng chiến chống Pháp, bọn thực dân đã phá nghè và đào đất để xây đồn.

Lịch sử cũ thường ghi nhà Trần đã dẹp yên loạn Nguyễn Nộn và Đoàn Thượng. Thực ra thời Lý mạt, các thế lực nổi lên tranh hùng, không thể nói ai làm loạn, ai không làm loạn. Chẳng qua trong nội chiến phong kiến được làm vua thua làm giặc, nên ai không làm được vua thì trở thành làm loạn mà thôi.

Quyết định về với nhà Trần của Nguyễn Nộn là một quyết định sáng suốt. Chủ trương kiên trì lôi kéo Nguyễn Nộn, trọng dụng thực sự con cháu ông, không thành kiến hẹp hòi của nhà Trần cũng là một chủ trương sáng suốt, một bài học kinh nghiệm lịch sử vô cùng quý giá trong việc đoàn kết dân tộc.

Nhớ ơn Nguyễn Nộn, nhân dân đã lập đền thờ ông ở nhiều nơi. Các đời vua đã phong ông là Thượng đẳng phúc thần. Các thôn "thượng tự Dâu giang hạ chí Lục đầu giang” (tức từ đầu đến cuối sông Đuống), đã có tất cả 72 nơi có đền thờ ông. Ngay trong đền thờ đức Phù Đổng Thiên Vương cũng có bài vị thờ ông như sau: "Hoài Đạo Đại Vương, Đại Thắng Hiếu Vũ Hoàng đế chi tôn vị".

Trong các đền thờ, có nhiều đôi câu đối ca tụng ông. Ví dụ ở đền Phù Dực có một số đôi như sau:

Lý đại dĩ tiền thiên cổ danh tướng

Trần triều nhi hậu ưạn thế uy thần

Tạm dịch: 

Đời Lý vể trước danh tướng muôn thuở Triều Trần trở đi uy thần vạn đời

Một đôi khác:

Đồng đao lẩm liệt tiêu thần võ Thiết mã dương uy biểu thánh uăn

Tạm dịch:

Đao đồng tiêu biểu lẫm ỉiệt thần võ Ngựa sắt biểu dương uy phong thánh uăn

Một đôi khác:

Lý gia vận, thùy năng hưng chi, thần tử đương ui, chính hữu tam quân minh đại nghĩa

Ngoạn Thiềm sự, sử sở tải dã, xã tắc thị lợi, khải ti nhất nữ hoài thâm đồ

Tạm dịch:

Vận nhà Lý, ai dựng lọi được, đã là thần tử thì phải làm, dã có ba quân làm sáng đại nghĩa

Chuyện Ngoạn Thiềm lịch sử ghi rồi, phàm là uiệc lợi cho xã tắc, há vì một gái có ỷ đồ riêng 

 

Mục 2

CÁC VỊ TỔ HỆ II (ĐẠI HỆ MỘT) DƯỚI TRlỀU LÝ

Đời thứ tư: NGUYỄN VIỄN

Phả cũ ghi ông là con thứ hai của Nguyễn Đê tức ông là đời tổ thứ ba. Nhưng theo niên đại được ghi trong chính sử, ông làm quan dưới triều Lý Thánh Tông (1054-1071) và Lý Nhân Tông (1072-1127). Căn cứ vào niên đại nói trên, ông có thể sinh vào khoảng năm 1030-1040, còn Nguyễn Đê như trên đã nói có thể sinh vào khoảng 970, hơn ông 60-70 tuổi. Cho nên ông là cháu của Nguyễn Đê. Ở đây có một đời trên ông, con của Nguyễn Đê, phả không ghi được.

Tháng 2 năm Kỷ Dậu (1069), ông phò giá Lý Thánh Tông nam chinh đánh Champa lấy được ba châu: Bố Chánh, Ma Linh, Địa Lý. Cuối năm Ât Mão (1075), ông cầm quân tham gia chiến dịch Ưng Liêm do Thái úy Lý Thường Kiệt chỉ huy và lập công lớn. Tiếp đó, trong đông xuân Bính Thìn (1076) - Đinh Tỵ (1077), ông lại lập công trong chiến dịch sông Như Nguyệt cũng do Lý Thường Kiệt chỉ huy.

Chức vụ cao nhất của ông là Tả Tướng Quốc (tức tể tướng). Năm Bính Thìn, niên hiệu Quang Hiển thứ 2 (1086), ông dâng vua con rùa 6 chân trên lưng có hình đổ thư.

Phả cũ ghi ông sinh một con lấ Nguyễn Phụng, thực ra Nguyễn Phụng phải là chắt của ông. ở đời Nguyễn Phụng sẽ nói rõ điểm này

 

Đời thứ bảy: NGUYỄN PHỤNG

Phả cũ ghi ồng là con Nguyễn Viễn. Nhưng Nguyễn Viễn có thể sinh năm 1030-1040, còn ông làm quan dưới triều Lý Anh Tông (1138-1175). Khi người anh họ Nguyễn Quốc bị đầu đôc 1158, ông bỏ quan đi ờ ẩn tức lúc khoảng 45-55 tuổi. Như vậy ông có thể sinh năm 1105-1115, kém Nguyễn Viễn 75-85 tuổi. Cho nên ông là chắt của Nguyễn Viễn. Nếu Nguyễn Viễn là đời thứ tư thì ông là đời thứ bảy ngang vai với Nguyễn Quốc. Ông võ cử xuất thân. Vì được tín nhiệm, ông được cử giữ chức Chưởng Vệ Ngự Tiền Thần Vũ Vệ (tùng nhị phẩm) sau được thăng Tả Đô Đốc (chánh nhị phẩm).

Trước tình thế phụ chính Đỗ Anh Vũ lộng quyền, năm 1145, ông dâng vua con rùa quý mắt có 6 con ngươi, ức có 4 chữ triện "Quốc dĩ công pháp" có nghĩa là nước lấy phép công, mục đích để nhắc nhở vua đừng để Anh Vũ làm trái phép nước. Sau khi Nguyễn Dương, người em họ phải nhảy xuống giếng tự tử (1150) và người anh họ Nguyễn Quốc bị đầu độc (1158), ông bỏ quan đi ờ ẩn.

Phả cũ ghi ông sinh ra Nguyễn Nộn, nhưng như trên đã nói, thần phả đền Phù Đổng ghi Nguyễn Nộn là con Nguyễn Quốc. Một phả ở Nghệ Tĩnh ghi Nguyễn Phụng là thủy tổ của đại chi họ Nguyễn ở Chi Ngại, huyện Phượng Sơn (sau đổi thành Phượng Nhãn), trấn Kinh Bắc, này là huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương. Dòng họ Chi Ngại - Nhị Khê bắt đầu từ đấy.

• Mộ ông táng tại Chi Ngại. Phả Nhị Khê ghi tổ họ Nguyễn Chi Ngại là Nguyễn Phi Phượng. Có thể Phi Phượng là hậu duệ mấy đời của Nguyễn Phụng.

Như vậy là dưới các triều vua Lý, hệ hai chỉ ghi đứt quãng được 3 đời tổ. Còn 3-4 đời tổ không ghi được.

* * *

Đến đây xin trình bày thêm việc chắp nối với phân hệ Chi Ngại (cũng tức là việc chắp nối với phân hệ Nhị Khê, phân hệ có Nguyễn Trãi). Việc chắp nối này khá công phu. Trong cuốn dự thảo phả lần 1 đã khẳng đinh chi họ Nhị Khê là hậu duệ của Nguyễn Bặc nhưng chưa rõ chắp nối như thế nào nên viết thành một mục ồ cuối.

Trong cuốn viết về thơ văn Nguyễn Trãi, giáo sư Bùi Văn Nguyên nói có thể khi đánh sứ quân Phạm Bạch Hổ, Nguyễn Bặc đã để lại một người con ở Chi Ngại sau hình thành chi họ Nguyễn Chi Ngại. Điểm này cần nghiên cứu thêm.

Ở Gia Miêu ngoại trang có một miếu thờ Nguyễn Trãi nhưng Gia Miêu không phải là nơi sinh và nơi trưởng thành của Nguyễn Trãi. Sau khi Nguyễn Trãi bị tru di, vợ lẽ ông là Phạm Thị Mẫn và con trai út của ông là Nguyễn Anh Vũ, chạy về ẩn ở Gia Miêu (mà phả Nhị Khê ghi là Bồn Mường Mán vì ờ đây có nhiều người Mường), được bà con họ Nguyễn phân hệ Nguyễn Biện (hậu duệ đời thứ 16 của Nguyễn Bặc) chở che đùm bọc trong hơn 20 năm. Như vậy là phải có mối quan hệ họ hàng đặc biệt mới có việc đùm bọc đó.

Chi họ Nguyễn ở Vũ Cầu (Hạ Hòa - Phú Thọ), Kỹ ngoại hầu Cường Để, một số nhà sử cũng viết Nguyễn Trãi là hậu duệ của Nguyễn Bặc.

Trong bài tựa của gia phả Lan Đình Wguyễn Đình Hạc (hậu duệ của Nguyễn Như Soạn, em cùng cha khác mẹ với Nguyễn Trãi) ở xã Trúc Lâm (Tĩnh Gia, Thanh Hóa) ghi tổ tiên xa xưct là Thái thủy tổ Nguyễn Bặc.

Một tư liệu khác: Thân sinh Tổng bí thư Nguyễn Văn Cừ (hậu duệ của Nguyễn Phi Hùng, em ruột Nguyễn Trãi) một hôm chơi bài với tri phủ Từ Sơn là Bế Khanh, vì có thất thố trong lời nói, quan phủ dọa không xin lỗi thì sẽ đánh, ông khảng khái nói: "Đánh thì đánh chứ con trai họ Nguyễn không chịu khuất phục". Bế Khanh quê Cao Bằng, hậu duệ của Nguyễn Tông Thái, em ruột Nguyễn Cam (Kim), hậu duệ của Nguyễn Bặc. Nghe nói vậy, Bế Khanh không đánh mà hỏi tung tích dòng họ, biết hai người cùng một khởi tổ là Nguyễn Bặc, từ đó đi giỗ tổ với nhau.

Những tư liệu này trong cuốn dự thảo lần 1 đã có ghi.

Gần đây có một tư liệu nói: Họ Nguyễn ờ thôn Đại Từ (nay thuộc xã Đại Kim, Thanh Trì, Hà Nội) ghi rõ Thái thủy tổ của họ là Nguyễn Bặc chống Lê Hoàn không thành công, bị hại. Hai con trai lánh nạn sang Bắc Giang hạ (nay là Bắc Ninh), vì thế hậu duệ của hai ông ở rải ra nhiều xã trên nhiều huyện của vùng này trong đó có thôn Chi Ngại, huyện Phượng Sơn sau đổi là Phượng Nhãn trước thuộc Bắc Giang hạ (nay thuộc huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương).

Như vậy, đúng là ở Chi Ngại có một chi hậu duệ của Nguyễn Bặc như giáo sư Bùi Văn Nguyên phán đoán nhiừig chi hậu duệ đó không phải được hình thành khi Nguyễn Bặc đánh sứ quân Phạm Bạch Hổ hồi thế kỷ thứ X mà mãi sau này mới hình thành. Khi Nguyên Mông xâm lược, một chi của Chi Ngại đã chạy về Đại Từ, khi Lê Thái Tổ lấy lại nước, cầu hiền tài ra giúp nước, Nguyễn Trãi à Nhị Khê (quê gốc là Chi Ngại) đã giới thiệu người cùng họ à Đại Từ (vốn gốc Chi Ngại) là Nguyễn Võ Tình ra làm quan, nhưng ông này không nhận. Như vậy tư liệu mới này cho thấy Nguyễn Trãi và Nguyễn Võ Tình là cùng một Thái thủy tổ là Nguyễn Bặc. Quê hương thứ hai của dòng họ Nguyễn Bặc là Bắc Giang hạ. Tuy thế việc chắp nối cụ thể của đại chi Chi Ngại với dòng đại tông Nguyễn Bặc vẫn chưa rõ.

Một tư liệu mới do gia phả một chi họ Nguyễn Nghệ Tĩnh cho biết tổ trực hệ 9 đời của Nguyễn Trãi có tên là Phụng. Trước nạn phụ chính Đỗ Anh Vũ lộng quyền, hai người bà con bị hại: Nguyễn Dương phải nhảy xuống giếng tự vẫn năm Canh Ngọ (1150), Nguyễn Quốc bị đầu độc năm Mậu Dần (1158), ông phải bỏ quan đi ở ẩn ở Chi Ngại, huyện Phượng Sơn, Bắc Giang hạ. Chi họ Chi Ngại được hình thành vào thế kỷ XII vào đời thứ 7.

 

Mục 3

CÁC VỊ TỔ HỆ III (ĐẠI HỆ MỘT) DƯỚI TRlỀU LÝ

Đời thứ sáu: Nguyễn Phúc Lịch

Có phả ghi là Nguyễn Phúc. Chính sử và nhiều phả ghi là Nguyễn Phúc Lịch. Phả cũ ghi ông là đời thứ ba, con thứ ba của Nguyễn Đê cho nên ông thuộc hệ thứ III. Nhưng theo niên đai phục vụ ông làm quan dưới triều Lý Nhân Tông (1072- 1127) và dưới triều Lý Thần Tông (1127-1138) thì không phải là đời thứ ba, bởi vì nếu tính từ năm sinh của Nguyễn Đê khoảng năm 970 đến năm đầu của triều Lý Thánh Tông tất cả 157 năm. Nếu vào năm ấy Nguyễn Phúc Lịch 50-60 tuổi thì Nguyễn Đê hơn Nguyễn Phúc Lịch trên 100 tuổi. Cho nên ông phải là chút của Nguyễn Đê. Như vậy Nguyễn Phúc Lịch phải là đời thứ sáu.

Ông đã tham gia các chiến dịch Ưng Liêm (1075), sông Như Nguyệt (1075) đánh Tống và nam chinh (1104) đánh Chămpa, lập công lớn. Năm Mậu Thân (1128), Lý Thần Tông gia phong ông chức Thái Bảo (đứng thứ ba trong tam công: Thái sư, Thái phó, Thái bảo là 3 chức cao nhất).

Lăng mộ ông táng tại thôn Lai Hạ (Gia Lương, Bắc Ninh).

Ông sinh Nguyễn Dương.

Đời thứ bảy: NGUYỄN DƯƠNG

Là con của Nguyễn Phúc Lịch. Ông làm quan dưới ba triều vua: Lý Nhân Tông (1072-1127), Lý Thần Tông (1127-1138) và Lý Anh Tông (1138-1175). Lý Nhân Tông làm vua 55 năm. Nguyễn Dương có thể làm quan vào nửa cuối đời vua này đồng triều với cha là Nguyễn Phúc Lịch. Là võ cử xuất thân, lại là con trai của một vị tướng lớn là Nguyễn Phúc Lịch, ông được giao giữ chức Giám tả Hưng Thánh, tức chỉ huy một đoàn cam vệ quan trọng.

Lúc bấy giờ Lý Anh Tông còn nhỏ, Đỗ Anh Vũ, em trai của Đỗ Thái Hoàng Thái hậu (bà vua), giữ chức phụ chính lộng quyền, tư thông với Lê Thái hậu (mẹ vua).

Vì thế năm Canh Ngọ (1150), các tướng chỉ huy cấm vệ đưa quân đến cổng hoàng thành reo hò đòi bắt Anh Vũ. Vua phải xuống chiếu bắt giam Anh Vũ. Đại Việt sử kỷ toàn thư chép: "Thái hậu (tức Đỗ Thái Hoàng Thái hậu) sai người mang cơm rượu cho Anh Vũ ngầm để vàng vào trong đồ đựng món ăn để đút cho Vũ Cát (Vũ Cát là Điện tiền chỉ huy sứ tức tư lệnh quân cấm vệ). Giám tả Hưng Thánh Nguyễn Dương nói: "Bọn ngươi tham của đút, ta và ngươi tất không khỏi tay Anh Vũ đâu, chi bằng giết trước đi cho khỏi mối lo về sau”. Bèn cầm giáo định đâm. Đô tả Hưng Thánh Đàm Dĩ Mộng ôm lấy người, giằng lấy giáo ngăn lại và nói: Điện tiền bảo Anh Vũ đáng tội chết, nhưng phải đợi mệnh vua, không nên tự tiện.

Biết anh em Vũ Cát, Vũ Đại, cầm đầu quân cấm vệ đã ăn của đút của Thái Hoàng Thái hậu, Nguyễn Dương mắng nhiếc:

"Bọn Vũ Cứt (tức Vũ Cát), Vũ Đái (tức Vũ Đại) ăn của đút đầụ mồm, còn nói làm gì, sao lại tham của đút mà không tiếc thân mình!"

Biết không thể tránh bị Anh Vũ sát hại, Nguyễn Dương đã nhảy xuống giếng tự tử. Các con cháu ông phải chạy lánh nạn.

Sau khi được Đỗ Thái Hoàng Thái Hậu gỡ tội, Đỗ Anh Vũ trở lại làm phụ chính và đàn áp những người đã chống đối y kể cả Vũ Cát, Vũ Đại.

Phả cũ của Quynh Sơn Hầu ghì ông được phong chức Thái bảo tước công. Ồng sinh 2 trai, trưởng là Thuyên. Nhưng Nguyễn Thuyên sống sau ông gần bảy mươi năm nên là cháu chứ không phải là con của Nguyễn Dương.

* * *

Như vậy là dưới các triều vua Lý, gia phả dòng họ Nguyễn Bặc mới ghi được mười vị tổ. Trong khoảng trên 200 năm ghi được trên mười vị của 7-8 đời tổ trong tổng số hàng mấy chục có khi lên đến hàng trăm người quả là rất ít. Phả cũ đã ghi quá ít đời, nên nay không có tư liệu để ghi bổ sung.

Những vị tổ được ghi trong gia phả đều có tên trong sử. Đó đều là những nhân vật trung quân ái quốc dưới thời nhà Lý giữ những chức tước cao nhất nhì trong triều đình, người là Á khanh hầu, người là Quốc công, Thái úy, người được phong Tả tướng quốc, Tẳ đô đốc, người được phong là Thái bảo... Đặc biệt Hoài Đạo Hiếu Vũ Vương Nguyễn Nộn là một nhân vật kiệt xuất cuối triều Lý.

 

 

 

 

 

Chương Ba

CÁC VỊ TỔ HỌ NGUYỄN DƯỚI TRIỀU TRẦN 

 

Nguyễn Nộn sinh 5 con trai: Thế Tứ, Long, Thức, Hiển, Diễn. Ông đã di huấn cho con cháu mình về với nhà Trần. Đó là một di huấn rất quỹ báu bởi vì nhà Trần đã mở ra một thời kỳ huy hoàng xây dựng và bảo vệ đất nước, ba lần chiến thắng quân Nguyên Mông xâm lược. Các vị tổ họ Nguyễn đã góp phần vào việc xây dựng và bảo vệ tổ quốc dưới thời Đông A rực rỡ. Tuy nhiên vẫn có một số đi ở ẩn. Sau đây sẽ ghi các vị tổ ấy.

Mục 1

CÁC VỊ TỔ HỆ I (ĐẠI HỆ MỘT) DƯỚI TRIỀU TRẦN

1. Ngành con trưởng của Nguyễn Nộn

Đời thứ chín: NGUYỄN THẾ TỨ

Phả cũ ghi ông là con trưởng của Nguyễn Nộn. Tuân theo di huấn của cha, ông thần phục nhà Trần, được phong chức Đô Hiệu Điểm. Có người viết phả mới cho ông đã làm tướng tham gia cả ba cuộc chiến tranh chống Nguyên Mông. Điểm này không đúng, bởi vì khi Nguyễn Nộn qua đời năm 1229 ông trên 70 tuổi thì Nguyễn Thế Tứ (con cả) đã 40-50 tuổi. Nếu ông tham gia cuộc chiến tranh thứ ba (1288) ông phải khoảng 90-100 tuổi nếu còn sống. Ngay khi nổ ra cuộc chiến tranh thứ nhất, Nguyễn Thế Tứ cũng đã khoảng 60-70 tuổi. Phả cũ chỉ ghi ông được phong chức Đô Hiệu Điểm tức một vị tướng quan trọng chứ không hề nói ông làm tướng đánh Nguyên Mông.

Phả viết ông sinh 9 trai nhưng chỉ ghi tên hai người là Nguyễn Nạp Hòa và Nguyễn cảnh. Thực ra Nguyễn Nạp Hòa, Nguyễn Cảnh phải là chút của Nguyễn Thế Tứ bởi vì kém Nguyễn Thế Tứ hàng trăm tuổi. Như vậy là từ Nguyễn Nạp Hòa lên Nguyễn Thế Tứ còn có 3 đời chưa được ghi. Một phát hiện mới, trong gia phả họ Nguyễn ở Nha Trang ghi trên Nguyễn Nạp Hòa có ba vị tổ: Nguyễn Khoan, khởi tổ của dòng họ, Nguyễn Khoái, con của Nguyễn Khoan, Nguyễn Bính, cháu của Nguyễn Khoan, Nguyễn Nạp Hòa, chắt của Nguyễn Khoan. Tuy gia phả này không ghi trên Nguyễn Khoan là vị tổ nào, nhưng lại ghi rõ dòng họ Nguyễn Khoan là hậu duệ của Nguyễn Bặc. Trong phả cũ ghi rõ Nguyễn Thế Tứ có 9 con trai mà người con cả là Nguyễn Nạp Hòa, một người vào hàng chút của Thế Tứ. Cho nên nay chắp nối Nguyễn Khoan là con của Nguyễn Thế Tứ là có cơ sở của nó. Vả lại về năm sinh và hành trạng của Nguyễn Khoan cũng tương đối ăn khớp vào vị trí của con cả Nguyễn Thế Tứ. Tuy di huấn của Nguyễn Nộn dặn con cháu về với nhà Trần, nhưng phần lớn con của Nguyễn Thế Tứ đều vô khảo, việc này chứng tỏ Thế Tứ vẫn cẩn thận cho con đi ở ẩn. Nguyễn Khoan cũng là một người đi ở ẩn.

 

Đời thứ mười: NGUYỄN KHOAN

Ông sinh vào đời Lý Cao Tông (1176-1210), đậu Tiến sĩ và làm Khâm Sai Đô úy trấn thủ vùng biên giới phía Bắc đời Lý Huệ Tông (1210-1224).

Trong gia phả ghi về Nguyễn Nộn đã nói đây là thời mạt kỹ của nhà Lý. Năm 1209, Nguyễn Nộn đã khởi nghĩa làm chủ cả vùng Bắc Giang hạ (Bắc Ninh), Lạng Giang (Bắc Giang), Lạng Sơn và Tam Đái (Vĩnh Phúc). Năm 1214, Đàm Thái hậu, Lý Huệ Tông bị Trần Tự Khánh tiến công ở Thăng Long, phải chạy lên Lạng Giang rồi về Bắc Giang hạ dựa vào thế lực Hoài Đạo Đại Vương, phong ông chức "Hiếu Vũ Vương". Việc cháu Nguyễn Nộn là Nguyễn Khoan nhậm chức Khâm sai đô úy vùng biên giới 'Lạng Sơn là có cơ sở của nó. Khi Nguyễn Nộn qua đời 1229, dặn con cháu về với nhà Trần nhưng vẫn có bộ phận con cháu của Nguyễn Thế Tứ đĩ ở ẩn cũng rất có lý. Nguyễn Khoan đã đi ở ẩn ở Bình Lệ Nguyên (nay là vùng Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc).

Khi quân Nguyên Mông xâm lược, tuy không là tướng của nhà Trần, ông đã cùng ba con Nguyễn Khoái, Nguyễn Khả Lập, Nguyễn Thế Truyền huy động gia nhân và dân binh tích cực đánh giặc phối hợp với quân triều đình, làm không bích thanh dã, rào làng đắp lũy, khi địch tới thì tập Kích, phục kích, khi chúng rút lui thì truy kích tiêu diệt nhiều địch. Trong chiến đấu ác liệt, nhà cửa ông bị cháy sạch, ông bị tử thương vào đêm 20 tháng 12 năm Bính Thìn (tháng Giêng năm 1257).

Năm Kỷ Sửu (1289), vua Trần Nhân Tông truy công tưởng lệ các công thần đã phong Nguyễn Khoan là Trung Lương Tướng Thượng Đẳng Thần.

*

Nguyễn Khoái con cả ông đã ghi trong Nguyễn gia thế phả tục biên như sau: "Đến đời nghiêm phụ ta, tuy chưa có công gì lớn với nhò Trần, nhưng lọi là người đi đầu giúp Trần Thái Tông trong trận đầu chiến thắng giặc Nguyên mà chết. Rất đáng để cho anh em ta cùng con cháu dòng họ Nguỵễn về sau mãi mãi noi gương sáng".

Hiện nay ở huyện lỵ huyện Bình Xuyên (Vĩnh Phúc) vẫn có đền thờ ông.

Sau khi ông hy sinh, các con ông, Nguyễn Khoái, Nguyễn Khả Lập, Nguyễn Thế Truyền chuyển đến quê mẹ ở Đông Triều để lập nghiệp.

Đời thứ mười một: NGUYỄN KHOÁI

Ông cùng hai em đem mẹ về quê ngoại ở Đông Triều, huyện Phượng Sơn (nay thuộc huyện Chí Linh, Hải Dương), kết nghĩa với Trần Khánh Dư do phạm tội đang bị đày đĩ đốn củi đốt than.

Khi Trần Khánh Dư được phục chức trở lại cầm quân, Nguyễn Khoái cũng được vua Trần bổ nhiệm làm tướng.

Trong cuộc chiến tranh chống Nguyên Mông lần thứ hai năm Ất Dậu (1285), Nguyễn Khoái được giao tập kích quân địch à Tây Kết cạnh bờ sông Hồng, tiêu diệt được địch, giành thắng lợi lớn- Óng được phong tước hầu và được ban đất thang mộc, được gọi là "Khoái Lộ" sau này gọi là Khoái Châu (tỉnh Hưng Yên).

Ồng sinh con là Nguyễn Bính.

Đời thứ mười một: NGUYỄN KHẢ LẬP

Ông là con thứ hai của Nguyễn Khoan, em ruột của Nguyễn Khoái. Ông cùng anh được mẹ đưa về ở quê ngoại ở Đông Triều. Sau đó ông làm tướng chiến đấu dưới cờ của Thượng tướng Trần Quang Khải, cùng em là Nguyễn Thế Truyền và các tướng Trần Vinh Toản, Trần Thông đánh địch ờ bến Chương Dương, tiêu diệt được địch. Ông hy sinh trong trận đại thắng sông Bạch Đằng tháng 3 năm Mậu Tý (1288) (vô tự).

Đời thứ mười một: NGUYỄN THẾ TRUYỀN

Ong là con thứ ba của Nguyễn Khoan, em ruột của Nguyễn Khoái và Nguyễn Khả Lập. Sau khi cha hy sinh, năm 1285, ông cùng hai anh về quê mẹ ở Đông Triều định cư rồi tham gia đánh giặc Nguyên Mông, diệt địch ở Tây Kết, Hàm Tư Quan dưới quyền chỉ huy của Trần Nhật Duật, được phong ta Phương Liệt Bá Trung Đẳng Thần.

Đời thứ mười hai: NGUYỄN BÍNH

Ông là con Nguyễn Khoái, học giỏi, đỗ tiến sĩ dưới triều Trần Nhân Tông, được cử đi sứ Nguyên Mông. Về nước được vua khen: Bính là cận thần của thượng hoàng, tính người trong sạch, thẳng thắn, năm trước đứng đầu đoàn sứ sang Nguyên, trở về không mua thứ gì. Thượng hoàng đặc cách khen thưởng. Ông được giao giữ chức Nội Thư Chánh Chương. Năm Bính Thìn (1316) ông làm phó cho Trần Khánh Dư đĩ duyệt sở binh ở Diễn Châu, trở về được vua ban thưởng.

Đời thứ mười hai: NGUYỄN ĐẠI PHÁP

Ông là con Nguyễn Thế Truyền, làm ký lục dưới triều Trần Nhân Tông. Năm Bính Ngọ (1306), ông phò công chúa Huyền Trân vào làm hoàng hậu vua Chăm là Chế Mân rồi làm trấn thủ hai châu 0, Lý (châu Thuận và châu Hóa). Mất năm Đinh Tỵ (1347).

Đời thứ mười ba: NGUYỄN SĨ cố

Ong là con Nguyễn Đại Pháp, đỗ tiến sĩ giữ chức Thiên Chương Học Sĩ dạy vua. Giỏi về thơ quốc âm, ông là người tiếp tục sự nghiệp sáng tạo rã chữ Nôm của Nguyễn^Thuyên.

"Ị

Đời thứ mười ba: NGUYỄN NẠP HÒA

Trong phả cũ của Quỳnh Sơn Hầu Nguyễn Lữ ghi ông là con của Nguyễn Thế Tứ nhưng ông kém Thế Tứ hàng trăm 

tyổi (căn cứ vào niên đại các triều vua phục vụ của hai ông), phả họ Nguyễn ở Nha Trang ghi ông là con của Nguyễn Bính, cháu của Nguyễn Khoái, chắt của Nguyễn Khoan. Đây phải vân dụng cách chắp nối từ đời dưới lên đời trên: Nguyễn Nạp Hòa không phải là con Nguyễn Thế Tứ mà là chút Nguyễn Thế Tứ.

Nguyễn Nạp Hòa theo chính sử ghi là một vị võ tướng làm quan dưới các triều Trần Dụ Tông (1341-1369), Trần Hiến Tông (1369-1372), Trần Duệ Tông (1372-1377). Dưới triều Hiến Tông, ông chỉ huy một vệ trong Ngự tiền thần võ quân.

Tháng Giêng năm 1377, ông phò giá Trần Duệ Tông đem 12 vạn quân nam chinh đánh Chămpa và được giao chức Bình Man Đại Tướng Quân. Ngày 23 tháng Giêng năm 1377, đại quân đổ bộ lên cửa Thị Nại (nay thuộc Quy Nhơn, Bình Định), đóng quân ở Động Y Mang.

Vua Chăm Chế Bồng Nga dựng lũy gỗ ngoài thành Trà Bàn (Đồ Bàn tức Vijaỵa, kinh đô Chăm từ thế kỷ X), cách Quy Nhơn 26 km về phía tây bắc để phòng thủ rồi sai Mục Na Ma đến trá hàng, nói dối Chế Bồng Nga đã bỏ chạy, quân ta nên tiên quân vào chiếm thành.

Đại tướng Đỗ Lễ can vua không nên vào vì sợ trúng kế địch. Vua không nghe, lệnh cho quân tiến vào.

Địch phục sẵn, đổ ra đánh. Vua và các tướng Đỗ Lễ, Nguyễn Nạp Hòa, Phạm Huyền Lệnh đều hy sinh.

Phả cũ ghi Nguyễn Nạp Hòa sinh 5 con trai, trong đó có Nguyễn Công Luật, còn 4 người vô khảo.

Phả họ Nguyễn ở Nha Trang ghi các con của Nạp Hòa vào xứ Nghệ lánh nạn dưới triều Hồ trong đó có Nguyễn Đa Phương, phụ thân của Nguyễn Cảnh Chân, ông nội của Nguyễn Cảnh Dị. Phả còn ghi chính các vị này có hậu duệ là Nguyễn Xí tức Cương quốc công thời Lê sơ, thủy tổ của dòng họ Nguyễn Đình ở Thượng Xá Nghi Lộc và Nguyễn Cảnh Hoan tức Tấn quốc công thời Lê Trung hưng, một tổ của dòng họ Nguyễn Cảnh Nam Đường. Điểm này sẽ nói rõ ờ sau.

Đời thứ mười ba: NGUYỄN CÁNH

Phả cũ của Quỳnh Sơn Hầu ghi ông là con Nguyễn Thế Tứ, em của Nguyễn Nạp Hòa, nhưng căn cứ vào niên đại phục vụ đời Trần Duệ Tông, ông cũng như Nguyễn Nạp Hòa là chút của Nguyễn Thế Tứ. Ông thi đậu võ cử khoa Quý Hợi (1323). Sau làm trấn thủ xứ Kinh Bắc rồi Tham Tri Chính Sự (thứ trưởng), được gia phong Thái Phó, Cánh Quận Công. Ông sinh 5 con trai. Con trưởng là Nguyễn Thành, còn vô khảo.

Đời thứ mười bốn: NGUYỄN CÔNG LUẬT

Phả cũ ghi ông là con Nguyễn Nạp Hòa. Ông còn có tên là Nguyễn Tiểu Luật. Võ cử xuất thân, ông-được vua Trần rất tín nhiệm giao giữ chức Hữu Kiểm Điểm Giám Quân Vệ Thiên Trường. Có phả ghi ông bị Hồ Quý Ly sát hại trong sự kiện đưa quân định cứu Đế Hiện (sỗ nói ờ sau) nhưng cũng có phả ghi ông đã qua đời trước sự kiện đó, cách ghi thứ 2 đúng hơn.

Ông sinh ba trai: Nguyễn Công Sách, Nguyễn Hô, Nguyễn Minh Du.

Đời thứ mười bốn: NGUYỄN ĐA PHƯƠNG

Phả họ Nguyễn Nha Trang ghi ông là con trai Nguyễn Nạp Hòa. Ông đậu tiến sĩ đời Trần Duệ Tông. Sau khi cha là Nạp Hòa hy sinh, ông được làm tướng chặn đánh quân Chăm do Chế Bồng Nga chỉ huy ra xâm lược Đại Việt, nên được phong là Kim Ngự Vệ Đại Tướng Quân. Ông tham dự sự kiện cứu Đế Hiện (sẽ nói sau) nên bị Hồ Quý Ly giết tháng 11 năm Kỷ Tỵ (1389). Ông than: "Ta vì có tài nên được giàu sang và cũng vì có tài nên đến nỗi chết. Chỉ hận là không được chết nơi chiến trận mà thôi!". Ong sinh ra Nguyễn Cảnh Chân.

Đời thứ mười bốn: NGUYỄN THÀNH

Ông là con trai của Nguyễn Cánh. Ông đỗ cử nhân võ đời Trần Duệ Tông (1372-1377), được cử làm tướng có công lớn ba lần đánh quân Chămpa xâm lược Đại Việt, được phong chức Thái Úy tước Vinh Quốc Công. Sau khi Trần Nghệ Tông băng, ông hết lòng phò thiếu đế. Ông bị Hồ Quý Ly căm ghét nhưng không dám đụng đến vì uy tín của ông rất lớn. Tháng 7 năm 1399, ông dâng sớ hạch tội Quý Ly. Quý Ly đem quân bắt giữ vài ngày rồi thả. Ồng mất cuối năm 1399. Ông không có con trai, nhận một cháu họ là Nguyễn Lang làm thừa tự.

Đời thứ mười lăm: NGUYỄN CÔNG SÁCH

Ông là con cả của Nguyễn Công Luật. Ông còn được gọi là Nguyễn Bát Sách. Vì gia đình rất được nhà vua tín nhiệm, nên cả ba anh em đều võ cử xuất thân và được bổ nhiệm chỉ huy ba đạo quân cấm vệ chủ yếu. Ông giữ chức chỉ huy đạo quân Thiết Sàng rồi được truy tặng chức Thái úy; Nguyễn Hô giữ chức chỉ huy đạo quân Thiết Liêm; Nguyễn Minh Du giữ chức chỉ huy đạo quân Thiết Hổ.

Triều Trần Nghệ Tông ươn hèn, tin dùng quyền thần Hồ Quý Ly, một ngoại thích gian hùng, có 2 cô lấy vua, mưu đồ cướp ngôi. Năm Mậu Dần (1388), vua Trần Đế Hiện (1377- 1388) thấy họa lớn bèn mưu cùng các trung thần, trong đó có các trung thần họ Nguyễn, tìm cách trừ Hồ Quỹ Ly. Quý Ly biết và tâu với thượng hoàng Nghệ Tông: "Cổ lai chỉ bổ cháu nuôi con chứ chưa thấy ai bỏ con nuôi cháu bao giờ”, rồi xui giết Đế Hiện. (Đế Hiện là con trưởng Trần Duệ Tông, gọi Nghệ Tông bằng bác). Nghệ Tông nghe theo cho hạ ngục Đế Hiện, đưa con út mình là Chiêu Định Vương lên ngôi tức Trần Thuận Tông.

Được tin Đế Hiện bị hạ ngục, Nguyễn Công Sách cùng các tướng cấm vệ đựa quân kéo đến định phá ngục để cứu vua. Nhưng Phế Đế viết hai chữ "giải giáp" đưa cho các tướng và dặn các tướng phải tuân lệnh Thượng hoàng, do đó các tướng không dám tiếp tục hành động.

It giờ sau, Quý Ly tập hợp được lực lượng và tiến hành phản công. Phế Đế bị thắt cổ. Các tướng chống lại Quý Ly đều bị hại, số người lên đến 389.

Nguyễn Công Sách chạy thoát. Quý Ly bắt được mẫu thân ông. Ông buộc phải quay lại mong cứu mẹ nhưng Quý Ly đã giết cả hai mẹ con.

Ông sinh một trai là Nguyễn Phong.

Đời thứ mười lăm: NGUYỄN HÔ

Phả Liễu Ngạn ghi là Hố, có phả lại ghi là Ưng, bản dịch Đại Việt sử kỷ toàn thư ghi là Hô.

Ong là con trai thứ hai của Nguyễn Công Luật. Năm Xương Phù thứ nhất triều Trần NqhéJCéñq (1378), ông được - bổ nhiệm giữ chức chỉ huy quân cấm vệ Thiết Liêm cùng với Lê Lặc. Sau sự kiện Phế Đế, anh cả và em thứ ba bị giết, ông trốn về Gia Miêu ngoại trang mộ binh, tích lương, chuẩn bị lực lượng để chống Hồ Quý Ly.

Sau khi nhà Minh cướp nước ta, ông đưa lực lượng phò Trần Giản Định (1407-1409) rồi Trần Trùng Quang (1409- 1413), được vua cử giữ chức trấn thủ Thuận Hóa. Ông đã hy sinh khi quân Minh tiến công chiếm thành này.

Ông sinh được một trai là Nguyễn Uyên.

Đời thứ mười lăm: NGUYỄN MINH DƯ

Ông là con trai thứ ba của Nguyễn Công Luật. Vì cùng nhũ mẫu với vua Đế Hiện nên được gọi là Thánh Du. Võ cử xuất thân, ông được cử giữ chức trấn thủ Sơn Nam, rồi chỉ huy đạo quân cấm vệ Thiết Hổ. Ông tham gia sự kiện cứu Trần Đế Hiện không thành, bị Quý Ly bắt và giết.

Ồng được vua Hậu Trần truy phong là Thượng Tể Trung Nghĩa Thánh Liệt Dụ Cần Công.

Ông sinh ba trai: Nguyễn Sùng, Nguyễn Thư, Nguyễn Biện.

Đời thứ mười lảm: NGUYỄN CẢNH CHÂN

Phả họ Nguyễn ở Nha Trang ghi ông là con của Nguyễn Đa Phương. Ông và một số anh em bà con chuyển CƯ vào Nghệ An, ông được bổ nhiệm An phủ sứ Thuận Hóa rồi An phủ sứ lộ Thăng Hoa (Quảng Nam). Khi giặc Minh chiếm nước ta, ông cùng Đặng Tất theo Trần Giản Định (Trần Ngỗi) chống quân xâm lược, lập công lớn đánh bại hàng vạn quân của Mộc Thạnh trong trận Bô Cô (Sơn Nam). Sau trận thắng lớn này, ông và Đặng Tất bị vua Giản Định nghi oan và giết hại. Ông là tổ sinh ra phân hệ Nguyễn Cảnh sẽ nói rõ ở sau.

Đời thứ mười lăm: NGUYỄN LANG

Ong là con nuôi của Vinh Quốc Công Nguyễn Thành. Xuất thân võ cử, ông làm tướng được phong tước Quận Công và truy tặng tước Cương Quốc Công. Ông sinh một trai là Nguyễn Súy.

Đời thứ mười bốn: NGUYỄN NHƯ VỊ

Ong là con Nguyễn Sĩ Cố. Ong đỗ Thái học sinh, làm Gián Nghị Đại Phu, mạnh dạn can ngăn vua, bị vua bãi chức 

năm 1348. Đại Việt sử kỷ toàn thư chép: "Thượng hoàng gọi đến dụ. Bọn Doãn Định và Nguyễn Như Vị cố cãi mãi, cả ngày không thôi. Vua dụ 2, 3 lần cũng không được bèn bãi chức".

Ông sinh Nguyễn Nhiên.

Không nên nhầm Nguyễn Như Vị triều Trần với cận thần Nguyễn Như Vĩ dưới triều Lê đã cùng Kinh phi họ Nguyễn âm mưu để Thái hoàng Thái hậu đi đón Lã Côi Vương, rồi đóng cửa thành đuầ Uy mục lên ngôi (sẽ nói sau).

Đời thứ mười lảm: NGUYỄN NHIÊN

Ông là con Như Vị. Ông giỏi võ được giữ chức Chi Hậu Nội Phó Chưởng, có góp công cùng Trần Nghệ Tông dẹp loạn Dương Nhật Lệ định thoán đoạt ngôi báu, ông được thăng chức Hành Khiển Tẳ Tham Tri Chính Sự sau thăng Tham Tri Chính Sự.

Ông hy sinh năm 1377 ở Đồ Bàn cùng Trần Duệ Tông và Nguyễn Nạp Hòa.

Ông sinh Nguyễn Long thủy tổ của phân hệ 9.

2. Các ngành con thứ của Nguyễn Nôn

Trong chương bốn, Mục 1, tiểu mục 1 đã ghì ngành con trưởng của Nguyễn Nộn. Đến đây ghi tiếp các ngành con thứ của ông. Vì tư liệu chưa nhiều nên xin xếp chung vào một tiểu mục 2.

Đời thứ chín: NGUYỄN LONG

Ông là con thứ hai của Nguyễn Nộn, ông đã tham gia nhiều trận đánh trong cuộc khởi nghĩa của cha. Sau khi cha mất, tuân theo di huấn, ông đã về làm tướng với vua Trần, được phong làm Chỉ huy sứ một vệ cấm quân (chánh tam phẩm). Ông có tham gia đánh giặc Nguyên Mông được Trần Nhân Tống truy phong Thái Phó, tước Quận Công.

Ông không con, lấy cháu họ là Nguyễn Nhiên làm thùcL tự.

Đời thứ chín: NGUYỄN HIẾN

Ông là con thứ ba của Nguyễn Nộn. Sau khi cha mất, ông về với nhà Trần được giao giữ chức Chỉ huy sứ cấm vệ (chánh tam phẩm). Ông được phong tước hầu, có tham gia đánh Nguyên Mông. Về trí sĩ ở quê Đông Ngàn, sau dời vào Sơn Viên, huyện Đông Sơn (Thanh Hóa), hình thành một số phân hệ tỏa ra một số vùng Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Hà Tây... sẽ nói tiếp ở sau.

Đời thứ chín: NGUYỄN THỨC

Ong là con thứ tư của Nguyễn Nộn. Ông đậu võ cử năm 1253 ờ Giảng Võ đường đời Trần Thái Tông. Rất được các vua Trần tín nhiệm, được giao Chỉ huy sứ vệ "Thánh Dực". Trong cuộc đánh giặc Nguyên Mông lần thứ hai, ngày 15 tháng 12 năm Ât Dậu (1285), Trần Nhân Tông sai ông đưa vệ Thánh Dực đến Bình Than để cùng Tiết chế quốc công Trần

Quốc Tuấn tiêu diệt quân Nguyên Mông rút chạy. Hai năm sau, năm Đinh Hợi (1287), Trần Nhân Tông cử ông giữ chức Tả Đô Đốc, chỉ huy cả hai đơn vị Cấm vệ Thánh Dực và Nghĩa Dũng. Có phả ghi ông trí sĩ à Phi Gia (nay thuộc Kim Thành, Hải Dương).

Chưa rõ hậu duệ của ông.

Đời thứ chín: NGUYỄN DIỄN

Ông là con út của Nguyễn Nộn, là người học giỏi, ông được Trần Thánh Tông (1258-1279) phong chức Viên Ngoại (chức quan chánh ngũ phẩm).

Cuối năm Tân Dậu (1261), ông được cử tham gia sứ đoàn sang Nguyên Mông cùng với Trần Phụng Công và Nguyễn Thám. Ông bị vua Nguyên Mông giữ lại không cho về nước.

Hậu duệ ông ở Thăng Long thất truyền.

Đời thứ chín: NGUYỄN GIỚI

Phả cũ ghi ông là con của Nguyễn Quốc. Cần xem lại điểm này. Năm Kỷ Hợi, Thiên Ưng thứ 8 (1239) đời Trần Thái Tông, ông đậu Tiến sĩ. Năm Kỷ Mùi, Thiên Long thứ 2 (1259) đời Trần Thánh Tông, ông được phong Tả phụ Thượng thư viện (như thứ trưởng). Nếu ông sinh đúng vào năm Nguyễn Quốc mất, 1158, thì ông đỗ tiến sĩ khi đã 81 tuổi, và làm Tả phụ Thượng thư viện năm 102 tuổi. Như vậy phả cũ ghi ông là con của Nguyễn Quốc (đời thứ 7) là không đúng.

ở đây tạm xếp ông đời thứ 9 tức cháu của ông.Nguyễn Quốc. Hậu duệ ông vô khảo.

* * *

Chú thích: Chắc chắn các con thứ của Nguyễn Nộn có nhiều

hậu duệ, hình thành nhiều phân hệ nhưng chuầ khao được.

 

Mục 2

CÁC VỊ TỔ HỆ II (ĐẠI HỆ MỘT) DƯỚI TRIỀU TRẦN

Ở trên đã ghi Nguyễn Phụng đời thứ 7 là tổ của hệ II. Sau Nguyễn Phụng sáu đời không ghi được mè chỉ ghi được đời thứ 13 là Nguyễn Phi Phượng.

Đời thứ mười ba: NGUYÊN PHI PHƯỢNG

Phi Phượng là tên tự, không rõ tên húy. Ông cố hiệu là Phúc Chính, quê ở Chi Ngại, huyện Phượng Nhãn, Bắc Giang hạ (nay là huyện Chí Linh, Hải Dương). Ông hưởng thọ 82 tuổi, giỗ ngày 13 tháng Giêng, táng tại xứ Đồng Cấm (Chi Ngại).

TỔ bà: NGHIÊM TỪ NGUYỆT

Từ Nguyệt là tên hiệu, bà thọ 65 tuổi, giỗ ngày 25 tháng

3. Mộ táng tại xứ Thiên Mã (Chi Ngại).

Đời thứ mười bốn: NGUYEN TƯỜNG HOÀNG

Tường Hoàng là tên tự. Ông có tên hiệu là Vân Phong thọ 75 tuổi, giỗ ngày 19 tháng 2, mộ táng tại xứ Kim Ngư, thôn Chi Ngại.

TỔ bà: VŨ THỊ PHƯƠNG DƯNG

Phương Dung là tên hiệu, thọ 52 tuổi, giỗ ngày mồng 7 tháng 2, mộ táng tại xứ Đồng Cấm, thôn Chi Ngại.

Tổ bà á thất: NGHIÊM THỊ TỪ QUANG

Từ Quang là tên hiệu, thọ 60 tuổi, giỗ ngày mồng 4 tháng 12, mộ táng tại xứ Thiên Mã (Chi Ngại).

Đời thứ mười bốn: NGUYỄN PHI LOAN

Phi Loan là tên tự. Ông có tên hiệu là Phúc Lâm. Ông lầm Chánh quản giáp trại Chi Ngại. Là người nhân từ, thường giao du với nhiều khách, trong đó có khách phương Bắc, ân tình nồng hậu. Ông khách đã chỉ cho một huyệt. Ông cải táng mộ thân phụ là Vân Phong vào đấy. Mộ ở ruộng xứ Đồng Trong tọa Nhâm hướng Bính, phía trước có rùa vàng làm án, phía sau có sao vàng, bên trái bên phải có đầm nước bao quanh, thực là một huyệt quý. Ông thọ 87 tuổi, giỗ ngày 12 tháng 2, mộ táng tại ruộng xứ Thiên Mã thôn Chi Ngại.

TỔ bà: LÊ THỊ TỪ CÚC

Từ Cúc là tên hiệu, thọ 64 tuổi, giỗ ngày 26 tháng 6, mộ táng tại xứ Đồng Chữ, thôn Chi Ngại.

Đời thứ mười lăm: NGUYỄN ĐẠT

Ông có tên tự là Phi Hổ, hiệu là Văn Sơn. Thi đỗ Nho sinh Tú Lãm Cục, hưởng thọ 70 tuổi, giỗ ngày mồng 10 tháng 9, mộ táng tại núi Thiên Mã.

TỔ bà: ĐỔ THỊ TỪ TRUNG

Từ Trung là tên tự, thọ 65 tuổi, giỗ ngày 22 tháng 8, mộ táng tại xứ Đồng Cấm (Chi Ngại).

Ông bà sinh ra Nguyễn ứng Long tức Phi Khanh (thủy tổ của phân hệ 12).

Phả Nhị Khê ghi Nguỵễn Đạt là người thông minh, nhưng buồn vì mấy lần đi thi không đậu. Ông làm thầy lang chữa bệnh cứu người. Là người thật thà nhân đức được mọi người tín phục, giúp giải quyết mọi việc bất hòa trong làng xóm. Khi lâm chưng, ông cho gọi con cháu đến cạnh giường và nói:

"Ta bất hạnh thi mấy lon không đậu, chết không nhắm dược mắt. Các con phải gắng học tập di thi, khi có tin đậu đạt thì ở dưới suối vàng to sẽ ngậm cười".

Ông là người hay thơ, sau đày xin ghi một bài:

Dữ hữu nhân chu hành

Giang thôn nhật mạc cảnh uô nhân Nhưng phỏng chi ngư viết Lỷ Nhân Vi ký công hồi kinh thử địa Hoàn tương tục hậu tín tư dân Hảo khan phong nguyệt ức Tô Tử

Giao vọng Tinh Hà bức Hán thần Cộng khánh an nhàn nhân lợi thiệp Thái bình thiên tải hạnh phùng thần Tạm dịch:

Cùng ban ngồi thụyền

Chiều tà làng vắng ven sông

Hỏi ngư dân ấy Lý nhân gọi là

Hóa ra đã đến ngày xưa

Dân lành tập tục thực thà hậu nhân

Nhớ Tô Tử cảnh gió giăng

Ngó Tinh Hà bức Hán thần cách đôi

Mừng người lịch thiệp thảnh thơi

Thái bình được gặp ngàn đời may thay.

 

Mục 3

CÁC VỊ TỔ HỆ III (ĐẠI HỆ MỘT) DƯỚI TRIỀU TRẦN

Dưới thời nhà Lý, hệ ba ghi được hai vị tổ: Nguyễn Phúc Lịch đời thứ sáu, và Nguyễn Dương đời thứ bảy. Phả cũ ghi Nguyễn Dương (mất năm 1150), sinh Nguyễn Thuyên. Nhưng Nguyễn Thuyên viết Văn tế cá sấu năm 1282 (tức 132 năm sau khi Nguyễn Dương tự tử), phải kém Nguyễn Dương khoảng 60-70 tuổi, không thể là con Nguyễn Dương, vả lại trong thần phả ở Lai Hạ (Gia Lương, Bắc Ninh) thờ Nguyễn Thuyên, ghi ông gọi Nguyễn Nộn (đời thứ tám) là bá phụ. Như vậy ông là đời thứ chín. Ông gọi Nguyễn Dương bằng ông là phù hợp. Giữa Nguyễn Dương và Nguyễn Thuyên còn có một đời không được ghi.

Đời thứ chín: NGUYỄN THUYÊN

Ông là cháu Nguyễn Dương. Ông gọi Nguyễn Nộn là bác họ. Từ bé ông được Nguyễn Nộn nuôi dưỡng. Lúc Nguyễn Nộn qua đời (1229), ông mới 9-10 tuổi (lúc làm văn tế đuổi cá sấu năm 1282, nhiều lắm ông 58-60 tuổi, cho nên ông sinh khoảng 1220-1222). Nguyễn Nộn khởi nghĩa từ năm 1209, cho nên có phả mới viết ghi Nguyễn Thuyên và cả Nguyễn Giới là mưu sĩ của Nguyễn Nộn là không đúng. Những cậu bé 9-10 tuổi khi Nguyễn Nộn qua đời là Nguyễn Giới, Nguyễn Thuyên không thể là mứu sĩ khuyên bác họ là Nguyễn Nộn trên 70 tuổi về với nhà Trần.

Ngược lại, thần phả thôn Lai Hạ (Gia Lương, Bắc Ninh) lại ghi rõ tuân theo di huấn phải về với nhà Trần của bá phụ Nguyễn Nộn, Nguyễn Thuyên lớn lên đã đi thi đậu tiến sĩ khoa Đinh Mùi (1247) dưới triều Trần Thái Tông (1224-1258) lúc ông 25-27 tuổi. Triều Trần Nhân Tông, ông được giao giữ chức Thượng Thư Bộ Hình.

Tháng 8 năm Nhâm Ngọ (1282) niên hiệu Thiệu Bảo thứ tư triều Trần Nhân Tông, cá sấu xuất hiện ở sông Lô (sông Hồng). Phụng mệnh vua, ông làm văn tế đuổi được cá sấu. Do 

việc này giống việc Hàn Dũ đời Đường ở Trung Quốc cũng làm văn tế đuổi được cá sấu ở Triều Hải, nên vua ban cho ông được lấy họ Hàn: Hàn Thuyên.

Bài văn tế như sau:

Ngạc ngư kia hỏi mày có hhỵ Biển Đông rộng rãi là nơi màỵ Phú Lương đâỵ thuộc về thánh vực Lạc lối đâu mà lọi đến đây?

Ngươi phải biết rằng người Việt xưa Vốn dân chài dưới chẳng tay uừa Đời Hùng vẽ mình ưua dạy bảo Xuống nước giao long củng phái chừa Thánh thần nối dõi bản triều nay Dấy từ hải ấp ngôi trời thai;

Võ công lừng lẫy bốn phương tĩnh Biển ìặng sông trong mới có rày Sài lang xa dấu chân cày cấy Muôn uật đều yên đâu ở đấy Ta vâng để mạng bảo cho mày Hãy uề biển Đông mà vùng vẫy.

Ông là một trong những người đầu tiên ở nước ta làm thơ theo luật Đường bằng quốc âm mà bài văn tế cá sấu nói trên là một ví dụ. Điều quan trọng nhất là chính ông đã sáng tạo ra chữ Nôm, tức chữ viết riêng của người Việt Nam.

Ngày xưa giống như nước ta, nhiều nước Đông A cũng dùng chữ Hán của Trung Quốc làm chữ viết của nước họ. Trên cơ sở chữ Hán, mỗi nước sáng tạo ra chữ viết riêng của mình. Ví dụ người Nhật đã Nhật hóa chữ Hán tức là dùng chữ Hán và đọc thành tiếng Nhật. Ví dụ chữ Hán san (sơn) là núi thì người Nhật viết chữ Hán san và đọc là yama (tiếng Nhật nghĩa là núi). Đông Kinh người Nhật vẫn viết chữ Hán Đông Kinh và đọc là Tokyo theo tiếng Nhật. Những chữ Hán được Nhật hóa cách đọc này gọi là Kanji viết theo văn phạm Nhật và đã trở thành chữ viết của người Nhật. Về sau người Nhật còn sáng tạo ra chữ Hiragana, Katakana và dùng cả chữ Latinh mà họ gọi là Romanji.

Người Việt dùng chữ Hán và có cách đọc riêng theo âm Hán Việt. Đó vẫn là chữ Hán theo văn phạm Hán tức chiia phải chữ Hán được Việt hóa theo kiểu chữ Kanji của Nhật. Chưa phải là chữ viết của người Việt.

Sáng tạo ra chữ Nôm, Nguyễn Thuyên đã sáng tạo ra chữ viết riêng của người Việt. Chữ Nôm đã vận dụng những quy tắc sau đây:

1. Những tiếng Việt trùng âm với chữ Hán Việt cả chữ lẫn nghĩa thì chữ Nôm vẫn dùng luôn chữ Hán Việt đó. Đó là chữ Nôm gốc Hán. Ví dụ: anh hùng, quân đội, học hành, thi cử, liêm chính, oanh liệt. Những chữ Việt (Nôm) gốc Hán này có rất nhiều.

2. Những tiếng Việt trùng âm với chữ Hán Việt nhưng không đồng nghĩa, thì chữ Nôm vẫn viết chữ Hán Việt âm ấy nhưng không theo nghĩa Hán mà theo nghĩa Việt. Ví dụ chữ Hán Việt chữ "Bán" là nửa, nhưng chữ Nôm viết "Bán" (chữ Hán) nhưng có nghĩa là mua bán. Chữ Hán Việt chữ "một" nghĩa là mất, là không có, nhuhg chữ Nôm "một" có nghĩa là số một.

3. Có thể dùng chữ Hán Việt thành chữ Nôm có âm gần giống. Ví dụ, chữ Hán Việt "ất" một chữ trong mười can (Giáp, Ất, Bính, Đinh...) có thể đọc thành chữ Nôm "ắt". Chữ Hán Việt "lang" có thể đọc thành chữ Nôm: lang, lảng, loảng, sang. Chữ Hán Việt "trinh" có thể đọc thành chữ Nôm: "tranh", hoặc "riêng".

4. Có thể dùng ngay chữ Hán Việt, nhưng đọc thành nghĩa Nôm của nó. Ví dụ chữ Hán Việt "niên" có khi được đọc nghĩa Nôm là "năm", chữ Hán Việt "dụng" có khi đọc nghĩa Nôm là "dùng"; chữ Hán Việt "xa" đọc nghĩa Nôm là "xe".

5. Có thể ghép hai chữ Hán thành một chữ Nôm: một chữ Hán có âm gần giống âm chữ Nôm, một chữ Hán có nghĩa của chữ Nôm cần viết. Ví dụ, muốn viết chữ Nôm "ba" là số ba thì viết 'bên trái chữ Hán đọc là "ba" (Ba Thục) và bên phải chữ "tam" nghĩa là ba, muốn viết chữ Nôm "năm" là số năm thì viết bên trái chữ "nam" là phươnq Nam và bên phải chữ "ngũ" nghĩa là năm.

6. Nếu hai chữ Nôm đồng âm dị nghĩa thì bên trái vẫn viết chữ Hán có âm gần giống chữ Nôm, còn bên phải thì viết chữ Hán có nghĩa của chữ Nôm cần viết. Ví dụ, chữ năm là số năm thì viết chữ "nam" với chữ ngũ như trên đã nói. Còn nếu năm là năm tháng thỉ viết chữ Nam và chữ Niên là năm.

7. Chữ Nôm viết theo văn phạm tiếng Việt khác với chữ Hán Việt tức chữ Hán đọc theo Việt, thì vẫn theo văn phạm Trung Quốc.

Trên đây là những quy tắc cơ bản cấu tạo chữ Nôm mà Nguyễn Thuyên đã đặt ra. Người ta đã tìm được tiếng Việt có khoảng một vạn hai nghìn từ hoặc bộ phận từ thường dùng và đã có khoảng 8.000 chữ Nôm để viết các từ tiếng Việt nói trên. Nguyễn Thuyên đã sáng tạo một bộ phận quan trọng số chữ Nôm đó. Người đời sau đã căn cứ vào các quy tắc viết chữ Nôm do Nguyễn Thuyên đề ra mà hoàn chỉnh từng bước hệ thống chữ Nôm

Sáng tạo ra chữ Nôm là một bước chuyển biến vô cùng quan trọng của nền văn hóa nước ta. Nhờ có chữ Nôm từ thế kỷ XIII đến hết thế kỷ XIX, dân tộc ta đã ghi lại biết bao tác phẩm bằng quốc âm như: ức Trai quốc âm thi tập, Lê triều Nguụễn tướng công gia huấn cơ, Hồng Đức quốc âm thi tập, Bạch uân am quốc âm thi tập, Truyền kỷ mạn ¡ục, Nhị độ mai, Kim Vân Kiều, Lục Vân Tiên, Đọi Nam quốc sử diễn ca, Tống Trân Cúc Hoa, Phạm Tải Ngọc Hoa, các bẳn dịch ra chữ Nôm như Chinh phụ Ngâm và Cung oán ngâm khúc, các vở tuồng, vở chèo... Nguyễn Thuyên còn viết phả họ Nguyễn bằng chữ Nôm.

Với việc sáng tạo ra chữ Nôm, Nguyễn Thuyên đã trở thành một nhà văn hóa lớn, một nhà khoa học lớn của dân tộc.

Năm Quý Hợi (1923), nhân dân xã Lai Hạ (Gia Lương, Bắc Ninh) trùng tu lại ngôi đình thờ ông đã cung tiến một đôi câu đối như sau:

Hàn luật xướng tân thanh, Lý hậu, Lê tiền, văn phái biệt khai Hoa Việt giới

Ngạc ngư tiêu ác lãng, Lô Giang, Triều Hải, sùng từ đối tự Bắc Nam thiên

Tạm dịch:

Sau Lý, trước Lê, theo Hàn luật làm thơ Nôm phân rõ phái vân riêng Hoa Việt

Lô Giang, Triều Hải, viết tế văn đuổi cá sấu, sánh nhau chữ nghĩa cõi Bắc Nam

Tương truyền, Nguyễn Thuyên có xây một ngôi nhà. Nhân lúc ông ra kinh có việc, một tên cường hào xui thợ chạm rồng phượng rồi viết giấy bẩm báo triều đình việc làm phạm pháp này bởi vì chỉ cung điện nhà vua và đình chùa mới được chạm rồng phượng, nhà thường dân chạm rồng phượng là phạm tội phản nghịch.

Về nhà Nguyễn Thuyên đã kịp thương lượng với chùa gần cạnh rước tượng phật về thờ nên quan quân đến khám xét không có cớ để buộc tội ông. Tuy thế, con cháu ông trước đó đã phải phân tán lánh nạn.

ơ Cao Bằng, có một đại chi của phân hệ Nguyễn Thuyên. Trung tướng Nguyễn Bằng Giang, nguyên Tư lệnh liên khu 1 là hậu duệ của Nguyễn Thuyên. Lúc còn sống, trung tướng đã về Lai Hạ làm lễ tổ.

Nguyên Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao Nguyễn Văn Ngọc, một cán bộ cộng sản lão thành bị thực dân Pháp đày sang Mađagasca, một trong bảy người được Đồng minh thả dù xuống Việt Bắc trước Cách mạng tháng Tám 1945, cũng là hậu duệ của Nguyễn Thuyên. Hiện còn hậu duệ của Nguyễn Thuyên mang họ Hàn ở Quảng Nam Đà Nẳng. Nhà thờ Nguyễn Thuyên đã bị bom Pháp phá hoại, nay nhân dân địa phương đã khôi phục lại.

Ông mất ngày 7 tháng 5 âm lịch. Mộ táng tại Lai Hạ. Hậu duệ của ông có thể hình thành một số phân hệ nhưng chưa có tư liệu để ghi chép.

* * *

Như vậy là dưới thời nhà Trần, các vị tổ họ Nguyễn của Hệ một đã được ghi tương đối liên tục đến đời thứ mười bảy, của Hệ hai đã được ghi đến đời thứ mười lăm nhưng chưa liên tục, còn thiếu nhiều người của một số đời, của Hệ ba đã được ghi đến đời thứ chín, còn thiếu rất nhiều người. Mong các phân hệ thuộc hệ hai, hệ ba và cả hệ một bổ sung thêm tư liệu để cuốn phả ghi được đầy đủ hơn. Ớ đây mạnh dạn sắp xếp lại thế thứ các đời tổ cho hợp lý. Bởi vì từ năm 924, năm Nguyễn Bặc sinh, đến năm 1282, năm Nguyễn Thuyên viết Văn tế cá sấu, tất cả 358 năm, trước đây chỉ ghi 5 đời, bình quân mỗi đời cách nhau 71 năm là quá xa, nay ghi 9 đời cũng còn xa. Nếu chưa đồng ý viết theo cách sắp đặt này thì xin cứ viết như cũ, tuy nhiên viết như thế thì không giải đáp được một cách khoa học việc sắp xếp thế thứ.

Dưới nhà Lý và nhà Trần có những sự kiện lớn chi phối sự phát triển của dòng họ Nguyễn Bặc:

Viêc chống lại phụ chính Đỗ Anh Vũ tư thông với Lê Thái hâu lộng quyền làm bậy đã buộc Nguyễn Dương phải nhậy xuống giếng tự tử. Nguyễn Quốc bị đầu độc chết; Nguyễn Phung phải đi ở ẩn, con cháu phải lánh nạn nên hậu duệ của các vi hình thành thêm các phân hệ à Chi Ngại, ở Bắc Giang hạ (nay thuộc Hải Dương).

Việc khởi nghĩa của Nguyễn Nộn đã buộc bộ phận con cháu phải đi ẩn ở Bình Lệ Nguyên (Vĩnh Phúc) rồi chuyển sang Đông Triều (Hải Dương). Việc quân Nguyên xâm lược tiến dọc đường Đông Triều đã buộc con cháu họ Nguyễn ở đây phải chạy lánh nạn rồi hình thành một phân hệ ở Đại Từ (Đại Kim, Thanh Trì).

Đặc biệt việc Hồ Quý Ly giết hại 389 trung thần của nhà Trần trong đó có nhiều vị họ Nguyễn, một lần nữa đã buộc con cháu họ Nguyễn phải lánh nạn: Nguyễn Biện đã đến Gia Miêu ngoại trang. Khi quân Minh xâm lược, nhà hậu Trần chống Minh bị thất bại, nhiều vị họ Nguyễn phải chuyển dời đên nơi mới lập nghiệp: Nguyễn Hợp đến Cường Gián (Hà Tĩnh), rồi chuyển ra Thượng Xá (Nghi Lộc, Nghệ An), Nguỳễn Cảnh Lữ chuyển đến Ngọc Sơn (Nam Đường, Nghệ An). Ngoài ra, hậu duệ của Nguyễn Hiến (con thứ ba của Nguyễn NộnỊ chuyển từ Dông Ngàn (Từ Sơn, Bắc Ninh) vào Đông Viên (Dông Sơn, Thanh Hóa). Có bộ phận chuyển vào Nam Đường, Chân Lộc (Nghệ An) hình thành ngành họ Nguyễn Nguyễn Thế Tứ có 9 con, mới phát hiện vài người. Nguyễn Nạp Hòa có 5 con trai, cũng mới phát hiện 2 người la Nguyễn Công Sách, Nguyễn Uyên.

Khi giặc Minh xâm lược, với lòng trung quân ái quốc nhiều vị tổ họ Nguyễn phò nhà hậu Trần chống giặc đã hy sinh anh dũng. Con cháu các vị có người đã ở Tân Bình Thuận Hóa, hoặc ở Tuyên Quang, Hưng Hóa.

Tiếp đó nhiều vị tổ khác đã tham gia cuộc khởi nghĩa của Lê Lợi để giải phóng đất nước khỏi sự đô hộ của nhà Minh.

 

Mục 4

SỰ HÌNH THÀNH CÁC PHÂN HỆ

Các hệ I, II, III (của đại hệ một) hình thành từ đầu nhà Lý vì khởi tổ có ba con. Tuy các hệ cũng có nhiều phái nhưng chưa có đủ tư liệu để ghi sự hình thành các phái, từ đời thứ hai đến đời thứ mười lăm chưa thể ghi riêng thành các phân hệ. Nhưng từ cuối Trần đầu Lê, tức khoảng từ đời mười sáu trở đĩ đã hình thành các thủy tổ phân hệ ở từng địa phương khác nhau, nên cần ghi thành nhiều phân hệ cho dễ theo dõi. Có thể ghi một số phân hệ như sau:

1. Phân hệ 1: Nguyễn Phong là ngành trưởng của Nguyễn Công Sách, cháu của Nguyễn Công Luật. Phân hệ này có thể ờ vùng Hưng Hóa.

2. Phân hệ 2: Nguyễn Uyên là con của Nguyễn Hô, con thứ hai của Nguyễn Công Luật (vô khảo).

3. Phân hệ 3: Nguyễn Sùng là con cả của Nguyễn Minh Du Nguyễn Sùng ở ẩn tại Cao Hương (Vụ Bản, Nam Định).

4. Phân hệ 4: Nguyễn Thư là con thứ hai của Nguyễn Minh Du, phân hệ này vô khảo.

5. Phân hệ 5: Nguyễn Biện là con thứ ba của Nguyễn Minh Du.

6. Phân hệ 6: Nguyễn Cảnh Di là con của cảnh Chân, cháu của Đa Phương (con thứ hai của Nạp Hòa).

7. Phân hệ 7: Nguyễn Cảnh Lữ là con của Cảnh Chân.

8. Phân hệ 8: Nguyễn Đình Hội là con của Đình Hợp, cháu của Đa Phương.

9. Phân hệ 9: Nguyễn Súy là chắt của Nguyễn Cánh (em Nguyễn Nạp Hòa).

10. Phân hệ 10: Nguyễn Long là hậu duệ của Thế Truyền (con thứ ba của Nguyễn Khoan).

11. Phân hệ 11: Nguyễn Duy là hậu duệ của Nguyễn Hiên (con thứ ba của Nguyễn Nộn).

12. Phân hệ 12: Nguyễn ứng Long Chi Ngại, Nhị Khê.

13. Phân hệ 13: Nguyễn Chân Tính, Đại Từ (Đại Kim, Thanh Trì) cùng gốc Chi Ngại.

Qua việc chắp nối và SƯU tầm tư liệu, mới phát hiện được 13 phân hệ trong đó có 11 phân hệ của hệ I, 2 phân hệ của hệ II, chUci phát hiện được của hệ III. Đương nhiên, có thể có rat nhiều phân hệ-chuầ phát hiện được, kể cả của hệ I.

Chia ra và đánh số thứ tự các đại hệ, hệ, phân hệ, đại chi chỉ là một quy ước khi viết phả để tiện theo dõi. Đến đời thứ mười sáu mới chia phân hệ cũng là một cách chia cho dễ nhớ, thực ra có phân hệ đã hình thành trước mấy đời. Trong khi viết sẽ nói rõ những trường hợp này. Đối với việc chia đại chi cũng như vậy. Nếu không chấp nhận việc chia đại hệ, hệ, phân hệ, đại chi thì cách trình bày cuốn phả sẽ không có một thứ tự nào cả, cách viết sẽ lộn xộn khó theo dõi.

Tư liệu về các phân hệ, đại chi có nhiều ít khác nhau vì thế có tư liệu đến đâu xin trình bày đến đấy, không dám bỏ đi vì cuốn nghiên cứu gia phả này cũng có mục đích tập hợp tư liệu.

Sau đây xin lần lượt ghi các phân hệ đại chi đã có tư liệu. Những phân hệ vô khảo thĩ chờ có tư liệu sỗ ghi thêm, nhưng vẫn phải xếp thành phân hệ.

PHÂN HỆ 1: NGUYỄN PHONG

Đời thứ mười sáu: NGUYỄN PHONG

Ông là con trai Nguyễn Công Sách. Khi cha bị Quý Ly giết, ông trốn thoát rồi chiêu binh mãi mã để chống Quý Lỵ. Khi nhà Minh xâm lược, ông đem quân phò Giản Định rồi Trùng Quang, đánh giặc Minh, lập nhiều công, được giao trấn thủ ở Hưng Hóa. Khi giặc Minh tiến công chiếm thành, ông đã chiên đấu anh dũng và hy sinh. Không rõ con cháu. Phân hệ I chỉ ghi được một đời Nguyễn Phong.

PHÂN HỆ 2: NGUYỄN UYÊN

Đời thứ mười sáu: NGUYỄN UYÊN

Ông là con của Nguyễn Hô. Sau sự kiện cứu Phế Đế Hiện không thành, ông cùng cha chạy về Gia Miêu. Khi nhà Minh cướp nước ta, ông theo Giản Định rồi Trùng Quang chống giặc Minh. Nhà hậu Trần mất, ông trở lại Gia Miêu, thường ngồi nghỉ ờ một rễ cây đa như cái võng. Ông chết ở núi Thiên Tôn, thi hài mối vùi (thiên táng). Con cháu vô khảo. Phân hệ này chỉ ghi được một đời Nguyễn Uyên.

PHÂN HỆ 3: NGUYỄN SÙNG

Đời thứ mười sáu: NGUYỄN SÙNG

Ông là con cả của Nguyễn Minh Du. Ông học giỏi, có tài. Vì cha cùng nhũ mẫu với vua, được tín nhiệm, nắm quyền chỉ huy quân cấm vệ, nên bẳn thân ông rất được trọng dụng. Ong và em là Nguyễn Thư được sung vào làm việc ờ Khu Mật Viện. Sau khi cha bị Quý Ly sát hại, ông phải lánh nạn mai danh ẩn tích, rồi chiêu binh mãi mã để chống nhà Hồ. Khi quân Minh xâm chiếm nước ta, ông đem binh phò Giản Định rồi Trùng Quang đánh ngoại xâm, được phong chức Hữu Kiểm Điểm.

Nhà Trần thất bại, ông ở ẩn ở xã Cao Hương, huyện Thiên Bản (nay là huyện Vụ Bẳn, tỉnh Nam Định). Giỗ ngày 20 tháng Giêng. Phả ghi ông sinh một trai là Phúc Tân. Sẽ nói tiếp ở chương sau.

PHÂN HỆ 4: NGUYỄN THƯ Đời thứ mười sáu: NGUYỄN THƯ

Phả cũ ghi ông là con thứ hai của Nguyễn Minh Du. Vì học giỏi, có tài, gia đình có tín nhiệm, ông cùng anh là Nguyễn Sùng được phân công làm việc ở Khu mật viện. Khi cha bị hại, ông chạy trốn, rồi theo Giản Định, Trùng Quang đánh giặc Minh có công được phong chức Tả Đô Đốc. Hậu Trần mất, gia đình ông đi ở ẩn (vô khảo).

PHÂN HỆ 5: NGUYỄN BIỆN Đời thứ mười sáu: NGUYỄN BIỆN

Ông có tên tự là Tiến. Ông là con trai thứ ba của Nguyễn Minh Du. Sau khi cha bị sát hại, ông đưa gia đình lên vùng Sơn Động, Gia Hưng (Tống Sơn, Thanh Hóa) chiêu tập dân lập nhiều trang trại. Đến đời cháu ông là Nguyễn Công Duẩn, Gia Hưng được đổi thành Gia Miêu ngoại trang (nay là xã Hà Long, huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa). Vùng Sơn Động do ông lập trở thành một vùng dân tộc Mường rộng lớn trù phú. Ong được tôn làm Quản Tráng. Khi chống Minh, ông cung cấp lương thực cho các vua Giản Định, Trùng Quang, được vua phong làm Phụ Đạo của cả vùng Mường gồm 37 làng ở vùng Quảng Tế, dài khoảng 50 cây số, rộng khoảng 5 cây số ở bắc Thanh Hóa, giáp Ninh Bình.

Nguyễn Biện là thủy tổ của phân hệ họ Nguyễn ở Gia Miêu ngoại trang. Đến triều Nguyễn, vì làng Gia Miêu là quê hương của vua nên được đổi là Quý Hương (sau cách mạng tháng 8, được đổi thành xã Hà Long).

Ông mất ngày 22 tháng 5, thụy là An Tâm, táng tại núi Thiên Tôn. Vì là thủy tổ của họ vua ông được vua phong là Thái sư Huệ quốc công. Vì ông có tên tự là Tiến) nên có phả chữ Hán ghi bỏ Thảo đầu (**) viết thành chữ Trãi (Jb) và do đó có người đã nhầm Nguyễn Biện (Tiến) thành Nguyễn Trãi và cũng do đó đã chắp nối nhầm con cháu Nguyễn Biện (Tiến) thành con cháu Nguyễn Trãi. Điểm này sẽ nói rõ ở tiểu mục Nguyễn Công Duẩn ở sau.

Có người còn nhầm Nguyễn Biện (Tiến) ở Gia Miêu với Nguyễn (Đình) Biện ở Thượng Xá (Nghi Lộc, Nghệ An). Nguyễn Biện ở Thượng Xá, anh ruột của Nguyễn Xí kém Nguyễn Biện ở Gia Miêu khoảng 50-60 tuổi. Nguyễn Biện (Thượng Xá) hy sinh trong chiến tranh chống Minh, không có con (sẽ nói ở sau).

TỔ bà: MAI TỪ TÂM

Không rõ tên húy, Từ Tâm là tên hiệu. Mộ táng tại núi Thiên Tôn. Ồng bà sinh 6 trai: Tác, Chiêm, Trinh, Thể, Ba, Phục, mỗi tên viết chữ Hán đều có Nhân đứng ('í ) bên trái. Có phả ghi Chiêm chính là Chư vì ông được phong là Chiêu Quang Hầu (có nơi ghi Chư là con Chiêm, sẽ nói ở sau).

PHẦN HỆ 6: NGUYỄN CẢNH DỊ

Đời thứ mười sáu: NGUYỄN CÁNH DỊ

Ông là con trai Nguyễn Cảnh Chân. Sau khi cha bị Giản Định đế sát hại, ông mang quân từ Thuận Hóa ra cùng Đặng Dung, Nguyễn Súy phò Trần Trùng Quang đánh giặc Minh, chỉ huy trận đánh Bình Than (Chí Linh, Hải Dương), trận Hà Hồng (Hải Dương), trận Yên Bang (Quảng Ninh), trận Mộ Độ (Ninh Bình). Cuối cùng do so sánh lược lượng quá chênh lệch, ta thất trận. Ong cùng vua, Đặng Dung, Nguyễn Súy bị giặc bắt. Ông cùng vua nhảy xuống sông tự tử trên đường địch áp giải về Bắc quốc. Ông được Lê Thái Tổ truy tặng Thụy Quốc Công. Hậu duệ thành một phân hệ. Ông sinh ra Nguyễn Tuấn Thiện.

PHÂN HỆ 7: NGUYỄN CẢNH LỮ

Đời thứ mười sáu: NGUYỄN CẢNH LỮ

Theo Hoan Châu kỷ ông nguyên người phường Thiên Lý ở dọc đường Thiên Lý (số 18 hiện nay). Khi quân Minh xâm lược, ông cùng anh em chạy về Gia Viễn (Ninh Bình), rồi chuyển về làng Tuần Lỹ (Hương Sơn, Hà Tĩnh). Theo phả họ Nguyễn Nha Trang, Nguyễn Khoái (con Nguyễn Khoan), sau khi cha hy sinh, đã chuyển về quê mẹ ở Đông Triều. Hậu duệ đời thứ 5 của ông là Nguyễn Cảnh Chân (đời thứ 15 theo hệ Đại Tông) chuyển vào Nghệ An để chống Minh. Nguyễn Cảnh Chân có hậu duệ đời thứ 7 và thứ 8 là Huy và Hoan. Hoan

Châu kỷ cũng ghi hậu duệ đời thứ 6 và thứ 7 của Nguyễn Cảnh Lữ là Huy và Hoan. Như vậy Nguyễn Cảnh Lữ là con Nguyễn Cảnh Chân, tức anh em với Nguyễn Cảnh Dị.

Sau khi Lê Thái Tổ bình định xong, Cảnh Lữ chuyển đến bến Ngọc Sơn (Nam Đường) chèo đò. Phải ghi đúng địa danh Nam Đường. Ngày xưa Nam Đường thuộc phủ Anh Đô ở tả ngạn sông Lam gồm cả một phần Đô Lương, Thanh Chương và Nam Đàn ngày nay. Còn Thanh Chương ở hữu ngạn sông Lam gồm một phần Thanh Chương và Nam Đàn ngày nay. Thanh Chương hồi đó thuộc phủ Đức Quang. Đến đời Tự Đức mới cắt ngang Thanh Chương ở trên, Nam Đàn ờ dưới tức gồm cả tả ngạn, hữu ngạn như ngày nay. Cho nên ghi Nam Đường tức Nam Đàn là không đúng.

Cảnh Lữ sinh ra Luật, và trở thành thủy tổ của phân hệ 7.

PHÂN HỆ 8: NGUYỄN ĐÌNH HỢP Đời thứ mười sáu: NGUYỄN ĐÌNH HỢP

Phả Nguyễn Đình ở Thượng Xá (Nghi Lộc, Nghệ An) không ghi trên Nguyễn Đình Hợp là ai. Phả họ Nguyễn ở Nha Trang ghi Nguyễn Đình Xí cháu của Nguyễn Đình Hợp là hàng cháu của Nguyễn Cảnh Chân. Như vậy Nguyễn Đình Hợp là anh em họ với Nguyễn Cảnh Chân, tức đều là con của Nguyễn Đa Phương. Cũng có tư liệu nói Nguyễn Đình Hợp là hậu duệ của Nguyễn Hiến (con trai thứ 3 của Nguyễn Nộn). Về tuổi tác, ông là anh em của cảnh Chân. Cháu ông là Nguyễn Xí sinh năm 1397, con ông Nguyễn Hội có thể sinh năm 1370-1375, ông có thể sinh năm 1350-1355.

Nguyễn Cảnh Chân bị sát hại năm 1408, lúc ông khoảng 55-60 tuổi. Do con ông, Nguyễn Cảnh Dị, tiếp tục sự nghiệp của cha cũng làm tướng lúc 30-35 tuổi, nên cảnh Chân có thể sinh vào năm 1348-1353 xấp xỉ tuổi Nguyễn Hợp.

Khi Nguyễn Cảnh Chân vào Nghệ An chống giặc Minh, Nguyễn Đình Hợp vào ờ Cường Gián (một làng ở giáp giới Nghi Xuân và Thạch Hà, Hà Tĩnh) làm nghề muối. Cuối đời, ông tu ở chùa Kim Tự (chùa Vàng) với pháp danh là Pháp Đăng. Ông sinh ra Nguyễn Đình Hội. Nguyễn Đình Hội sinh ra Nguyễn Đình Xí.

PHÂN HỆ 9: NGUYỄN SÚY

Đời thứ mười sáu: NGUYỄN SÚY

Ông là con của Nguyễn Lang tức người con nuôi của Vinh quốc công Nguyễn Thành. Ông theo Trần Giản Định chống giặc Minh được phong làm đại tướng.

Năm Mậu Tỹ (1408), quân ta đại thắng ờ Bô Cô. Đặng Tất và Nguyễn Cảnh Chân tâu vua nên thừa thắng giải phóng cả đất nước. Giản Định bị bọn gian thần xúi giục không những không nghe lời tâu ấy mà còn giết hại cả Đặng Tất và Nguyễn Cảnh Chân. Các tướng Nguyễn Súy, Đặng Dung (con Đặng Tất) và Nguyễn Cảnh Dị (con Nguyễn Cảnh Chân) bỏ Giản Định, lập Quý Khoáng làm vua, tức Trần Trùng Quang.

Nguyễn Súy chỉ huy đánh thắng nhiều trận được phong làm Thái Phó Giang Quận Công. Nhưng cuối cùng do so sánh lực lượng chênh lệch, ta thua trận. Vua, Đặng Dung, Nguyễn Cảnh Dị và ông bị giặc bắt. Giữa đường bị áp giải sang Bắc quốc, vua, Đặng Dung, Nguyễn Cảnh Dị nhảy xuống sông tự tử. Riêng ông bị giặc giữ lại. Hằng ngày ông vẫn đánh cờ với viên giám thủ. Nhân khi tên này sơ hở ông cầm bàn cờ đánh chết nó rồi nhảy xuống sông tự tử. Đó là vào năm 1414. Ông sinh một trai là Nguyễn Môn, hình thành một phân hệ thứ 9.

PHÂN HỆ 10: NGUYỄN LONG

Đời thứ mười sáu: NGUYỄN LONG

Ông là con của Nguyễn Nhiên, hậu duệ đời thứ 7 của Nguyễn Khoan, đời thứ 6 của Nguyễn Thế Truyền (em của Nguyễn Khoái). Thực ra phân hệ này bắt đầu từ Nguyễn Thế Truyền. Ông sinh ra Nguyễn Ngạn Quang. Không nên nhầm với ứng Long sinh ra Nguyễn Trãi.

PHÂN HỆ 11: NGUYỄN DUY

Đời thứ mười sáu: NGUYỄN DUY

Đây là phân hệ có đệm chữ Duy, hậu duệ của Nguyễn Hiến (con thứ 3 của Nguyễn Nộn). Phân hệ này có đông đảo hậu duệ

ở Nghi Lộc, Nam Đàn (Nghệ An), ở Đông Phù (Thanh Trì) và một số nơi khác. Chuầ có tư liệu nên chưa ghi được cụ thể.

PHÂN HỆ 12: NGUYỄN ÚNG LONG (Chi Ngại - Nhị Khê)

Đời thứ mười sáu: NGUYỄN ỨNG LONG

Ông là con trai của Nguyễn Đạt (Phi Hổ), sinh năm Bính Thân (1356). Tuân theo di huấn của cha, ứng Long quyết chí học hành. Là người rất thông minh, mười một tuổi đã "xuất khẩu thành chương, thi thành thất bộ" (xuất khẩu ra văn chương, bảy bước xong bài thơ), mười bảy mười tám tuổi đã nổi tiếng hay chữ.

Tư đồ (như Thượng thư bộ Lễ) Trần Nguyên Đán nghe tiếng cho mời về dạy học cho con gái là Trần Thị Thái, một nàng xinh đẹp chim sa, cá lặn. Hai người yêu nhau, bà Thái có mang, ứng Long bổ trốn. Quan Tư đồ biết chuyện, cho tìm về và tác thành cho hai người.

Năm mười chín tuổi, ứng Long thi đậu đệ nhất giáp tiên sĩ cập đệ đệ nhị danh (tức Bảng nhãn) khoa Giáp Dần (1374) triều Trần.

Vì con nhà hàn gia (nhà dân nghèo) lại lấy vợ hoàng tộc, ông không được Trần Nghệ Tông trọng dụng chỉ cho giữ chức Kiểm chính ở Trung thư sảnh (Nghệ Tông nói lấy vợ con nhà phú quỹ là kẻ dưới phạm người trên, bỏ không dùng). Làm việc ít lâu, ông cáo quan về lập trường dạy học ở làng Nhị

Khê huyện Thượng Phúc, phủ Thường Tín, trấn Sơn Nam (nay là huyện Thường Tín, tỉnh Hà Tây), lấy hiệu là "Nhị Khê

tiên sinh"

Năm 1400, Hồ Quý Ly cướp ngôi vua. Cha con họ Hồ mời ông ra làm quan lúc ông đã 44 tuổi. Với tên tự là Phi Khanh ông nhận chức Hàn Lâm Viện Học Sĩ kiêm Tư Nghiệp (phó giám đốc) Quốc Tử Giám, tước Đại Lý Tự Khanh (hàm chánh tam phẩm).

im      1

Năm 1407, giặc Minh đánh chiếm nước ta. Ông bị giặc bắt

cùng cha con Hồ Quý Ly. Hai con ông là Phi Báo, Phi Hùng theo hầu, con cả là Nguyễn Trãi theo tiễn đến ải Nam Quan, khi sắp chia tay không cầm được nước mắt. Phi Khanh nói: "Cha nay đã già (khi bị bắt ông 51 tuổi) có hai em đi theo thu thập hài cốt là đủ. Chỉ có điều bìr,h sinh cha thích "Bái Vọng Sơn", sơn thủy hữu tình. Sau này cố đưa cha về chôn ở đấỵ, cha có chết củng như còn sống. Cha xem thiên văn, thấy phương tâỵ uượng khí rất thịnh, mây lành tỏa sáng, không quá hai mươi năm sau, nơi ấy sẽ có chân nhân nổi dậy. Cha lại thây con có tướng mạo khôi ngô, nên trở ưề chọn minh chủ mà thờ, dể rửa nhục cho nước, trả thù cho cha. Đó chính là đại hiếu, hà tất phải khóc lóc như nhi nữ mới là có hiếu".

Nghe lời, Nguyễn Trãi nuốt lệ bái biệt.

Sang Trung Quốc, Phi Khanh bị giam ở Vạn Sơn, Kim Lăng (nay thuộc Nam Kinh). Ồng mất năm Mậu Dần (1418)

62 tuôi. Hài cốt được hai con Phi Báo, Phi Hùng đem về ^n9 tại Bái Vọng Sơn (Chi Ngại).

Ông là người hay thơ. Thơ ông được SƯU tập thành cuốn Thanh hư động kỷ.

Tổ bà chánh thất: TRẦN THỊ THÁI

Bà là con gái thứ ba của Tư đồ (Bộ Lễ) Chương Túc Hầu Trần Nguyên Đán. Bà sinh ra: Trãi, Phi Báo, Phi Ly, Phi Hùng. Bà mất năm 1385.

Tổ bà kế thất-. Không rõ họ tên

Bà sinh ra Phi Bằng

TỔ bà thứ thất: NHỮ THỊ (không rõ tên)

Bà quê xã Mộc Nhuận (nay là xã Đông Tiến, huyện Đông Sơn, Thanh Hóa). Bà sinh ra Nhữ Soạn và Nhữ Trạch.

PHÂN HỆ 13: NGUYỄN CHÂN TÍNH (Đại Từ)

Đời thứ mười bốn: NGUYỄN CHÂN TÍNH

Phân hệ này được hình thành từ đời thứ 14. Gia phả họ Nguyễn thôn Đại Từ (xã Đại Kim, Thanh Trì, Hà Nội) ghi dòng họ này: "Là hậu duệ của Định Quốc Công Nguyễn Bặc, vị tướng số một đã giúp Đinh Tiên Hoàng dẹp loạn 12 sứ quân, vị Thái Tể đã giúp vua xây dựng đất nước. Ông đã cùng Đinh Điền khởi binh chống Lê Hoàn vì sợ họ Lê đoạt ngôi nhà Đinh. Sau khi Nguyễn Bặc bị Lê Hoàn sát hại, thể tất các con cháu phải xiêu tán, do đó có bộ phận chạy về Chi Ngại, huyện

Phượng Sơn, sau đổi là Phượng Nhãn trấn Bắc Giang hạ (nay thuộc huyện Chí Linh, Hải Dương)”.

Đến đời Trần, giặc Nguyên Mông xâm lược, ông Chân Tính thuộc họ Nguyễn Chi Ngại, chạy giặc về định cư ở Đại Từ và trở thành thủy tổ của phân hệ ở đấy. Đến đời chắt của Chân Tính là Nguyễn Triệu Chú (tức Nguyễn Uông) thì Lê Thái Tổ bình định xong giặc Minh. Vua cầu hiền. Một người anh em cùng họ với Triệu Chú là Nguyễn Trãi đề cử ông ra làm quan nhưng ông không chịu làm. Như vậy Nguyễn Trãi (đời thứ 17 tính theo đại hệ tông) ngang vai với Nguyễn Triệu Chú, thế thì Chân Tính, cụ của Triệu Chú là đời thứ 14. Chưa rõ so với phân hệ Chi Ngại, Nhị Khê thì phân hệ Đại từ là phân hệ trên hay dưới, ở đây tạm xếp là phân hệ 13.

Xin nhắc lại việc xếp thành phân hệ như trên là một quy ước để tiện theo dõi. Sau đây sẽ lần lượt giới thiệu hậu duệ của các phân hệ căn cứ vào tư liệu thu thập được.

 

Mục 5

CÁC VỊ HẬU DUỆ PHÂN HỆ 5 DƯỚI TRlỀU TRẦN

Ở đây chỉ ghi được một số vị của phân hệ 5 Nguyễn Biện

Đời thứ mười bảy: NGUYỄN TÁC

Ông là con cả của Nguyễn Biện. Ông cùng các em tất cả 6 người đều ở vùng Sơn Động (vùng Mường) xây dựng thành một vùng dân cư. cả 6 anh em đều làm quan lang. Riêng ông giữ chức Quản Nội.

Phả Quỳnh Sơn Hầu Nguyễn Lữ đã ghi nhầm ồng sinh ra Nguyễn Bá Lân. Thực ra theo phả Ngô Khê hạ (Ninh Bình), Nguyễn Bá Lân phải là chút tức hậu duệ đời thứ 5 của ông. Quỳnh Sơn Hầu còn ghi gộp hành trạng của Nguyễn Lý tổ bốn đời của Nguyễn Bá Lân vào hành trạng của Nguyễn Bá Lân. Nguyễn Lỹ là con của Nguyễn Tác. Nguyễn Lý tham gia hội thề Lũng Nhai năm 1417. Còn Nguyễn Bá Lân tham gia cùng Nguyễn Lang hạ bệ Lê Uy Mục năm 1510. Hai người sống cách nhau hàng trăm năm, Nguyễn Bá Lân không thể là con của Nguyễn Tác. Phả Ngô Khê hạ ghi, ông là hậu duệ đời thứ 4 của Nguyễn Lý.

Vùng Mường Quảng Tế do dòng họ Nguyễn Đình xây dựng hiện nay vẫn phát triển. Bà con thường về dự giỗ tổ ờ Gia Miêu.

Nguyễn Tác là thủy tổ của một đại chi có hậu duệ ở Gia Miêu, Ngô Khê hạ, Hoa Lư, Ninh Bình, Nam Chân (Nam Định).

Đời thứ mười bảy: NGUYỄN CHIÊM

Ông là con thứ của Nguyễn Biện. Ông cùng anh là Nguyễn Tác vào lập vùng Sơn Động. Ông táng tại núi Thiên Tôn, thụy là Yên Phúc.

Tổ bà: MAI THỊ (không rõ tên)

Bà táng tại núi Thiên Tôn. Ông bà sinh: Chư, Kinh, Vinh, Mẫn và một số không rõ (theo phả Quỳnh Sơn Hầu).

 

 

 

Chương Bốn

CÁC VỊ TỔ HỌ NGUYỄN DƯỚI TRIỀU LÊ SƠ

 

Có thể chia triều Lê làm hai thời kỳ để nói sự phát triển của họ Nguyễn bởi vì sự phát triển của mỗi thời kỳ của triều Lê chi phối lớn đến sự phát triển này: Thời kỳ Lê sơ từ Khởi nghĩa Lam Sơn (1418) đến khi Mạc Đăng Dung cướp ngôi (1527); Thời kỳ Lê Trung hưng từ khi nhà Lê bắt đầu Trung hưng (1533) cho đến khi nhà Lê chấm dứt (1789). Trong chương bốn sẽ nói các vị tổ trong thời kỳ I.

Những sự kiện lớn chi phối sự phát triển của họ Nguyễn trong thời kỳ này là: 10 năm chiến tranh giải phóng (1418 - 1428); vụ án Lệ Chi viên (1442); việc hạ bệ Nghi Dân tôn phò Lê Thánh Tông lên ngôi (1460).

Trong thời kỳ này, hậu duệ họ Nguyễn thuộc các phân hệ đã phát triển như sau. (ở đây chỉ ghi những phân hệ có tư liệu).

Mục 1

CÁC VỊ TỔ THUỘC HỆ I

I- Hâu duệ của Nguyễn Sùng (Phân hê 3)

ĐẠI CHI NGUYỄN PHÚC TÂM

Đời thứ mười chín: NGUYỄN (QUÁCH) PHÚC TÂM

Phả cũ ghi ông là con cả của Nguyễn Sùng, ông đậu Thám hoa năm Quý Mùi. Năm Quý Mùi theo dương lịch vào thời kỳ lịch sử này là các năm 1343, 1403, 1463, 1523. Không thể là năm 1343 vì chính lúc đó Nguyễn Sùng mới ra đời. Nếu là năm 1403 thì năm ấy dưới triều nhà Hồ. Nguyễn Sùng đang phải ẩn tránh nhà Hồ vì họ đã sát hại cha mình là Nguyễn Minh Du. Cho nên chắc chắn Chính Tâm không thể đậu Thám hoa vào năm 1403. Có nhiều khả năng ông đậu vào năm 1463. Nếu đậu vào năm 1463 tức vào thời Lê Thánh Tông thì Phúc Tâm không thể là con của Nguyễn Sùng, bởi vì Nguyễn Sùng, con cả của Nguyễn Minh Du, anh của Nguyễn Thư, Nguyễn Biện. Nguyễn Biện sinh vào khoảng năm 1345 - 1350, như vậy Nguyễn Sùng có thể sinh trước Nguyễn Biện 3 - 5 năm tức vào năm 1340 - 1347. Ông còn phò Giản Định, Trùng Quang và khi nhà Hậu Trần thất bại vào năm 1413, thì Nguyễn Sùng đã khoảng 70 - 75 tuổi. Ông không có điều kiện tham gia cuộc Khởi nghĩa Lam Sơn nổ ra năm 1418. Chính Nguyễn Biện, em ruột ông và các con cũng không thể tham gia Khởi nghĩa Lam Sơn mà các cháu của Nguyễn Biện mới tham gia. Còn Nguyễn Phúc Tâm, hậu duệ của Nguyễn Sùng, đậu Thám hoa năm Quý Mùi (1463) dưới triều Lê Thánh Tông, không thể là con cả của Nguyễn Sùng. Con cả Nguyễn Sùng có thể sinh vào khoảng năm 1360 - 1365... Không thể đậu Thám hoa khi khoảng 

100 tuổi vào năm 1463. Cho nên Phúc Tâm phải là chắt tức hậu duệ đời thứ tư của Nguyễn Sùng. Trước Phúc Tâm, có thể có những vị cha ông đã tham gia Khởi nghĩa Lam Sơn. Phả cũ ghi năm Nhâm Dần (1422) có việc đổi thành họ Quách với lý do tránh sự đàn áp của nhà Hồ là không đúng vì nhà Hồ đã bị diệt năm 1407. Việc đổi họ có thể vào năm Nhâm Dần (1482) với lý do khác khi hậu duệ của Nguyễn Sùng có bộ phận đã di cư từ Cao Hương (Vụ Bản - Nam Định) vào thôn Thượng Gia, xã Văn Lãng, tổng Phú Hà, huyện Lỗi Dương - Thanh Hóa (nay là xóm 9, xã Phú Yên, huyện Thọ Xuân - Thanh Hóa). Việc chuyển cư vào khu vực gần Lam Sơn cho thấy có khả năng cha ông của Phúc Tâm đã tham gia cuộc khởi nghĩa dưới sự lãnh đạo của Lê Lợi.

Tổ bà: Từ THUẬN AN NHÂN

Bà sinh ba trai:

1. Phúc Đạo hiệu Từ Ý ở thôn Xuân Phổ, huyện Lỗi Dương (nay là thôn Xuân Phả, xã Xuân Trường, huyện Thọ Xuân, Thanh Hóa).

2. Phúc Minh ở thôn Kim Phúc (Xuân Trường, Thọ Xuân).

3. Phúc Chính ở thôn Thượng Gia xã Yên Lãng (nay là xóm 9, xã Phú Yên, huyện Thọ Xuân).

Như vậy là ba người con ở hai xã ba thôn khác nhau. Có lẽ hậu duệ của Nguyễn Sùng không phải chỉ có ba người con của Chính Tâm mà có thể có những chi nhánh khác ở Cao Hương (Thiên Bản) và ở nơi khác mà chưa phát hiện được.

Tháng 2 năm 1987, hậu duệ đã trùng tu ngôi mộ ông Chính Tâm và nhà thờ ông.

Ở hai trụ ngôi mộ phát hiện đôi câu đối như sau:

Hổ Bảng danh gia truyền lệnh diệp

Mã hình vượng địa thuật văn nhưng

Tạm dịch:

Bảng hổ (lòm tướng) nhà có tiếng truyền con cháu

Hình đất con ngựa vượng địa làm thang mây.

Đôi câu đối này cho ta phán đoán ông làm tướng dưới triều Lê thánh Tông và có lẽ từng theo vua Nam chinh năm 1471.

Con trai thứ ba là Phúc Chính (còn người con đầu và thứ hai vô khảo).

Ông mất ngày 15 tháng 9, bà mất ngày 3 tháng 3.

Đời thứ hai mươi: NGUYỄN (ĐỖ) PHÚC CHÍNH

Ông là con thứ ba của Phúc Tâm. Phả ghi năm Nhâm Dần, Vinh Trụ thứ 5 ông đổi họ Quách thành họ Đỗ.

Năm Nhân Dần 1422, quân Minh còn chiếm đóng nước ta và dân tộc ta đang tiến hành cuộc chiến tranh giải phóng, lúc này ông Phúc Chính có thể chưa ra đời. Có nhiều khả năng năm Nhâm Dần là năm 1482 dương lịch. Nhưng năm ấy là niên hiệu Hồng Đức triều vua Lê Thánh Tông, không phải là niên hiệu Vĩnh Trụ thứ 5. Một vấn đề được đặt ra là cha của ông là Phúc Tâm đậu Thám hoa năm 1463 dưới triều vua Lê Thánh Tông, đến năm 1482 tức 19 năm sau cũng dưới triểu Lê Thánh Tông, tại sao ông phải đổi họ rồi đi thi. Cần xem lại niên hiệu Vĩnh Trụ là của vua nào. Cho nên năm Nhâm Dần có thể là năm 1523.

Ông giữ chức Viên ngoại lang (một chức quan tùng ngũ phẩm) có tên tự là Công Quân, giỗ ngày 7 tháng 12, mộ táng tại Vườn Hồng - Đồng Mon.

Tổ bà: hiệu TỪ HUỆ, giỗ ngày 15 tháng 8. Có con trai: Phúc Ỵên.

Đời thứ hai mốt: Đỗ PHÚC YÊN

Ông là con Nguyễn (Đỗ) Phúc Chính, tự Văn Nhạn còn tự Lô Đỉnh tiên sinh, đỗ tiến sĩ (chế khoa), làm Tả Thị Lang (thứ trưởng), được vào chầu vua ở điện Kinh Diên.

Tổ bà: hiệu Tự TÍN, giỗ ngày 24 tháng Năm.

Có các con trai là Đỗ Phúc Nguyên, Phúc Trung, Phúc Thiện, Phúc Chính, Phúc Tính, Phúc Lương.

Đời thứ hai hai: Đỗ PHÚC NGUYÊN

Ông là con cả của Đỗ Phúc Yên, giữ chức Đô Chỉ Huy Sứ Đồng Tri Đô Chỉ Huy Sứ Phủ, Đô Lễ Hầu. Giỗ ngày 10 tháng Giêng.

Tổ bà: hiệu TỪ Ý, giỗ ngày 10 tháng 8, sinh con trai: Thư.

Đời thứ hai hai: Đỗ PHÚC TRUNG

Ông là con thứ hai của Đỗ Phúc Yên, làm tri huyện Dương Khê, được phong chức Dương Vũ Uy Dũng Tán Trị Công Thần.

Đời thứ hai hai: Đỗ PHÚC THIỆN

Ông là con thứ ba của Đỗ Phúc Yên, được phong chức Dương Vũ Uy Dũng Tán Trị Công Thần, Tham Tán tước Thiện Đức Hầu.

Đời thứ hai hai: Đỗ PHÚC CHÍNH (HUY)

Ông là con thứ tư của Phúc Yên. Có thể có sự nhầm lẫn bởi vì trùng tên với ông nội cũng gọi là Phúc Chính. Có tên húy là Huy cho nên ghi là Đỗ Phúc Huy thì đúng hơn. Giỗ ngày 15 tháng 7.

Tổ bà: hiệu TỪ LIÊM, giỗ ngày 8 tháng 5, mộ táng tại Đồng Mon. Có con trai là Đặng (Hiền).

Đời thứ hai hai: Đỗ PHÚC TÍNH

Ông là con trai thứ năm của Phúc Yên. Vô khảo.

Đời thứ hai hai: Đỗ PHÚC LƯỢNG

Ông là con trai thứ sáu của Phúc Yên. Vô khảo.

Đời thứ hai ba: Đỗ PHÚC ĐẶNG (HIỂN)

Ông là con Phúc Chính (Huy), giỗ ngày 6 tháng 9.

Tổ bà: húy TĨNH, hiệu TỪ TRINH, giỗ ngày 20 tháng 9. Con trai út là Diêu tự Phúc Lảnh.

Đời thứ hai bốn: Đỗ PHÚC DIÊU (Phúc Lảnh hoặc Viết Tuấn)

Ông là con Phúc Đặng (Hiền) giỗ ngày 16 tháng 11.

TỔ bà: NGUYỄN THỊ HÀNH, hiệu TỪ THIỆN, sinh 7 trai: 1. Trọng Liêu; 5. Trọng Tân; 6. Trọng Chân; còn 4 người vô khảo. Bà mất ngày 23 tháng 7.

Đời thứ hai lăm: Đỏ TRỌNG NHIEM (LIÊU)

Ông là con Phúc Diêu (Lảnh), ông tự là Thuần Triết. Ông là Giám sinh (sinh viên) Quốc tử giám. Như vậy, thân phụ ông Phúc Diêu phải có vai vế trong triều đình. Ông được bổ nhiệm làm tri huyện Hội Ninh (?) sau làm cẩn sự lang rồi làm Huấn đạo phủ Đức Quang (phủ Đức Thọ nhưng rộng hơn Đức Thọ).

Đời thứ hai lăm: Đổ TRỌNG TÂN (TÂM)

Ong là con thứ 5 của Phúc Diêu (Lảnh), có hiệu là Hòa Lạc tiên sinh. Ông giữ chức Thái bộc tự thừa (một chức quan 

lớn hàm tam phẩm), mất ngày mồng 5 thány 6, được ban tên Thụy là Hòa Lạc. Mộ táng tại Đồng Mon.

Tổ bà: TRỊNH THỊ, hiệu TỪ THỤC phu nhân (phải là vợ quan lớn mới được tặng tước phu nhân). Giỗ ngày 19 tháng 2, mộ táng tại Mả Bà (nay là trường cấp 1 - 2 xã Phú Yên, huyện Thọ Xuân).

Tổ bà thứ thất: hiệu TỪ HÒA, mất ngày 10 tháng 10, mộ táng tại Đồng Mon, ruộng nhà, bờ con Mộc, sinh con trai là Xuân Khuê.

Đời thứ hai sáu: Đỗ XUÂN KHUÊ

Ông là con thứ của Trọng Tân, tự là Quốc Khuê làm huyện thừa huyện Bình Sơn (Quảng Ngãi). Giỗ ngày 6 tháng 1.

Tổ bà: hiệu TỪ NGHI, sinh 5 trai: 1. Toẳn; 2. Văn Tước; 3. Văn Thiệu; 4. Văn Đình; 5. Văn Học.

Gia phả dòng Nguyễn Đỗ còn ghi tiếp đến đời khoảng 33, 34. Vì chưa xếp được rõ thế thứ nên không viết tiếp vào đây. Qua những điểm ghi trong phả có thể nêu lên một số ý kiến sau:

1. Chắc chắn còn nhiều chi phái do việc mai danh, ẩn tích, đổi họ 3 lần nên chưa chắp nối được. Mong các chi phái ấy tìm cách liên hệ để việc viết phả được đầy đủ hơn. Cần nghiên cứu mối quan hệ với dòng Nguyễn khác.

2. Ba lần đổi họ vì lý do gì phả không nói rõ, mà chỉ nói đổi sang họ Đỗ vào năm Nhâm Dần (1422) khi dân tộc ta đang đánh giặc Minh, khi nhà Hồ đã bị diệt càng không có lý. Có thể phán đoán đổi sang họ Quách là vào khoảng sau năm 1388 khi Hồ Quý Ly sát hại Nguyễn Minh Du. Chưa rõ vì sao và khi nào đổi sang họ Hoàng. Còn đổi thành họ Đỗ là khi chuyển vào Thanh Hóa.

3. Phân hệ Nguyễn Sùng ít có điều kiện có những vị là Bình Ngô khai quốc công thần lớn vì sau khi nhà hậu Trần thất bại, Nguyễn Sùng đã cao tuổi phải lánh nạn ở Cao Hương, ít có điều kiện về lực lượng con người và vật chất như Nguyễn Biện. Tất nhiên ông có thể có con cháu đánh giặc Minh nhưng ở cấp thấp hoặc bị hy sinh mà phả không ghi được.

4. Phân hệ Nguyễn Sùng cũng có truyền thống khoa bảng làm quan văn mà phả có ghi nhưng chưa rõ lắm. Ngoài ra có một số giữ chức quan võ (bậc tướng).

2. Hậu duệ cua Nguyễn Biện (Phân hệ 5 Gia miêu ngoại trang)

ơ trên đã ghi đời thứ mười sáu là Nguyễn Biện, đời thứ mười bảy con cả của Nguyễn Biện là Nguyễn Tác. Vì các con của Nguyễn Tác hình thành nhiều đại chi ở Khu Mường chưa có tư liệu nên không thể ghi. ở đây chỉ ghi được đại chi Nguyễn Lý. (Việc ghi thành các đại chi ở đây cũng là một quy ước để tiện theo dõi).

 

ĐẠI CHI: NGUYỄN LÝ

Đời thứ mười tám: NGUYỄN LÝ

Có nhà viết phả gần đây ghi Nguyễn Lý còn có tên là Nguyễn Tác (Các) là con trưởng của Nguyễn Ưng Long, anh ruột của Nguyễn Trãi. Cách ghi này không đúng. Các phả gếc Gia Miêu và phả Ngô Khê hạ (Hoa Lư - Ninh Bình) nơi thờ Nguyễn Lý ghi Nguyễn Lý gốc Gia Miêu theo hệ Nguyễn Đình, không phải cùng gốc Chi Ngại, Nhị Khê với Nguyễn Ứng Long.

- Nguyễn Trãi. Phả Nhị Khê ghi Nguyễn Trãi là con cả của ứng Long. Xưa nay chính sử cũng ghi như vậy. Chiía có phả cũ nào ghi Nguyễn Lý là con trưởng của ứng Long cả.

Ông là con của Nguyễn Tác, có nhà ở Gia Miêu ngoại trang, cư trú ở thôn Đào Xá (Lam Sơn) còn có tên là làng Tép.

Năm Bính Thân (1416), ông tham gia hội thề Lũng Nhai, gồm mười tám người do Lê Lợi đứng đầu, cùng nhau sống chết đánh đuổi giặc Minh và tôn phò Lê Lợi làm minh chủ. Với quyết tâm sống chết vì nước, ông dặn người nhà cứ lấy ngày ông ra đi làm ngày giỗ ông. Sau hội thề, ông tự xây dựtig lực lượng và ngày mồng 2 tháng Giêng năm Mậu Tuất (1418) ông đem quân tham gia cuộc dựng cờ khởi nghĩa Lam Sơn, được cử giữ chức Thứ Thủ (phó chỉ huy) đơn vị Thiết Kỵ gồm 200 người tinh nhuệ trong tổng số 2.000 nghĩa quân lúc đầu.

Chỉ mười ngày sau khi khởi nghĩa, nghĩa quân đã phải chống lại một cuộc tiến công của giặc Minh. Họ đã mu’ll trí phục kích giết hàng nghìn địch ở Lạc Thủy buộc Mã Kỳ phải rút quân. Nguyễn Lý đã góp công lớn trong trận phục kích thắng lợi này.

Trong các lần địch bao vây tiến công ngày càng lớn nghĩa quân ở vùng núi, ông đều có lập công diệt nhiều địch. Mùa xuân năm Canh Tý (1420) ông cùng Phạm Vấn chỉ huy đánh tan đạo quân Minh khá lớn do Lý Bân chỉ huy ở Bồ Mộng. Trên đường nghĩa quân tiến vào Nghệ An, ông cũng góp công đánh bại quân địch truy kích. Với nhiều chiến công, ông được phong chức Thiếu uý (Phó tổng binh, cấp phó của Thái úy tức Tổng binh).

Năm Bính Ngọ (1426) ông cùng Lê Sát chỉ huy nghĩa quân hạ thành Xương Giang, một trận đánh thành rất khó khăn nhưng rất quan trọng, cần thiết để cắt đứt đường viện binh địch có thể tiến từ biên giới đến thành Đông Quan đang bị quân ta bao vây. Trong trận này, vì biết dùng phi thê (thang bay) và ưân xa (xe có che ở trên và mặt trước) để tiếp cận và trèo thành nên mới đột phá xung phong hạ được thành.

Sau đó ông được lệnh đưa quân vây địch ờ nam thành Đông Quan.

Khi nhà Minh đưa mười vạn quân tăng viện, sau trận đầu ta giết chết Tổng binh Liễu Thăng ở ải Chi Lăng, ông và Lê Văn An đã đem ba vạn quân phân đoạn phục sẵn đón đánh địch trên đường từ Chi Lăng xuống Xương Giang. Những trận phục kích lần lượt diệt từng bộ phận quan trọng địch, cộng tất cả 2 vạn tên, giết chết tướng giặc Lương Minh, buộc Thượng thư Lý Khánh phải thắt cổ tự tử. 5 vạn địch còn lại không đủ sức hạ thành Xươnq Giang do quân ta chiếm đóng mà buộc phải trụ lại ờ cánh đồng Xương Giang và bị quân ta vây chặt.

Nguyễn Lý đã được lệnh đưa quân tham gia trận đánh Xương Giang, dưới sự chỉ huy của Trần Nguyên Hãn. Trận đánh đã giành toàn thắng, 5 vạn quân Minh bị diệt. Cánh viện binh của Mộc Thạnh ở Vân Nam sang phải rút chạy. Tổng binh Vương Thông ở Đông Quan buộc phải đầu hàng rồi rút quân về nước.

Ngày 18 tháng 10 năm Mậu Thân (20/11/1428) trong cuộc bình công khen thưởng, ông được vua phong "Bình Ngô Khai Quốc Công Thần, Suy Trung Tán Trị Hiệp Mưu Công Thần, Nhập Nội Tư Mã, Tham Dự Triều Chính". Sau được gia phong "Nhập Nội Kiểm Hiệu Đại Tư Mã" và được ban quốc tính (họ vua) nên được gọi là Lê Lỵ.

Ngày mồng 5 tháng 5 năm Kỷ Dậu (6/6/1429) ông được giao giữ chức Khanh Thượng hầu, thống lĩnh các công thần, được ban 2.073 mẫu 6 sào 5 thước ruộng đất.

Sau khi Lê Thái Tổ băng hà, ông bị Lê Sát (nhiếp chính), đưa đi làm Đô Tổng quản lộ Thanh Hoa rồi giáng xuống đồng (phó) Tổng quản lộ Bắc Giang hạ. Sau khi Lê Sát bị bãi chức, ông được gọi về triều và được giao giữ chức "Nhập Nội Thiếu Úy, Tri Nội Mật Viện Sự, Tham Dự Triều Chính" kiêm "Tham Tri Tây Đạo Chủ Vệ Quân Sự".

Ông mất ngày 20 tháng 8 năm Canh, Thân (1440) được vua ban tên thuy là Cương Nghị, mộ táng tại thôn Dựng Tú (Thọ Xuân - Thanh Hóa) ngay tại quê hương của Lê Lai.

Năm 1484, Lê Thánh Tông truy phong ông là Thái Phó Dụ Quốc Công, Thượng Trí Tự, Trụ Quốc.

Các đời vua Lê phong ông làm "Đại vương, trung đẳng phúc thần" và cấp 50 mẫu ruộng cho hậu duệ cúng tế. Số lộc điền này được cấp ở các xã Nam Chân, tổng Bái Dương (nay thuộc huyện Nam Trực - Nam Định).

Hiện ở Ngô Khê hạ có một đền thờ và một chi họ Nguyễn Đình rất đông. Trong ngôi đình ờ hậu cung có cả tượng thờ khởi tổ Nguyễn Bặc, bởi vì đây là nơi Lê Hoàn hành hình Nguyễn Bặc, nơi Lý Thái Tổ có chiếu chỉ lập đền thờ Nguyễn Bặc. Vì Nguyễn Lý, hậu duệ đời thứ mười tám của Nguyễn Bặc là Bình Ngô khai quốc công thần, có công lớn với nước nên cũng được thờ ở đây.

Năm 1999, nhân ngày giỗ của Nguyễn Bặc, Ban liên lạc dòng họ đã cung tiến một đôi câu đối như sau:

Khởi tổ phò Đinh Hoàng, phạt sứ huân công thiên cổ ưĩ

Duệ tôn sự Lê Đế, binh Ngô chiến tích ức niên thùy.

(N. T. Nguyên phụng soạn).

Tạm dịch:

Khởi tổ phò Đinh Hoàng, công đầu dẹp sứ quân ưĩ đại muôn thuở

Hậu duệ thờ Lê Đế, chiến tích bình quân Ngô lưu lại vạn năm

Đại chi Nguyễn Tác trong đó có Nguyễn Lý là một dòng họ lớn. Gia phả họ Nguyễn Ngô Khê hạ ghi Nguyễn Lý có con là Nguyễn Bá Nhưng, cháu là Nguyễn Bá... (không rõ tên), chắt là Nguyễn Bá Lân, chút là Nguyễn Văn Lữ.

Đời thứ mười chín: NGUYỄN BÁ NHƯNG

Ông là con của Nguyễn Lý, ông được ấm phong là "Gia Hành Đại Phu".

Đời thứ hai mươi: NGUYỄN BÁ...

Mất một đời không ghi được.

Đời thứ hai mốt: NGUYỄN BÁ LÂN

Ông là cháu của Nguyễn Bá Nhuhg, chắt của Nguyễn Lý. Ông làm tướng thời Lê Hiến Tông.

Năm Giáp Tý (1504) cảnh Thống thứ 7, Lê Hiến Tông băng, Lê Túc Tông nối ngôi. Túc Tông băng không con. Nội thần Nguyễn Như Vỹ và Kinh phi họ Nguyễn (vợ Hiến Tông) muốn đưa Ưy Mục lên ngôi. Thái Hoàng Thái Hậu cho Uy Mục là con của tỳ thiếp không thể nối dõi đại thống nên đi đón Lã Côi Vương Lê Oanh về lên ngôi. Nguyễn Như Vỹ đóng cửa cung lập Uy Mục lên ngôi. Ưy Mục đã giết bà nội là Ngọc Hằng, giết rất nhiều trung thần của nhà Lê trong đó có phò mã Nguyễn Hòa cảnh (Kính). Các trung thần do Nguyễn Văn Lang đứng đầu, Nguyễn Bá Lân làm phó đã rút quân về Thanh Hoa, chuẩn bị lực lượng và vào đầu năm Canh Ngọ (1510) kéo quân ra Thăng Long đánh đổ Lê Uy Mục, tôn phò Lã Côi Vương lên ngôi, tức Lê Tương Dực.

Hiện ờ phường Kim Liên (nam Hà Nội), còn có bia ghi công việc ông đưa quân ra Thăng Long để phò lập vua mới.

Ông được vua phong: "Dương Vũ Hiệp Mưu, Đồng Đức, Hiếu Trung Khai Quốc Công Thần, Đặc Tiến Kim Tử Vinh Lộc Đại Phu Tán Lý Hiếu Thuận, Khai Phủ Đồng Nghi, Tam Ty Bình Chương Quân Quốc Trọng Sự, Thừa Tướng, Thượng Tể, Thái Phó Uy Quốc Công".

Ông có con là Nguyễn Văn Lữ ở thôn Cổ Đô huyện Ba Vì (Hà Tây) có một chi họ íớn thờ ông làm thủy tổ.

Đời thứ hai hai: NGUYỄN VĂN LỮ

Ông là con trai của Nguyễn Bá Lân. Ông theo cha đem quân rá Thăng Long hạ bệ Uy Mục, phò lập Tương Dực, được phong là Bình Quận công. Bia Kim Liên (nam Hà Nội) có ghi công ông. Thời Lê Chiêu Tông, ông làm tướng đánh Trần Cao, sau thời Lê Trung Hưng, ông theo Lê Trang Tông chống Mạc.

Ong có con là Nguyễn Đình Thịnh, Nguyễn Đình Lợi.

Có người ghi Lữ chữ Hán nghĩa là bạn bè thành Lự chữ Hán nghĩa là lo lắng và ghi thêm Nguyễn Văn Lữ tức em ruột của Nguyễn Văn Lự. Chắc chắn không phải như vậy. Trong giô phả do chính Quỳnh Sơn Hầu Nguyễn Văn Lữ viết có ghi rõ Bình quận công cũng tên là Nguyễn Văn Lữ không phải Lự. Chính Quỳnh Sơn Hầu đã ghi gộp hành trạng của Nguyễn Bá Lân với hành trạng của Nguyễn Lý làm một. Nếu Quỳnh Sơn Hầu là con đẻ của Nguyễn Bá Lân thì không thể có sự nhầm lẫn đó. Quỳnh Sơn Hầu Nguyễn Văn Lữ là hậu duệ của Nguyễn Công Lỗ sẽ nói ở sau.

* * *

Ghi chú: Nguyễn Biện có 6 con trai, ở trên mới ghi được hậu duệ của dòng Nguyễn Tác con cả của ông. Sau đây sẽ ghi tiếp hậu duệ của Nguyễn Chư. Các đại chi khác không có tư liệu.

ĐẠI CHI: NGUYỄN MỸ

Đời thứ mười tám: NGUYEN MỸ

Ông là con trưởng của Nguyễn Chư.

Ông theo Lê Thái Tổ đánh giặc Minh, có công được giao giữ chức Thiên Hộ (hậu duệ vô khảo). Có thể là một đại chi.

ĐẠI CHI: NGUYỄN DỤ

Đời thứ mười tám: NGUYEN DỤ

Ông là con thứ hai của Nguyễn Chư.

Ong theo Lê Thái tổ đánh giặc Minh, được giao giữ chức ở Ty Thị Cận (hậu duệ vô khảo). Có thể là một đại chi.

ĐẠI CHI: NGUYỄN DÃ

Đời thứ mười tám: NGUYỄN DÃ

Ong là con thứ ba của Nguyễn Chư.

Ông theo Lê Thái Tổ làm tướng, lập nhiều chiến công được mệnh danh là "Sơn đầu tướng quân". Sau thắng lợi, ông được phong là Bình Ngô khai quốc công thần, giữ chức Đô đốc Thiêm Phủ sự coi việc quân dân hai phủ Lâm Thao và Đoan Hùng, được tiến phong Dũng Quốc Công. Có thể khi xẩy ra sự kiện Trần Nguyên Hãn bị nghi oan phải nhảy xuống sông tự vận và Nguyễn Trãi bị hạ ngục năm 1429, ông sợ bị liên lụy nên cùng hai con là Chất và Long, đem theo trên nghìn người chạy sang Vân Nam và đổi thành họ Ngạc. Đời Lê Hy Tông (1679 - 1717), có người từ Vân Nam sang cho biết con cháu đại chi họ Ngạc đông đúc.

ĐẠI CHI: NGUYỄN CÔNG DUAN

Đời thứ mười tám: NGUYỄN CÔNG DUAN

(còn đọc là Doãn, Chuẩn)

Ông là con thứ tư của Nguyễn Chư.

Ông theo Lê Thái Tổ đánh giặc Minh lập nhiều công. Lúc đầu được phong là Trợ Thuận Hầu. Công lao lớn nhất của ông là lo việc quân lương của nghĩa quân Lam Sơn. Khi mới khởi nghĩa, ông cung cấp được 3.500 thạch. Khi nghĩa quân bị bao vây, ông cũng chạy được 5.300 thạch. Khi nghĩa quân vào Nghệ An, ông chạy được 7.500 thạch lương, 500 bao muối.

Sau thắng lợi, ông được phong là Bình Ngô khai quốc công thần, Đại đội trưởng (một cấp tướng) của Bắc Vệ Quân, Phụng Sự Đại Phu Đô Đốc Thiêm Sự. Sau có lúc ông cầm quân giữ sách Lê Hoa (Lào Kay) quân Mộc Thạnh cũng phải kiêng nể. Ông được mệnh danh là "Hổ đầu tướng quân".

Khi về già, ông được nắm quyền coi việc quân dân của huyện nhà ở Tống Giang, được ban quốc tính và 470 mẫu 5 sào ruộng đất vĩnh viễn làm của riêng. Ồng đã xin đổi tên huyện Tống Giang thành huyện Tống Sơn, thôn Gia Hưng thành Gia Miêu ngoại trang.

Ông mất ngày 1 (có phả ghi ngày 7) tháng 7, được ban tên thụy là Bảo Toàn.

Lê Hiến Tông truy tặng ông là Thái Bảo Hoành Quốc Công. Mộ táng tại núi Thiên Tôn.

Vợ chánh thất: MAI THỊ ÁNH

Bà được phong Lệnh nhân. Vua Hiến Tông truy phong Hợp phu nhân. Bà có tên hiệu là Từ Nhan, mất ngày 8 tháng 4, táng tại núi Thiên Tôn.

Ông sinh 7 con trai: Đức Trung, Nhân Chính, Nhữ Hiếu, Nhữ Trác, Văn Lỗ, Văn Lễ, Bá Cao;

Và 3 con gái: Thị Phát, Thị Đôi, Thị Ba. Phả Hải Hậu ghi thêm một con trai thứ 8 là Nguyễn Công Cơ (vô khảo).

 

Phụ lục 4 - THƯỢNG DỤ CHỈ (bản dịch)

Gửi Bắc vệ quân đại đội trưởng Nguyễn Công Duẩn ở Gia Miêu ngoại trang, huyện Tống Sơn, lộ Thanh Hoa:

Trẫm xét ngàỵ xưa tổ phụ ngươi làm quan dưới Đinh triều, Lỷ đại, Trần gia hết lòng thờ vua, đời đời trung trinh, kế truyền con cháu.

Gần đây, họ Hổ bất nhân, giặc Minh dòm ngó, đem binh đánh nước ta, loạn lạc khắp nơi, rối ren liên tiếp, nhân dân cơ khốn.

Trẫm uốn thường dân, thừa thời ứng vận, chiêu tập hiền năng, cùng các ngươi đồng tâm giành lợi nước nhà.

Ngươi theo từ lúc hoạn nạn, hết lòng dốc sức. Khi Lam Sơn mới nhóm, ngươi tiến Iương 3.500. Kíp khi quân ta thất tán, lánh nạn tạm cứ Linh Sơn, thiếu thốn lương thực, ngươi diều lương 5.300 cho mọi người ăn; lại đem quân giải uây thoát nạn vượt sang Ai Lao, ngươi lòng dạ không /ay tiếp tục thu ìương chở đến quân doanh chưa khi nào thiếu.

Kíp đến khi quân ta vào đất Nghệ An, ngươi tiến ¡ương 7.500, muối 500 bao, xoay sở bốn bề, chạy ưạy mọi lúc.

Đến Xương Giang Chi Lăng băng tan, ngói đổ, Ninh Kiều Tốt Động trúc chẻ tro bay, việc cấp vật, điều lương đều do sức ngươi cả.

Nay hợp lòng người, thuận ỷ trời, lấy lại kinh thành, tôn yên xã tắc, Trẫm bảo triệu hạ bọn Lê Văn Linh, chiêu theo lệ xưa luận công khen thưởng đê đáp lại các nguụên huấn, để thỏa nguyện vọng mọi người.

Xét đình tấu thấy ngươi điều quân, tiên ¡ương trước sau không mệt, ra vào nguụ hiếm không sợ chết sống, xét công ngươi uì việc bẻ gãy mũi nhọn, đánh quằn lưỡi sắc, thừa thắng xuất kỷ binh, rong ruổi đông tâỵ, ngân sông bạt núi để lo uiệc chì dùng của nước, mọi người đều biêt.

Trẫm rất cảm kích, nên gia ân vinh ¡ộc, ban tước lớn báo đáp công. Nay thăng Nguyễn Công Duân làm Phụng Trực Đại Phu Đô Kiểm Sự, lãnh- việc quân dân huyện nhà, /ấy ruộng đất các thế gia tuyệt tự ở các trang, xã, tổng của bản huyện sung công từ triều trước và ruộng hoang ban cho Nguyễn Công Duẩn vĩnh uiễn làm gia sản đê lại cho con cháu hậu duệ. Số ruộng đất dược bon vĩnh viễn làm của riêng cộng là 470 mẫu 5 sào.

Thuận Thiên năm thứ hai, Kỷ Dậu (1429) tháng 9 ngày 8.

Thần Lê Văn Linh phụng tuyên Thẩn Lê Khả phụng tuyên Thần Lê Lựu phụng tuyên Thần Lê Bôi phụng tuyên Thần Lê Khôi phụng tuyên Thần Lê Quốc Trinh phụng tuyên Thần Lê Trãi phụng tuựên

 

Ghi chú: - Trong việc chắp nối các hệ, các chi và thế thú' các đời tổ, cũng có khi lầm lẫn. Có vị đã ghi Nguyễn ứng Long là con Nguyễn Minh Du và Nguyễn Công Duẩn là con của Nguyễn Trãi. Khi Nguyễn Trãi bị tru di tam đại, các con của Nguyễn Trãi phải chạy lánh nạn, mai danh ẩn tích, đã đổi tên ông nội Nguyễn ứng Long thành Nguyễn Biện, tên cha Nguyễn Trãi thành Nguyễn Chư, tên con trai cẳ của Nguyễn Trãi là Hồng Tiệm thành Nguyễn Mỹ, tên con thứ hai là Hồng Lực thành Nguyễn Dụ hoặc Nguyễn Dã (tức là một người lấy hai tên mới), tên con thứ ba là Hồng Quỳ thành Nguyễn Công Duẩn. Đổi tên như vậy rồi viết thành hai phả, một phả bí mật vẫn lấy tên ông nội là Nguyễn ứng Long, cha là Nguyễn Trãi và một phả công khai với các tên mới đổi và lấy tên ông nội là Nguyễn Biện, cha là Nguyễn Chư. Ý kiến này cho sở dĩ có cách đổi tên và viết phả như vậy ià vì Nguyễn Biện không có con.

Một cuốn phả khác của họ Tô (gốc Nguyễn) ở Vũ Ẻn (Hạ Hòa - Phú Thọ) được chôn trong một ngôi mộ lại ghi thủy tổ là Thái Sư Huệ Quốc Công Nguyễn Trãi, quốc công sinh ra Nguyễn Phụng. Nguyễn Phụng sinh ra Nguyễn Nghĩa. Nguyễn Nghĩa sinh ra Hoành Quốc Công Nguyễn Công Duẩn. Như vậy theo phả này Nguyễn Công Duẩn là chắt của Nguyễn Trãi.

Vì có sự chắp nối Nguyễn Công Duẩn là con hoặc chắt của Nguyễn Trãi, nên Nguyễn Trãi trở thành tổ trực hệ của các vua chúa nhà Nguyễn và cả của Lễ Thành Hầu Nguyễn Hữu Cảnh, bởi vì Nguyễn Công Duẩn chính là tổ trực hệ của nhà Nguyễn và của Nguyễn Hữu cảnh.

Sự chắp nối trên không đúng. Rất nhiều gia phả họ Nguyễn đã nói rõ Nguyễn ứng Long (Phi Khanh) không phải là con Nguyễn Minh Du bởi vì Nguyễn Minh Du là con của Nguyễn Công Luật, cháu của Nguyễn Nạp Hòa - một gia đình quyền quỹ. Minh Du cùng một nhũ mẫu với vua nên được gọi là Thánh Du. Ông cùng anh ruột là Nguyễn Công Sách chỉ huy những đơn vị cấm vệ quan trọng. Hai anh em đã đem quân cấm vệ đến cứu Đế Hiện chống lại Hồ Quý Ly. Sự việc không thành nên bị Quý Ly giết. Các con cháu và gia đình phải chạy trốn. Ba con giai Nguyễn Minh Du: Nguyễn Sùng, Nguyễn Thư, Nguyễn Biện đều tham gia phong trào chống Minh của nhà Hậu Trần. Riêng Nguyễn Biện lập các trại Mường ở Quảng Tế, Gia Miêu cung cấp lương cho Giản Định Trùng Quang. Không nên nhầm Nguyễn Biện ở Gia Miêu với Nguyễn Đình Biện, anh ruột Nguyễn Đình Xỹ (không có con) ở Thượng Xá (Nghi Lộc - Nghệ An). Nguyễn Biện (Gia Miêu) hơn Nguyễn Đình Biện (Thượng Xá) khoảng 40 - 50 tuổi.

Còn theo phả Nhị Khê, Nguyễn ứng Long là con Nguyễn Đạt ờ Chi Ngại (Chí Linh - Hải Dương). Vì con nhà hàn gia (thường dân nghèo) nên dù đậu Bảng nhãn vẫn không được Trần Nghệ Tông trọng dụng. Nếu ứng Long là con Minh Du thì khi Công Sách và Minh Du bị Hồ Quỹ Lỵ giết, ứng Long tất phải chạy trốn như Nguyễn Sùng, Nguyễn Thư, Nguyễn Biện, không thể ra làm quan với nhà Hồ và được nhà Hồ trọng dụng. Vì con nhà hàn gia, không được nhà Trần trọng dụng, nên cha con ứng Long ra làm quan với nhà Hồ và tất nhiên được nhà Hồ trọng dụng. Cha làm Hàn lâm viện sĩ, Đại

Lý Tự Khanh (chánh tam phẩm), kiêm Tư Nghiệp (phó giám đốc) Quốc tử'giám, con làm Chính Chương Đài Ngự Sử. Chuyện đó dễ hiểu. Khác với Nguyễn Đình Biện (Thượng Xá) hy sinh'trong chiến tranh chống Minh, không có con, Nguyễn Biện (Gia Miêu) có nhiều con trai: Tác, Chiêm, Chư, Trinh, Thể, Ba, Phục và một gái là Thị Ư. Riêng Nguyễn Chư được truy tặng tước Chiêu Quang Hầu có 6 con trai: Mỹ, Dụ, Dã, Duẩn, Lâm, Lam đều tham gia khởi nghĩa Lam Sơn và đều có công. Trong đó Nguyễn Dã, một tướng tài được mệnh danh là "Sơn Đầu Tướng Quân" được phong Bình Ngô Khai Quốc Công Thần, sau thắng lợi, được giao giữ chức Đô Đốc Thiêm Phủ sự coi việc quân dân hai huyện Lâm Thao, Đoan Hùng, được tặng tước Dũng Quốc Công, tước cao hơn tước Nguyễn Trãi được tặng. Ngay con cả Nguyễn Dã là Chất cũng được tặng phong Thái úy. Nhiều con Nguyễn Chư là Mỹ, Dụ, Dã đều hơn tuổi Nguyễn Trãi cho nên không thể xếp thành con của Nguyễn Trãi.

Vả lại Nguyễn Trãi khi bị tru di tam đại, các em ruột ông là Phi Ly, Phi Báo, Phi Bằng, Phi Hừng, Nhữ Soạn, Nhữ Trạch không phải lánh nạn, có người vẫn tiếp tục làm quan, không phải đổi thành tên con của Nguyễn Biện hoặc con của Nguyễn Chư. Còn các con của Nguyễn Trãi là Hồng Tiệm, Hồng Lục thì bị chu di cùng một lần với cha, còn phải đổi tên làm gì. Hồng Tiệm đổi thành Mỹ, Hồng Lục đổi thành hai tên Dụ và Dã là không có lý. Có thể Hồng Quỳ chạy thoát về Gia Miêu rồi lấy tên là "Đề", làm con của Nguyễn Chư và viết hai phả, một bí mật lấy tên cha là Trãi, một công khai lấy tên cha là Chư. Ngoài ra còn có Anh Vũ lấy họ

Phạm của mẹ được bà con Gia Miêu đùm bọc. Cho nên dòng họ Nhị Khê biết ơn dòng họ Gia Miêu đã bảo tồn được nòi giống của mình là có lý.

Còn Nguyễn Công Duẩn tuyệt đối không phải là Hồng Quỳ con thứ ba của Nguyễn Trãi. Công Duẩn là con thứ tư của Nguyễn Chư gốc Gia Miêu ngoại trang, chứ không phải gốc Chi Ngại - Nhị Khê. Theo gia phả họ Đỗ ờ Bồng Trung (Thanh Hóa), Nguyễn Chư có ba vợ. Bà cả họ Mai sinh ra Mỹ và Dụ. Bà hai là Đỗ Thị Hiệu, không con, đem cháu gọi bằng cô là Đỗ Thị Hoán vào thay. Bà Hoán sinh ra Dã, Duẩn, Lâm, Lam. Có phả còn thi thêm Đề (vô khảo).

Như vậy Công Duẩn là con thứ tư của Nguyễn Chư. Tuổi Công Duẩn xấp xỉ tuổi Nguyễn Trãi. Bởi vì con trai cả của Công Duẩn là Nguyễn Đức Trung, theo phả Gia Miêu ghi có tham gia chiến tranh chống Minh (chắc là giai đoạn cuối và được làm quan dưới triều Lê Thái Tổ (1428 - 1433). Nguyễn Đức Trung phải sinh vào khoảng năm 1403 - 1405 thì vào năm 1423 - 1425 mới tham gia nghĩa quân Lam Sơn. vả lại Nguyễn Công Duẩn có ba gái đầu lòng là Thị Phát, Thị Đôi, Thị Ba. Cách đặt tên đã nói lên điều đó. Nguyễn Đức Trung tuy là con trai đầu nhưng lại là con sinh ra thứ tư. Cho nên Nguyễn Công Duẩn phải sinh vào khoảng năm 1380, cùng tuổi với Nguyễn Trãi thì lúc 23 - 25 tuổi (tức vào năm 1403 - 1405) mới sinh người con thứ tư là Nguyễn Đức Trung.

Việc Nguyễn Công Duẩn đã chu đáo cung cấp lương thực cho nghĩa quân Lam Sơn từ đầu (1418) đến cuối (1428) như trong Thượng Dụ Chỉ của Lê Thái Tổ đã tuyên dương càng cho thấy tuổi của Nguyễn Công Duẩn ngang tuổi Nguyễn Trãi, bởi vì nếu Công Duẩn là con thứ ba của Nguyễn Trăi thì ông sẽ ngang tuổi với Nguyễn Đức Trung, tức sinh vào năm 1403 - 1405 và khi bắt đầu Lam Sơn dấy nghĩa ông mới 13-15 tuổi, ông chưa thể chạy 3.500 thạch lương ngay từ đầu. Phải là người khoảng 38 - 40 tuổi mới làm được việc đó. Chính ngay dưới chỉ dụ của Thái tổ có 7 người ký phụng tuyên và Nguyễn Trãi là người ký thứ bảy với quốc tính Lê Trãi.

Vì không phải là con Nguyễn Trãi, vì ngang tuổi với Nguyễn Trãi, nên khi Nguyễn Trãi bị tru di, Nguyễn Công Duẩn không phải chạy đi đâu cả. Các con ông vẫn tiếp tục làm quan dưới triều Lê và rất được tín nhiệm. Con cả của ông là Nguyễn Đức Trung giữ chức Điện Tiền Chỉ Huy Sứ Quân cấm vệ, một chức vụ hết sức quan trọng mà cháu nội của một người bị tru di tam đại chưa được minh oan như Nguyễn Trãi không thể được nhà vua giao cho, dù Lê Nhân Tông (1442 - 1459) đã cảm thấy Nguyễn Trãi bị oan. Chính vì nắm quyền chỉ huy cấm vệ, Nguyễn Đức Trung dưới sự chủ xướng của Nguyễn Đình Xí mới góp phần quyết định việc hạ bệ Nghi Dân, tôn phò Lê Thánh Tông lên ngôi, tiến con gái mình vào cung (sau trở thành quý phi của Thánh Tông) và năm 1464, Lê Thánh Tông mới minh oan cho Nguyễn Trãi.

Vì Công Duẩn làm quan liên tục dưới triều Lê nên con trai thứ tư của ông là Nguyễn Như Trác mới có điều kiện thi đậu đồng tiến sĩ khoa Quỹ Mùi (1463) một năm trước khi Nguyễn Trãi được minh oan.

Nguyễn Công Duẩn mất tại Gia Miêu ngoại trang, được vua ban tên thụy là Bảo Toàn. Mộ ông táng tại núi Thiên Tôn. Thuở ấy, ở địa phương có lời truyền "giàu như ông Bảo Toàn".

Vì Công Duẩn ngang tuổi với Nguyễn Trãi nên phả họ Tô (gốc Nguyễn) ghi ông là chắt của Nguyễn Trãi càng không đúng. Vả lại Nguyễn Trãi không có chức Thái SƯ Huệ quốc công như phả Vũ Ẻn (Phú Thọ) đã ghi. Nghiên cứu kỹ cuốn phả họ Tô (gốc Nguyễn) ờ Vũ Ẻn trong chiếc vò 'được táng cùng trong một ngôi mộ cho thấy, đây là mộ táng vào thời Khải Định và phả này được ghi theo một phả ở Quảng Bình.

Vì Nguyễn Trãi không phải phụ thân của Nguyễn Công Duẩn (tổ trực hệ của nhà Nguyễn và của Nguyễn Hữu Cảnh) nên rõ ràng Nguyễn Trãi cũng không phải tổ trực hệ của nhà Nguyễn và của Nguyễn Hữu cảnh. Nguyễn Trãi là một vị tổ thuộc bàng hệ (hệ thứ hai, sẽ nói ở sau).

* * *

Sau đây sẽ trình bày các đại chi, con Nguyễn Công Duẩn

ĐẠI CHI: NGUYỄN ĐỨC TRƯNG

Đời thứ mười chín: NGUYỄN ĐỨC TRUNG

Ông là con trai trưởng của Nguyễn Công Duẩn. Ông có thể sinh vào khoảng năm 1403 - 1405. Ông có tham gia những năm cuối của cuộc chiến tranh giải phóng chống giặc Minh. Ông làm quan dưới các đời vua Lê Thái Tổ, Lê Thái Tông, Lê Nhân Tông, Lê Thánh Tông. Rất được tín nhiệm. Dưới đời Nhân Tông ông được giao giữ chức Điện tiền chỉ huy sứ, nắm quân cấm vệ. Năm 1459, Nghi Dân dùng bọn Phan Đồn, Phan Ban trèo cấm thành vào giết Nhân Tông và Thái Hậu, cướp ngôi vua. Dưới sự xướng nghĩa của Nguyễn Xí, Nguyễn Đức Trung cùng hai em Nguyễn Nhân Chính, Nguyễn Như Hiếu đã đem quân cấm vệ quét sạch lực lượng vũ trang của bọn Đồn Ban, hạ bệ Nghi Dân. Năm 1460, triều đình đã tôn phò Gia vương Tư Thành lên ngôi Hoàng đế tức vua Lê Thánh Tông, một vị vua anh minh bậc nhất thời Trung đại của nước ta. Khi bình công, ông được xếp vào hàng 'đại thần xướng nghĩa, được vua phong "Đặc Tiến Phụ Quốc Thượng Tướng Quân, Tán Trị Công Thần, Điện Tiền Chỉ Huy Sứ".

Tháng 7 năm Canh Thìn (8 - 1460) Lê Thánh Tông lập con gái thứ hai của ông là Nguyễn Thị Ngọc Hằng làm Sùng nghi.

Năm Bính Tuất (1466) ông được bổ nhiệm làm Đô Đốc đồng tri (phó tư lệnh) Nam quân phủ.

Năm Đinh Hợi (1467) ông được giao chỉ huy dẹp giặc ở An Bang, được phép tiền trảm hậu tấu rồi được đặc cách làm quyền Trấn thủ An Bang. Vua còn tăng cường thêm cho ông đạo quân do Nguyễn Văn Đoàn làm Tổng binh.

Năm 1470 ông được cử giữ chức Phó Trấn thủ kiêm Tổng binh Thanh Hóa.

Ngày 6 tháng 11 năm Canh Dần (1470) ông phò giá Lê Thánh Tông nam chinh đánh Chăm Pa. Ngày 5 tháng 2 năm Tân Mão (1471) vua Chăm sai em đem quân áp sát quân ta

Ngày 6 tháng 2, Thánh Tông sai các tướng Lê Hy Cát, Hoàng Nhân Chiêm đem 3 vạn quân và 500 chiến thuyền đên bí mật phục sẵn ờ Sa Kỳ, sai Nguyễn Đức Trung đem íỊuân ngầm phục sẵn ở chân núi, đặt sẵn kỹ binh sau luíig địch để đón lõng. Ngày 7 tháng 2, vua chỉ huy 1.000 chiến thuyền và 70 vạn quân chủ lực từ hai cửa biển Tân Âp và Cựu Tọa, giương cờ Thiên tử đánh chính diện vào quân địch. Không địch nổi, quân Chăm rút chạy bị quân ta phục sẵn phía sau đón lõng nên bị diệt gần hết, vua Chăm bị bắt sống, thành Trà Bàn bị hạ. Đất nước Đại Việt được mở rộng đến tỉnh Bình Định ngày nay. Lê Quý Đôn ghi trong Đại Việt thông sử: Nguyễn Đức Trung có công phò lập Lê Thánh Tông, lại làm tướng đánh Đông, dẹp Nam, bình Chăm, có con gái lấy vua sinh ra Hoàng thái tử (sau này là vua Lê Hiến Tông). Dòng họ Nguyễn rất mạnh trong triều. Ông được vua Lê Thánh Tông rất nể.

Ông được phong chức Tây Quân Tả Đô Đốc Suy Trung Dực Vận Dương Vũ Trinh Ý Công Thần và tặng phong Thái Úy Trinh Quốc Công.

Khi Sùng nghi Nguyễn Thị Ngọc Hằng chưa có con, Thái hậu Ngô Thị Ngọc Dao, mẹ Thánh Tông giao cho ông đi cầu tự ờ chùa Thiên Phúc (Chùa Thầy) ở xã Sài Sơn, huyện Yên Sơn, phủ Quốc Oai, trấn Sơn Tây. Đây là nơi ngày xưa thiền sư Từ Đạo Hạnh tu hành. Ngày 10 tháng 8 năm Tân Tỵ (1461), Ngọc Hằng sinh Lê Tranh, tháng 3 năm Nhâm Ngọ (1462) được phong Thái tử, Trinh Quốc Công di chúc cho con là quý phi Ngọc Hằng phải trùng tu lại chùa Thầy.

Ông mất ngày 11 tháng 8 năm Đinh Dậu (1479) được ban thụy là Minh Nghĩa. Mộ táng tại núi Thiên Tôn (Hà Trung, Thanh Hóa). Hiện ở Gia Miêu có họ Nguyễn Hữu thờ ông. ở Vân Hà (Gia Viễn) cạnh Đại Hữu (quê Nguyễn Bặc) cũng có nhà thờ và một chi họ thờ ông. Đây là chi họ giữ mộ phát tích của họ Nguyễn à chân núi Hổ. Con cháu ông hiện ờ rải ra nhiều vùng của đất nước.

Vợ chánh thất: Nguyễn Thị Huyền

Bà hiệu là Thục Thuận phu nhân, sinh 6 con trai: Hữu Vĩnh, Công Toản (có phả ghi là Quảng), Công Độ, Công Chiêu (có phả ghi là Thiều, Siêu), Công Nghị, Công Hòa và 9 con gái: Thị Liên, Ngọc Hằng, Thị Du, Thị Diễn, Thị Tú, Thị Dịch, Thị Túc, Thị Đường, Thị Cù (có phả ghi nhầm Ngọc Hằng thành Huyền - tức tên của mẹ).

Giỗ bà ngày 7 tháng 5. Mộ táng tại núi Thiên Tôn.

Vì thiếu tư liệu, nên sau đây chỉ ghi được ba người con của ông bà: 'Nguyễn Thị Ngọc Hằng, Nguyễn Hữu Vĩnh, Nguyễn Công Độ.

Đời thứ hai mươi: NGUYỄN THỊ NGỌC HẰNG

Bà là con gái thứ hai của Nguyễn Đức Trung. Bà sinh năm Canh Thân (1440), tháng 7 năm Canh Thìn (1460) được tiến vào làm Sùng nghi của Lê Thánh Tông. Năm Tân Ty(1461) bà sinh Thái tử Lê Tranh. Năm Canh Dần (1470) bà được tấn phong Quỹ phi. Sau khi Lê Thánh Tông băng, Lê Hiến Tông nối ngôi, bà làm Hoàng thái hậu. Nhờ bà cả nhà được vinh hiển. Cụ nội là Nguyễn Chư được truy tặng là Chiêu Quang Hầu; Ông nội Nguyễn Công Duẩn được truy tặng Thái Bảo Hoành Quốc Công; Cha Nguyễn Đức Trung được truy phong Thái Úy Trinh Quốc Công; Anh cả ruột Nguyễn Hữu Vĩnh được phong tặng Hằng Quận Công, Cháu gọi bà bằng cô ruột là Nguyễn Hòa cảnh được gả công chúa Thọ Mai, được phong là Phò Mã Đô Úy.

Thế rồi xảy ra một bước ngoặt. Năm 1504, Lê Hiến Tông băng hà. Con của Hiến Tông lên ngôi là Túc Tông, tôn bà Ngọc Hằng làm Thái Hoàng thái hậu. Năm 1505, Túc Tông băng không con nối ngôi. Kinh phi họ Nguyễn (vợ Hiến Tông) và cận thần Nguyễn Như Vỹ muốn lập Lê Tuân. Thái hoàng thái hậu cho Lê Tuân là con tỳ thiếp không thể nối ngôi đại thống nên định lập Lã Côi vương Lê Oanh.

Nguyễn Như Vỹ vờ tuân lệnh, để Thái hoàng thái hậu đi đón Lã Côi vương, rồi đóng cửa thành và lập Lê Tuân lên làm vua tức Lê Uy Mục.

Trở về cung, Thái hoàng thái hậu không bằng lòng. Ngày 23 tháng 3 năm Ât Sửu (1505), Uy Mục sai người giết Thái hoàng thái hậu, tức giết ngay chính bà nội của mình, đồng thời giêt nhiều trung thần họ Nguyễn. Do đó lịch sử gọi Uy Mục là tên quỷ vương.

Bà Nguyễn Thị Ngọc Hằng được -suy tôn là:

Huyền Vi Huy Gia Tình Mục Trang Thận Uyên Cung Như Ý Trinh Từ Thái Hoàng Thái Hậu.

Đời thứ hai mươi: NGUYỄN HỮU VĨNH

Ông là con trai cả của Nguyễn Đức Trung. Theo bia đào được ở quê Gia Miêu ngoại trang, ông sinh năm Giáp Dần (1434). Ông giữ chức cẩn sự lang, tước Quảng Hữu Bá. Do có em gái làm Thái hoàng thái hậu, ông được vua Lê Hiến Tông tặng phong làm Hằng Quận Công.

Ông mất ngày 19 tháng 8, táng tại núi Thiên Tôn. Vua ban tên thụy là Định Huệ.

Vợ chánh thất: NGUYỄN THỊ NGỌC

Bà được tặng phong phu nhân, hiệu Thuần Tháp. Giỗ ngày 25 tháng 4, táng tại núi Thiên Tôn. Không rõ tên các vợ lẽ.

Sinh 6 trai: Hòa cảnh, Hữu Dực, Hữu Diễn, Hữu Dịch, Hữu Kỷ, Hữu Đạc và 2 gái: Thị Sửu, Thị Hồ.

Đời thứ hai mốt: NGUYỄN HÒA CẢNH

Ông là con trưởng của Nguyễn Hữu Vĩnh. Ông là Phò mã đô úy lấy trưởng công chúa Thọ Mai. Ông được phong tước An Phúc Hầu. Khi Uy Mục giết bà nội Thái hoàng thái hậu Nguyễn Thị Ngọc Hằng và một số trung thần họ Nguyễn, ông cũng bị giết. Sau được Lê Tương Dực truy tặng Gia quận công và ban tên thụy là Ngạn Trinh.

Vợ chánh thất: Công chúa THỌ MAI

Bà là trưởng công chúa, không rõ con cái, mất ngày 17 tháng 7, mộ táng tại núi Thiên Tôn.

Có tư liệu nói có hậu duệ vào Nam phò Chúa Nguyễn. Con út chuyển cư xã Bái Ninh (Hoằng Hóa - Thanh Hóa).

Đời thứ hai mốt: NGUYỄN HỮU DỰC

Ông là con thứ hai của Nguyễn Hữu Vĩnh. Ồng được tặng là Hoằng Khiêm Bá, tên thụy là Mục Trinh. Con trưởng chuyển đến ở Mại Đức (nay thuộc xã Nga Hưng - Thanh Hóa); con út có chữ lót là Công, ở Yên Ninh (nay thuộc Phú Lương - Thái Nguyên).

Đời thứ hai mốt: NGUYỄN HỮU DIÊN

Ông là con thứ ba của Nguyễn Hữu Vĩnh. Ông được phong Hoàn Thọ Hầu. Con cả Nguyễn Hữu Thế, con thứ hai Nguyễn Hữu Vận vào Đàng trong phò Đoan Quốc Công Nguyễn Hoàng. Con út Nguyễn Hữu Điền ở Gia Miêu.

Đời thứ hai mốt: NGUYỄN HỮU DỊCH

Ông là con thứ tư của Nguyễn Hữu Vĩnh, tên tự là Minh Đạt, được phong Bình Phúc Hầu (có tư liệu ghi Phú Bình Hầu). Ông mất ngày 21 tháng 1, thụy là Chính Đức. Có hậu duệ vào Đàng trong phò chúa Nguyễn. Mộ táng tại núi Thành.

Đời thứ hai mốt: NGUYỄN HỮU KỶ

Ong là con trai thứ năm của Nguyễn Hữu Vĩnh, ông giữ chức Đô chỉ huy sứ quân Cấm vệ, được phong tước Phú Hòa

Hầu, sinh ba trai. Con cả là Nguyễn Hữu Quỹ, có hậu duệ là Hữu Tiến làm Tiết chế quân của chúa Nguyễn đánh chúa Trịnh (sẽ nói ở sau).

Đời thứ hai mốt: NGUYỄN HỬU ĐẠC

Ông là con trai thứ sáu của Nguyễn Hữu Vĩnh. Thường viết nhầm chữ Đạc có bộ Kim bàng thành chữ Thích có bộ Biện bàng. Cho nên có nơi đọc là Nguyễn Hữu Thích. Ông giữ chức Đại đô đốc của phủ Đô Đốc Tây Quân, tước Tùng Dương Hầu. Khi Mạc Đăng Dung cướp ngôi, ông chủ trương chống Mạc bị Mạc đưa quân tiến công. Tự lượng sức không địch nổi bèn đưa gia đình, vợ con cùng một bộ phận lực lượng vũ trang đến Sơn Tây Hưng Hóa tích trữ lực lượng mưu đồ diệt Mạc, báo đền ơn nước. Lúc ra đi có 37 con trai gái, đào tán mỗi người một ngả, không rõ nơi nào, nên lấy ngày 27 tháng 4 - ngày ra đi - làm ngày lâm chung. Ông lập căn cứ ở Trấn Yên Châu, xây đồn lũy, chiêu mãi binh mã. Việc chúct thành thì ông mất ngày 15 tháng 7, táng tại đồn trên núi Bách Lẫm.

Vợ chánh thất: NGUYỄN THỊ CHÍNH

Bà mất ngày 16 tháng 4, hiệu Tử Chính phu nhân. Ông sinh 9 con trai, chỉ ghi được 4: thứ nhất là Nha Phú, thứ hai là Cẩm hoa hầu Nguyễn Hữu Dẫn (có nơi ghi là Hữu Nữu), thứ ba tục danh Ông Ba, thứ chín tục danh Ông Chín. Ông có hai con gái: Phách và Lưu.

Bà Nguyễn Thị Ngọc Lưu là Chánh phu nhân của Đoan quốc công Nguyễn Hoàng, tức Chúa Tiên, được truy tôn là Gia Dụ Hoàng Đế, do đó bà được truy tôn làm Hoàng hậu. Bà sinh ra Chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên.

Nguyễn Hữu Đạc có cháu là Nguyễn Hữu Triều, chắt là Nguyễn Hữu Dật, chút là Nguyễn Hữu Hào, Nguyễn Hữu Cảnh đều làm tướng và lập công lớn với các chúa Nguyễn ở Đàng trong, sẽ nõi rõ ở sau.

Đời thứ hai mốt: NGUYỄN CÔNG ĐỘ

Ông là con trai thứ ba của Nguyễn Đức Trung, em ruột của Nguyễn Hữu Vĩnh và Thái hậu Nguyễn Thị Ngọc Hằng. Ong làm Đô chỉ huy sứ (tư lệnh) một vệ cấm quân đời Lê Hiến Tông, ông được cử làm Tổng chính Đại thần. Khi Uy Mục cướp ngôi, ông về Thanh Hóa theo Nguyễn Văn Lang đưa quân ra hạ bệ Lê Uy Mục, tôn lập Lê Tương Dực. Khi Nguyễn Văn Lang qua đời, Trịnh Duy sản nắm binh quyền của triều đình. Năm Bính Tý 1516, Trần Cao lầm loạn ở Đông Triều rồi tiến công lên Thăng Long. Nhân rối ren, Trịnh Duy sản giết Lê Tương Dực và đưa Lê Chiêu Tông mới 8 tuổi lên ngôi. Khi Trần Cao chiếm Thăng Long, Lê Chiêu Tông rút chạy, Trịnh Duy sản phản công chiếm lại Thăng Long rồi bị giết trong khi truy kích. Con nuôi của Trịnh Duy sản là Trần Chân lên nắm quyền. Trần Chân định giết Chiêu Tông để cướp ngôi. Nguyễn Công Độ, Nguyễn Hoằng Dụ (con Nguyễn Văn Lang) chống lại. Nguyễn Hoằng Dụ đóng quân ở Trung Tự Kim Liên (nam Thăng Long) chống lại Trịnh Tuy bộ tướng của Trần Chân, bị Trần Chân tập trung lực lượng đánh, phải lui về Thanh Hóa. Nguyễn Công Độ và Mạc Đăng Dung giúp vua Chiêu Tông giết được Trần Chân, nhưng vua lại dựa chủ yếu vào Mạc Đăng Đung. Biết âm mưu tăng cường thế lực để thoán đoạt của Mạc Đăng Dung, Nguyễn Công Độ bí mật rút khỏi Thăng Long, đưa một bộ phận lực lượng vào thôn Vạn Phúc Đông thuộc Đoài xã tứ thôn, tổng Việt Yên thượng, huyện La Sơn, phủ Đức Quang trấn Nghệ An, bí mật tích trữ lương thực để phò Lê diệt Mạc. Đây là một vùng đất hẻo lánh ở chân dãy núi Thiên Nhẫn gần thành Lục Niên. Ông đổi tên thành Nguyễn Công Đổ, bí mật xây một trại ở núi Thiên Nhẫn và gọi là "Gia Trại" để nhớ đến Gia Miêu ngoại trang của mình. Tuy ông đã đổi tên để mai danh ẩn tích, nhưng quân Mạc theo dõi và tình nghi. Chúng tìm cách ám hại ông. Nhân ngày tết, trong đêm giao thừa, chúng giả đóng vai sắc bùa đến chúc tết để hạ sát ông. Ông bị thương nặng và đến ngày 13 tháng Giêng thì qua đời. Vì thế họ Nguyễn ở đây có tục cấm con cháu'không được đón sắc bùa vào chúc tết. Mộ ông táng tại Gia Trại, tên thụy là Cương Nghị.

Ông có hai bà:

Vợ chánh thất: PHẠM THỊ MAN

Bà sinh 3 trai: Nguyễn Công Khánh, Nguyễn Công Đạo, Nguyễn Công... Mộ táng tại Đá Giăng (cạnh núi Gia Trại).

Vợ thứ thất: THÁI THỊ LƯƠNG

Bà sinh 4 trai: Nguyễn Công Điệm, Nguyễn Công Tạo, Nguyễn Công..., Nguyễn Công...

Việc Nguyễn Công Độ bị ám hại có ảnh hưởng lớn đên ý định phò Lê diệt Mạc của ông. Vì ở một nơi hẻo lánh, ít có quan hệ với dòng họ đại tông, nên dòng họ ít có quan hệ với phong trào Trung hưng hoặc phong trào theo Đoan Quốc Công vào Đàng Trong. Sau khi Trịnh Kiểm giết Nguyễn Ưông, tư tưởng phò Lê diệt Mạc của dòng họ Nguyễn Công Độ được gia thêm tư tưởng phò Lê diệt Trịnh. Không một hậu duệ nào của ông ra thi cử và làm quan với chúa Trịnh. Trong thời gian này, họ Nguyễn có một nhân vật nổi tiếng đó là Nguyễn Công Tạo tức thày địa lý Tả Ao. Sau đây sẽ giới thiệu về Nguyễn Công Tạo.

Đời thứ hai hai: NGUYỄN CÔNG TẠO

Ông là con thứ hai của Nguyễn Công Độ với bà thứ thất Thái Thị Lương. Sau khi cha bị sát hại, ông làm nghề bốc thuốc, thường gánh thuốc đến bán ở chợ Giang Đình (thôn Tiên Điền - Nghi Xuân).

Nhờ bốc thuốc chữa khỏi bệnh cho con gái một nhà hào phú bị bệnh nan y ở thôn Tả Ao (Nghi Xuân) ông được cưới cô gái và ờ rể. Từ đó ông nổi tiếng trở thành danh y. Nhân chữa bệnh khỏi cho một người Khách là một thày địa lỹ, ông đã được thày địa lý truyền nghề. Khi tìm được một huyệt tốt, ông về quê xin các vị trong gia tộc đem mộ tổ táng vào huyệt ấy. Các vị không đồng ý. Ông bèn bí mật bốc mộ mẹ mình là Thái Thị Lương đến chôn ờ huyệt. Cho nên hiện nay à Đá Giang, ngôi mộ tổ bà hai chỉ là một ngôi mộ vọng. Không may, một thày địa lý người Khách khác phát hiện ra huyệt này và tìm cách yểm cho dòng nước chảy làm ngôi mộ trôi mất.

Tả Ao Nguyễn Công Tạo đã đi nhiều vùng đất nước để làm thầy địa lý. Chuyện thày Tả Ao được truyền tụng ờ nhiều nơi.

Đời thứ hai hai: NGUYỄN CÔNG ĐIỆM

Ông là con đầu của Nguyễn Công Độ.

Vì là con bà thứ thất nên không phải là đích tử. Khi cha làm tướng tham gia hạ bệ Uy Mục, ông cũng được tham gia. Vì có công nên ông được vua phong tước là Thạch Trụ Công. Sau khi cha bị ám hại, ông lo việc bảo vệ gia đình.

Ông mất ngày 19 tháng 4, mộ táng tại Động Cữa.

Vợ chánh thất: THÁI THỊ TRINH THỤC

Bà sinh một trai là Nguyễn Công Tỵ. Bà mất ngày 5 tháng 7. Mộ táng tại Gia Trại.

* * *

Dòng họ Nguyễn Công Độ có 7 chi: 4 chi ở Vạn Phúc Đông, xã Việt Yên Thương, tổng Việt Yên, huyện La Sơn, phủ Đức Quang trấn Nghệ An (nay là xóm 7 xã Trường Sơn huyện Đức Thọ - Hà Tình); một chi ở Hương Sơn, một chi ở Nghi Xuân (đều ở Hà Tình) và một chi ở Nam Đàn (Nghệ An).

ĐẠI CHI: NGUYỄN NHÂN CHÍNH

Đời thứ mười chín: NGUYỄN NHÂN CHÍNH

Ông là con trai thứ hai của Nguyễn Công Duẩn. Là một vị chỉ huy quân Cấm vệ, ông cùng anh là Nguyễn Đức Trung tham gia việc hạ bệ Nghi Dân, tôn phò Lê Thánh Tông lên ngôi. Vỉ có công lớn, ông được phong: Dực Vận Công Thần, Tả Đô Đốc Đông Quân Phủ (như tư lệnh một quân khu). Đời Lê Hiến Tông truy phong ông chức: Tán Trị Đồng Đức Công Thần, Đặc Tiến Phụ Quốc Thượng Tướng Quân Trụ Quốc Thái Bảo tước Mục Quốc Công.

Ông sinh 2 con trai: Nguyễn Đăng Cơ, Nguyễn Đăng Phụ (có phả ghi Nguyễn Nhân Phủ) hình thành một đại chi họ đông đúc gồm nhiều chi ở Đông Biện (Vĩnh Lộc - Thanh Hóa), Cao Vinh, Ba Đình (Nga Sơn - Thanh Hóa), Bút Sơn (Hoằng Hóa - Thanh Hóa), Thọ Thành (Yên Thành - Nghệ An), Đô Lương (Nghệ An). Phả Liễu Ngạn (Thuận Thành - Bắc Ninh) đã ghi đến đời thứ 32, 33 trong đó có 30 vị tước hầu, 14 vị tước quận công và quốc công. Phả Đô Lương ghi 15 vị quận công và quốc công.

ĐẠI CHI: NGUYỄN NHƯHlỂU

Đời thứ mười chín: NGUYỄN NHƯ HlỂU

Ông là con trai thứ ba của Nguyễn Công Duẩn. Là một chỉ huy quân Cấm vệ, ông cùng hai anh Nguyễn Đức Trung và Nguyễn Nhân Chính đưa quân dẹp bọn Đồn, Ban, hạ bệ Nghi

Dân, tôn phò Lê Thánh Tông lên ngôi. Ông được phong Quang Tiến Đại Tướng Quân. Lê Hiến Tông truy phong là Tả Đô Đốc Tây Quân Đô Đốc Phủ (tức tư lệnh quân khu Tây) tước Châu Quận Công. Vua ban tên thụy là Bảo Thuần.

Các phả ghi về hậu duệ của ông có khác nhau.

Phả do Cẩm Quận Công viết ông có bốn trai là Văn Khiêm, Văn Phong, Văn Tiến, Văn Sáo.

Phả của họ Nguyễn ở Vũ Cầu (Hạ Hòa - Phú Thọ) ghi ông có 4 trai: Khiêm làm huyện thừa; Phong đậu tiến sĩ làm Giám sát ngự sử; Tiến làm Tham nghị và Thái làm Lang trung.

Phả của họ Nguyễn Liễu Ngạn (Thuận Thành - Bắc Ninh) ghi ông có con là Tuyên Quận Công Nguyễn Phủ di cư đến Tả Thanh Oai, còn vô khảo.

Phả Bồng Trung nơi có chi hậu duệ thờ ông ghi ông có 3 con: Tuyên quận công di CƯ đến Tả Thanh Oai; Thứ hai vô khảo; Thứ ba là Ngự Sơn - một khai quốc công thần, di cư về xã Biện Thượng rồi hậu duệ lan ra Đông Biện (tức Bồng Trung

- Vĩnh Lộc - Thanh Hóa), hình thành chi họ Bồng Trung thờ Nguyễn Như Hiểu làm thủy tổ.

ĐẠI CHI: NGUYỄN NHƯ TRÁC

Đời thứ mười chín: NGUYỄN NHƯ TRÁC

Ông là con thứ tư của Nguyễn Công Duẩn. Năm Quý Mùi (1463) Quang Thuận thứ tư (đời Lê Thánh Tông) ông đỗ đệ 

tam giáp đồnq tiến sĩ. Ông làm tri huyện rồi Tham đốc, một chức quan võ cao cấp dưới đời Lê Thánh Tông, tước Phó Giám Hầu.

Lê Hiến Tông truy phong Thái Bảo tước Phó Quận Công.

Nhà Nguyễn truy tặng Phó Quốc Công.

Giỗ ngày 17 tháng 7, thụy là Đức Khánh, mộ táng tại núi Thiên Tôn. Ông sinh ra Nguyễn Văn Lưu, tức thủy tổ của dòng họ làm vua chúa sau này.

Đời thứ hai mươi: NGUYỄN VĂN LƯU

Ông là con trai của Nguyễn Như Trác.

Là một người rất thông minh, từ nhỏ đã nổi tiếng học giỏi, văn làu thông bách gia chư tử, võ thành thạo thao lược võ kinh thất thư. Đời Lê Hiến Tông ông đã giữ chức Kinh Lược Sứ, tức chức quan cai quản cả việc quân và dân xứ Đà Giang. Trong sự kiện hạ bệ Lê Uy Mục, ông có công phối hợp đắc lực, tạo điều kiện thuận lợi để đánh đổ tên quỷ vương, nên được phong là Trừng Quận Công. Giỗ ông ngày 4 tháng 8, tên thụy ỉà Chân Tâm, táng tại Triệu Tường Bái Hương hay Bái Trang thuộc Gia Miêu. Sở dĩ gọi là Bái Hương (trang) là để ví với đất Bái nơi phát tích của Lưu Bang Hán Cao Tổ.

Đời Gia Long suy tôn ông là Thái tể Trừng Quốc Công, lập miêu Trừng Quốc ở Gia Miêu để thờ bên cạnh Nguyên miếu thờ Triệu Tổ Tĩnh Hoàng Đế Nguyễn Cam, con cả của ông.

Vợ chánh thất: MAI THỊ TỪ ĐỨC

Từ Đức chỉ là tên hiệu, còn không rõ tên húy. Giỗ ngày 20 tháng 9, mộ táng tại Triệu Tường - Bái Hương. Bà sinh hai trai: Cam và Thái sẽ nói rõ ở sau.

ĐẠI CHI: NGUYỄN CÔNG LỖ

Đời thứ mười chín: NGUYỄN CÔNG LỖ

Có phả ghi là Nguyễn Văn Lộ (chữ Hán viết là Lỗ không phải là Lộ). Ông là con trai thứ năm của Nguyễn Công Duẩn. Ông làm tướng dưới thời Thánh Tông, Hiến Tông. Trong vụ hạ bệ Lê Uy Mục, do con trai ông là Nguyễn Văn Lang cầm đầu, ông tuy đã có tuổi nhưng vẫn là người bày mưu tính kế nên được phong: Hiệp Mưu Đồng Đức, Thượng Trụ sảng Quốc Công. Theo phả Nguyễn Gia ở Liễu Ngạn (một chi họ hậu duệ của ông), ông sinh 9 con trai: Tề (chết sớm), Văn Lang, Địch Sầm (Khầm), Văn Tiến, Văn Tồn, Văn Giai (Trụ), Công Lý, Văn Nghiễm, Văn Lữ. Nhiều người con ông tham gia vụ hạ bệ Lê Uy Mục. Con gái ông là Nguyễn Thị Hoảng lấy trạng nguyên Đỗ Tông (Tôn) ở Văn Giang.

Hậu duệ ông nhiều người phò Lê diệt Mạc, làm quan dưới thời chúa Trịnh, cũng có người theo chúa Nguyễn.

Đời thứ hai mươi: NGUYỄN VĂN LANG

Gia phả dòng họ Nguyễn Gia của chính đại chi Nguyễn Công Lỗ ghi Nguyễn Văn Lang là con thứ hai của Nguyễn

Công Lỗ. Ông là một người văn võ toàn tài. Năm 1510, ông cầm đầu các trung thần đưa quân từ Tây Đô (Thanh Hóa) ra Thăng Long hạ bệ Lê Uy Mục, tên quỷ vương đã giêt ngay bà nội mình, và tôn phò Lê Oanh lên ngôi tức Lê Tương Dực.

Vì có công lớn, ông được vua phong: Khai Phủ Đồng Nghi Tam Ty Bình Chương Quân Quốc Trọng Sự, Thừa Tướng Thượng Tể, Thái Phó Nghĩa Quốc Công. Năm 1513, ông qua đời. Vua Lê Tương Dực truy phong ông là Nghĩa Huân Vương và cho đúc tượng vàng để thờ. Có vị viết phả đã ghi ông là con cả của Nguyễn Đức Trung tức anh cả của Nguyễn Hữu Vĩnh. Việc ghi này không đúng. Gia phả Liễu Ngạn tức của chính đại chi Nguyễn Văn Lỗ đã ghi Nguyễn Văn Lang là con trưởng của Nguyễn Văn Lỗ, vì con cả là Tề chết sớm, còn Nguyễn Hữu Vĩnh là con cả của Nguyễn Đức Trung, rất nhiều phả của phân hệ Gia Miêu cũng ghi như vậy. Hơn nữa Nguyễn Văn Lang kém tuổi Nguyễn Hữu Vĩnh. Nguyễn Hữu Vĩnh sinh năm 1434 và có thể mất năm 1490 - 1495, Nguyễn Hữu Vĩnh không thể tham gia vụ đánh đổ Uy Mục năm 1510 bởi vì nếu còn sống thì ông đã 76 tuổi. Năm 1510 Nguyễn Văn Lang hạ bệ Uy Mục lúc chạ của ông là Nguyễn Văn Lỗ còn sống. Năm 1513 ông mất vào lúc khoảng 50 - 55 tuổi. Ông có thể sinh vào khoảng năm 1453 - 1458 tức kém Hữu Vĩnh khoảng 20 - 24 tuổi.

Nguyễn Văn Lang mất, Trịnh Duy sản lên nắm quyền. Nhân việc Trần Cao nổi loạn ở Đông Triều tiến quân về Thăng Long, Duy Sản giết vua Tương Dực lập Chiêu Tông. Duy sản tử trận, con nuôi là Trần Chân nắm quyền, định giết Chiêu Tông để cướp ngôi. Con trai Nguyễn Văn Lang là Nguyễn Hoằng Dụ chống lại Trần Chân. Trần Chân cho đào mả + Nguyễn Văn Lang và chém đầu.

Nguyễn Văn Lang sinh ba trai: Nguyễn Hoằng Dụ, Nguyễn Hoằng (Văn) Uy. Nguyễn Văn Diên.

Các con khác của Nguyễn Văn Lỗ, tức em của Nguyễn Văn Lang sẽ ghi tiếp ở sau phần phò Lê diệt Mạc.

ĐẠI CHI: NGUYỄN VĂN LỄ Đời thứ mười chín: NGUYỄN VẨN LE

Ong là con thứ sáu của Nguyễn Công Duẩn. Ông giữ chức Điện Tiền Ty Đô Hiệu úy, được phong tước Quang Tấn Chấn Quốc Lễ Khê Hầu. Mộ táng tại Gia Miêu. Thụy là Lương Tâm.

Ong sinh hai trai: Công NGUYỄN, Công Lợi

Đời thứ hai mươi: NGUYỄN CÔNG DƯƠNG

Ông là con cả của Nguyễn Văn Lễ. Thất truyền.

Đời thứ hai mươi: NGUYỄN CÔNG LƠI

Ông' là con thứ hai của Nguyễn Văn Lễ. Có phả ghi tên ông là Hữu Phú, làm quan võ được phong tước Phú Nham Hầu. Hậu duệ của ông hình thành một chi họ ở thôn Chế, xã Bá Cụ, huyện Nga Sơn - Thanh Hóa.

ĐẠI CHI: NGUYỄN BÁ CAO

Đời thứ mười chín: NGUYỄN BÁ CAO

Ông là con thứ bảy của Nguyễn Công Duẩn. Ông làm quan từ thời Thánh Tông, có tham gia hạ bệ Uy Mục, được phong là Phụ Quốc Thượng Tướng Quân, Thượng Trụ Quốc, Thái Phó Phổ Quận Công. Táng tại Gia Miêu, Thụy là Trịnh Tâm. Có phả ghi ông làm quan từ đời Thánh Tông (1460 - 1496) đến đời Chiêu Tông (1516 - 1522) là không đúng. Ồng là con trai út của Nguyễn Công Duẩn, tức em trai thứ bảy của Nguyễn Đức Trung (sinh vào khoảng 1403 - 1405) nếu kém Nguyễn Đức Trung 15 - 20 tuổi thì ông sinh vào khoảng 1418

-        1425. Đến đời Lê Chiêu Tông, nếu ông còn sống phải xấp xỉ 100 tuổi, không thể còn làm quan được nũồ.

Về con trai của Nguyễn Bá Cao, một số phả ghi khác nhau. Có phả ghi ông sinh Quế. Có phả ghi ông sinh Bá Thái, Văn Giai, Triệu. Có phả của Đàng trong ghi ông sinh Tiên Hải, Văn Ban, Văn Độ, Văn Thịnh, Văn Đạo, Văn Yên. Phả chi Nguyễn Cửu ghi ông sinh Hòa và Bá Dương. Sau đây ghi một số có tư liệu, không rõ ai anh ai em.

Đời thứ hai mươi: NGUYỄN QUẾ (QUÍ)

Ông làm Chỉ huy sứ quân cấm vệ, tước Lâm Quang Hầu. Khi Mạc Đăng Dung cướp ngôi, ông chạy lên xã Nam Đẩu, huyện Đông Quan (Đoan Hùng - Phú Thọ). Phả Hải Hậu ghi Nguyễn Công Quế có hậu duệ ở Tống Sơn, Nga Sơn (Thanh

Hóa). Gia phả dòng họ Nguyễn gia thế hệ phả ghi thêm nhiều đời hậu duệ của Nguyễn Quế.

Đời thứ hai mươi: NGUYỄN TRIỆU

Theo phả của thôn Hà Đông, xã Điện Hòa (Điện Bàn - Quảng Nam), ông là con của Nguyễn Bá Cao và vợ là Ngô Thị Bài. Ông sinh ra Nguyễn Thanh Hiếu.

Đời thứ hai mươi: NGUYỄN HÒA

Ong là con Nguyễn Bá Cao. Ông giữ chức Tây quân Tả Đô Đốc, tước Hòa Quận Công, mất ngày 15 tháng 6, thụy Thuận Đức, táng tại Thiên Tôn. Vô khảo.

Đời thứ hai mươi: NGUYỄN BÁ ĐƯƠNG

Phả Nguyễn cửu ghi ông là con trai thứ hai của Bá Cao. Ông có tên tự là Đỉnh, tước Quang Lộc đại phu Đỉnh Lương Tử. Mất ngày 7 tháng 10, thụy Thuận Hiền, táng tại núi Thiên Tôn

Tổ bà: TỪ TRINH

Mất ngày 1 tháng 12, táng tại xứ Núi Đàn, sinh Nguyễn Di.

Đời thứ hai mốt: NGUYỄN THANH HIEU

Ông là con Nguyễn Triệu, quê ở Thanh Hoa, sinh ra Liễu và Nghiêm vào cùng Nguyễn Hoàng (sẽ nói ở sau).

Sau đây ghi tiếp các đại chi con của Nguyễn Chư thuộc phân hệ Nguyễn Biện.

ĐẠI CHI: NGUYỄN LÂM

Đời thứ mười tám: NGUYỄN LÂM

Ông là con trai thứ năm của Nguyễn Chư. Ông theo Lê Thái Tổ đánh giặc Minh, giữ chức quản lĩnh. Ông sinh ra Nguyễn Trạch.

Đời thứ mười chín: NGUYỄN TRẠCH

Ông là con trai của Nguyễn Lâm. Ông sinh ra Nguyễn Hy.

Đời thứ hai mươi: NGUYỄN HY

Ông là con trai của Nguyễn Trạch. Ông di cư sang xã Nga Lưu, huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa. Ông sinh ra Nguyễn Tú. Hiện ờ Nga Lưu có một chi họ ở đấy.

Đời thứ hai mốt: NGUYỄN TÚ

Ong là con trai của Nguyễn Hy, ông được phong Phụ Nghĩa Hầu. Ông sinh ra Nguyễn Dụng.

Đời thứ hai hai: NGUYỄN DỤNG

Ong là con trai của Nguyễn Tú, ông còn tên là Môn. Ông sinh ra Nguyễn Quế.

Đời thứ hai ba: NGUYỄN QUẾ

Ông là con Nguyễn Dụng, ông sinh ra Nguyễn Càn.

Đời thứ hai bốn: NGUYỄN CÀN

Ông là con Nguyễn Quế. Ông sinh ba trai: Khôi, Khôn, Vực. Hai người sau vô khảo.

Đời thứ hai lăm: NGUYỄN KHÔI

Ông là con Nguyễn Càn. Ông sinh bốn trai: Thí, Long, Tôn, Nguyện. Ba người sau vô khảo.

Đời thứ hai sáu: NGUYỄN THÍ

Ông là con Nguyễn Khôi. Ông sinh Nguyễn Hiển.

Đời thứ hai bảy: NGUYỄN HIÊN

Ông là con của Nguyễn Thí. Ông sinh hai trai: Xuân, Giai.

Đời thứ hai tám: NGUYỄN XUÂN

Ông là con Nguyễn Hiển. Ông sinh bốn trai: Lâm, Vân, Ngôn, Diên.

Đời thứ hai tám: NGUYỄN GIAI

Ông là con của Nguyễn Hiển. Ông sinh năm trai: Nhân, Thuyên, Tồn, Trí, Trung.

ĐẠI CHI: NGUYỄN LAM

Đời thứ mười tám: NGUYỄN LAM

Ông là con thứ sáu của Nguyễn Chư (vô khảo).

3 - Hâu duê của Nguyễn Cảnh Di (Phân hệ 6)

Hậu duệ của Nquyễn cảnh Dị được hình thành ở Nam phần Trung bộ và Nam bộ.

Đời thứ mười bảy: NGUYỄN TUẤN THIỆN

Theo phả Nha Trang do Nguyễn Hồng Sinh soạn, ông là con Nguyễn Cảnh Dị.

Ông sinh năm 1407. Sau khi cha hy sinh, Tuấn Thiện về làng Phúc Đậu (nay thuộc huyện Hương Sơn - Hà Tĩnh). Năm 1425, ông theo Lê Thái Tổ đánh giặc Minh. Có lập công. Về sau thấy Thái Tổ giết một số công thần, ông về ở ẩn. Ông mất ngày 24 tháng 2 năm Ất Sửu (1445). Ông sinh Trọng Nghĩa.

Đời thứ mười tám: NGUYỄN TRỌNG NGHĨA

Ong là con Nguyễn Tuấn Thiện, tức cháu của Nguyễn Cảnh Dị. Ông sinh năm Canh Thân (1440), sống ở Nam Đường. Năm Ât Dậu (1465) đỗ tiến sĩ, được bổ làm Án Phủ Sứ Diễn Châu. Năm Tân Mão (1471), theo Lê Thánh Tông nam chinh mở rộng bờ cõi ở cổ Lũy (Quảng Ngãi), Lâm Bình (Bình Định). Ong được giữ lại tổ chức việc cai trị, làm tri huyện Mộ Hoa, khẩn hoang ở lưu vực sông Trà Ninh và sông Trà Cầu, lập làng mới sau tách thành hai xã Vân Hà và Thạch Thang (nay thuộc xã Đức Phong). Ông được dân thờ làm thành hoàng. Ông sinh Nguyễn Trọng Đạo (thủy tổ của đại chi họ Trà Ninh - Mộ Đức - Quảng Ngãi), Nguyễn Khả (Lân) (thủy tổ của đại chi họ Tịnh Hiệp - Sơn Tịnh - Quảng Ngãi).

ĐẠĨ CHI: NGUYỄN TRỌNG ĐẠO

(sẽ nói ở sau)

ĐẠI CHI: NGUYỄN KHẢ (LÂN)

(sẽ nói ở sau)

4. Hâu duê của Nguyễn Cảnh Lữ ịphàn hê 7) sư hình thành của phân hệ (Nam Đường)

Cũnq như dòng họ Nguyễn Đình ở Thượng Xá (Nghi Lộc

- Nghệ An), dòng họ Nguyễn Cảnh (Nam Đường) được hình thành từ đầu thế kỷ 15. Nam Đường là một huyện thuộc phủ

Anh Đô, Hoan Châu (Nghệ An). Huyện nằm dọc tả ngạn sông Lam, đối diện với huyện Thanh Chương phủ Đức Quang, ử hữu ngạn sônq Lam Đến đời Tự Đức, cắt Nghệ An thành hai tỉnh Nghệ An và Hà Tình thì có cả sự điều chính địa giới của hai huyện này. Nếu trước địa giới hai huyện cắt dọc theo con sông thì nay hai huyện được cắt ngang, phần phía trên của sông Lam, cả tả ngạn và hữu ngạn là huyện Thanh Chương, phần phía dưới, cả tả ngạn và hữu ngạn là huyện Nam Đàn. Khu vực hình thành phân hệ Nguyễn Cảnh Nam Đường ngày xuồ nay lại thuộc huyện Thanh Chương ngày nay, có phần thuộc cả huyện Đô Lương nữci. Cho nên huyện Nam Đường ngày XLfà chỉ có một phần là huyện Nam Đàn ngày nay mà thôi, không nên nói Nam Đường tức Nam Đàn.

Thủy tổ của dòng họ này là ông Nguyễn Cảnh Lữ.

Đời thứ mười sáu: NGUYỄN CẢNH LỮ

Theo Hoan châu kỷ, ông nguyên người phường Thiên Lý (phường dọc đường 18 ngày nay), huyện Đông Triều (nay thuộc tỉnh Hải Dương). Khi quân Minh xâm lược nước ta, ông chạy về Gia Viễn (nay thuộc Ninh Bình), rồi chuyển vào làng Tuần Lý, huyện Hương Sơn thuộc Hoan Châu. Sau khi Lê Thái Tổ bình định xong quân Minh, ông chuyển đến bến Ngọc Sơn làm nghề chèo đò. Ngọc Sơn thuộc huyện Nam Đường. Ong sinh ra Luật, Luật sinh ra cảnh, cảnh sinh ra Huy, Huy sinh ra Hoan tức Tấn quận công.

Theo phả của họ Nguyễn ở Nha Trang thì Nguyễn Khoan sinh ra Nguyễn Khoái. Nguyễn Khoái chuyến cư về quê mẹ ở Đông Triều. Hậu duệ đời thứ 5 của ông là Nguyễn Cảnh Chân, đời thứ 6 là Nguyễn Cảnh Dị. Các con Nguyễn Cảnh Chân, nhân quân Minh xâm lược đã chuyển từ Đông Triều vào Nghệ An trong số đó có Nguyễn Cảnh Lữ. Trong Hoan châu kỷ, ghi ông ở phường Thiên Lý (một phố dọc đường Thiên Lý, số 18 ngày nay) và chuyển vào Nghệ. Đó là một điểm ăn khớp với Nguyễn cẵnh Dị. Ông có hậu duệ đời thứ 6 và đời thứ 7 là Huy và Hoan. Trong phẳ Nha Trang cũng ghi Huy và Hoan là hậu duệ đời thứ 7 và thứ 8 của Nguyễn Cảnh Chân. Điểm này cho thấy đúng Nguyễn Cảnh Lữ ngang vai với Nguyễn Cảnh Dị.

Ồng là con Nguyễn Cảnh Chân.

Nguyễn Cảnh Lữ sinh ra Luật.

Đời thứ mười bảy: NGUYỄN CẢNH LUẬT

Ông là con Nguyễn Cảnh Lữ. Ông ờ Ngọc Sơn, làm nghề châm cứu. Ông bị hổ vồ chết nhirtig không ăn thịt mà đào hố chôn ở Eo Chó Đề (nay là đồi Cháy, xã Thanh Ngọc, huyện Thanh Chương). Vì sau con cháu có công lớn. ông được truy phong Khai Quốc Suy Trung Dương Nghĩa Phụ Quốc Công Thần, Quản Lĩnh Thiết Đột Trung Thánh Dực Tướng Diễn Phúc Hầu. Sau còn được gia phong Á Quận Công. Ông sinh ra Cảnh, tổ của một đại chi.

ĐẠI CHI: NGUYỄN CẢNH

Đời thứ mười tám: NGUYỄN CẢNH CẢNH

(Nam Đường)

Ông là con Nguyễn Cảnh Luật.

Ông người khoan hòa, thích làm việc thiện. Làm thày thuốc nhưng rất nghèo. Nhân chữố bệnh cho một nhà khá giả, tuy gia chủ trả tiền rất hậu nhưng ông chỉ lấy tiền đúng giá, gia chủ đã tặng một con bò để trả ơn. Ồng cấy cầy và làm thuốc, tuy vẫn nghèo khó. Ông tiếp đãi chu đáo một thày địa lý nhỡ độ đường ở nhờ nhà. Thày địa lý đã chỉ cho một huyệt để chôn mộ mẹ. Nhờ phát mả nên con cháu về sau lập nên sự nghiệp lớn. Mộ ông táng tại Ngọc Sơn.

Tổ bà: NGUYỄN THỊ...

Không rõ tên, bà con gái quan Tổng Tri quân dân sự vụ họ Nguyễn. Bà táng tại Nùng Na. Ông bà sinh 7 trai và 2 gái. Bảy con trai là Đạo, Địch, Tồng Liệt, Bá Khầm (Cầm), Huy, Huyên, Tạc. Hai gái là Ngọc Ghẩn, Ngọc Nô.

(Sẽ ghi tiếp phân hệ Nguyễn Cảnh ở sau).

5. Hâu duệ của Nguyễn Đình Hợp (phân hê 8 Thương Xá) ở trên, cuối đời Trần, đã ghi sự hình thành phân hệ 9 ở Thượng Xá, do Nguyễn Hợp là thủy tổ. Nguyễn Đình Hợp sinh ra Nguyễn Đình Hội.

Đời thứ mười bảy: NGUYEN ĐÌNH HỘI

Ông là con của Nguyễn Đình Hợp. Cũng làm nghề muối như cha. Thường đem muối ra bán ở Lam Sơn, Thanh Hóa và làm quen với Phụ đạo Lê Lợi.

Năm 1405, dưới triều Nhuận Hồ (1400 - 1407), Nguyễn Hội đang nấu muối (có thuyết nói đang cất vó) bị hổ vồ chết rồi tha xác đến xứ Đồng Lầm chôn và rào lại. Theo truyền thuyết dân gian thì chính ông nuôi con hổ này. Đêm đêm ông và hổ vẫn ra canh đăng đơm cá, đêm 23 tháng 3 năm At Dậu (1405) ông ra đăng bị hổ tưởng trộm nên vồ nhầm chủ. Hôm sau, người nhà tìm được thi hài, đem chôn chỗ khác. Hổ đến gần gầm thét dữ dội, rồi cõng xác về chôn lại chỗ cũ. Nghĩ rằng đó là điềm trời, gia đình giữ nguyên ngôi mộ hổ táng.

Tổ bà: VŨ THỊ HẠCH

Vì con trai Nguyễn Đình Xí có công lớn, nên Nguyễn Đình Hội được truy tặng Thái Bảo Đình quận công; tổ bà Vũ Thị Hạch được truy tặng Quận phu nhân.

Ông bà sinh hai trai: Đình Biện và Đình Xí

Đời thứ mười tám: NGUYỄN ĐÌNH BIỆN

Ông là con trai Nguyễn Đinh Hội, anh ruột Nguyễn Đình Xí. Đình Xí sinh năm 1397. Nếu Đình Biện hơn em 10 tuổi chầng hạn thì sinh năm 1387 tức ít tuổi hơn Nguyễn Trãi (sinh 1380). Nguyễn Đình Biện (Thượng Xá) kém Nguyễn Biện (Gia Miêu) 50 - 60 tuổi và kém Nguyễn ứng Long (sinh năm 1358) 31 tuổi. Nếu Nguyễn Đình Biện chỉ hơn Nguyễn Đình Xí 3 - 4 tuổi, thì sự chênh lệch về tuổi tác với Nguyễn Trãi, Nguyễn ứng Long còn lớn hơn. Nói như vậy để thấy không thể nhầm Nguyễn Biện (Gia Miêu) với Nguyễn Đình Biện ờ Thượng Xá. Nguyễn Biện ờ xứ Mường Gia Miêu làm Phụ đạo, không làm muối, không tham gia Nghĩa quân Lam Sơn mà chỉ các cháu ông mới tham gia. Còn Nguyễn Đình Biện không làm Phụ đạo, mà làm muối rồi làm tướng trong nghĩa quân Lam Sơn. Hồi nhỏ, Đình Biện theo cha lên Lam Sơn bán muối và gặp Lê Lợi. Sau khi cha mất, ông cùng em là Đình Xí dọn nhà lên Lam Sơn ở gần Lê Lợi.

Khi Lam Sơn khởi nghĩa, ông được Bình định vương giao cho chỉ huy một đơn vị nghĩa quân đánh giặc Minh, lập nhiều chiến công. Ông đã hy sinh trong một trận đánh ở Tây Đô. Sau đại thắng, Lê Thái Tổ truy phong ông là Thái phó Nghiêm Quận Công, thụy Huệ Vũ. Ông không con cái. Giỗ ngày 27 tháng 8 âm lịch.

Đời thứ mười tám: NGUYỄN ĐÌNH XÍ

Ông là con của Nguyễn Đình Hội, chính sử thường ghi ông là Nguyễn Xí. Chữ Hán, Xí nghĩa là ngọn lửa sáng rực.

Ông sinh năm Đinh Sửu (1397) tại làng Thượng Xá, huyện Chân Phúc đạo Hoan Châu (nay là xã Nghi Hợp, huyện Nghi Lộc tỉnh Nghệ An). Thuở nhỏ làm muối với cha. Cha mất (1405) ông mới lên chín, theo anh ruột ra ở nhà Phụ đạo Lê Lợi ở Lam Sơn, được giao dạy một đàn chó 100 con, dùng mã la (mõ) huấn luyện chó đì đứng, tiến lui, ăn uống có quy củ, được Lê Lợi khen: "Loài vật vô tri, còn nuôi dạy được như thế huống hồ là việc luyện tập và cai quản quân sĩ. Nay có việc làm phi thường, mai sau sẽ có hành động phi thường”.

Khi Lam Sơn dấy nghĩa, mới 21 tuổi, ông đã cùng anh là Nguyễn Đình Biện tham gia khởi nghĩa từ đầu, đã đánh địch trong trận đầu tiên ờ Lạc Thủy.

Khi địch mở cuộc tiến công lớn vào căn cứ Lam Sơn, ngày 16 tháng 4 năm Mậu Tuất (1418), ông cùng Đinh Lễ, Đỗ Bí, Trương Lôi, Lê Đạo chỉ huy quân kiên cường đánh địch, bảo vệ chủ soái an toàn rút lên Pù Rình (Chí Linh). Cuối năm Canh Tý (1420), Bình Định Vương sai ông cùng các tướng Nguyễn Lý, Phạm Vấn, Lê Triện phục kích đánh thắng trận Bồ Mộng, tạo điều kiện để đập tan cuộc tiến công khu Mường Thôi do Lỵ Bân chỉ huy. Tháng 12 năm Nhâm Dần (1 - 1423) nghĩa quân bị tấn công ở Quan Du (Quan Hoa - Thanh Hóa), phải rút sang Khôi huyện (Nho Quan - Ninh Bình). Địch từ Đông Quan, Tây Đô cũng đánh, ta bị hãm vào tử địa, nên ông cùng Phạm Vấn, Lê Triệu, Lê Hào, Lê Văn Linh, Trương Lôi, Trịnh Khả, Lê Tri, chấp hành lệnh của Bình Định Vương đánh nhanh để phá vây, diệt trên nghìn địch, thu trên 100 lừa ngựa, đẩy lui được cuộc tiến công của địch.

Khi nghĩa quân vào mở căn cứ mới ờ Nghệ An, ông tham gia trận đánh diệt địch ờ Đa Căng (Thọ Nguyên, Thọ Xuân) để mở đường tiến quân. Ông còn đánh các trận địch chặn đường hoặc truy đuổi, phục kích giết 2.000 địch ở Bồ Đằng, hạ đồn Trà Lân diệt hơn 1.000 địch, những trận mà Bình Ngô đại cáo đánh giá "sấm ran chớp giật", "trúc chẻ tro bay”.

Tiếp đó, ông được tham gia hai trận phục kích lớn ở Khả Lưu, Bố Ai tiêu diệt một bộ phận quan trọng sinh lực địch, bắt sống trên 1.000 tên, một số tướng giặc, đánh lui quân thủy bộ từ Đông Đô và Nghệ An đến phản công hòng chiếm lại Trà Lân, hãm địch vào thế bị động chiến lược, tạo điều kiện cho Nghĩa quân tiến xuống đồng bằng kết hợp tiến công với nổi dậy như ong của nhân dân, giải phóng một vùng rộng lớn, buộc địch co lại cố thủ ở thành Nghệ An (Rú Thành) và Phủ Diễn Châu, còn nghĩa quân thì thùầ cơ đưa quân giải phóng Tân Bình Thuận Hóa, tiếp đó đuầ quân ra làm chủ xứ Thanh, buộc địch phải co lại cố thủ Tây Đô.

Mùa thu nặm Bính Ngọ (1426) thực hiện chủ trương của Bộ Thống soái chuyển chiến trường chính ra Bắc, Nguyễn Đình Xí cùng Đinh Lễ lĩnh 3.000 quân, hai thớt voi ra vùng Thanh Đàm để cùng với các cánh quân khác kết hợp tiến công với "bốn phương nổi dậy như ong" giải phóng vùng đồng bằng, dồn địch vào cố thủ Đông Đô.

Tháng mười năm Bính Ngọ (1426) ông đã cùng Đinh Lễ tổ chức trận phục kích ở Ninh Kiều, Chúc Động, Tốt Động giết 5 vạn quân địch ra phản công, bắt một vạn tù binh do Vương Thông chỉ huy vừa được tăng viện từ Trung Quốc sang, một trận đánh tiêu diệt đầu tiên trên đất Bắc: "Ninh Kiều máu chảy xuôi dòng, tanh trôi muôn dặm, Tốt Động íhđy phơi đầỵ nội, thối để nghìn thu", một trận đã đánh bại hẳn ý đồ phản công chiến lược hòng giành lại quyền chủ động của Vương Thông, dồn địch vào thế bị vây hãm ở Thăng Long và càng bị động hơn trước. Ông được thăng chức Thượng tướng quân. Trong trận ông và Đinh Lễ đem 500 quân thiết đột ứng cứu cho Lê Nguyễn bị tiến công, không may cả hai người bị địch bắt. Đinh Lễ bị giết, còn ông lợi dụng khi muầ to gió lớn chạy thoát. Binh Định Vương mừng rỡ cho là "trời cho sống lại", giao cho ông nhiệm vụ tiếp tục bao vây Đông Quan. Ông đã được đem quân tham gia đánh trận quyết chiến chiến lược cuối cùng ở Xương Giang, ngày 15 tháng 10 năm Đinh Mùi (1427) dưới sự chỉ huy chung của Trần Nguyên Hãn, tiêu diệt 5 vạn địch. Vì có công lớn, sau đại thắng, ông được vua phong Long Hổ Thượng Tướng Quân, Suy Trung Bảo Chính Công Thần, được ban quốc tính Lê Xí. Tháng 5 năm Kỷ Dậu (1429) Thuận Thiên thứ hai, ông được ban tước "Huyện Hầu”, đứng thứ 14 trong số 99 người được ban tước.

Khi Thái tổ băng hà, năm Quý Sửu (1433), ông vâng di chiếu cùng một số công thần tôn phò Thái Tử Nguyên Long lên ngôi, tức Lê Thái Tông. Năm Đinh Ty (1437) ông được cử giữ chức Tham Tri Chính Sự kiêm Tri Từ Tụng. Khi Thái Tông băng, triều đình tôn Băng Cơ lên ngôi tức Lê Nhân Tông. Ông một lòng phò tá ấu chúa. Năm Ât Sửu (1445) ông được thăng chức Nhập Nội Đô Đốc. Năm Bính Dần (1446) ông cùng Lê Khôi, Nguyễn Chích đánh thắng Chăm Pa, bắt được vua Chăm. Ông dụ hàng được một số tướng và lính Chăm (sau thành lập một làng gần Thượng Xá). Năm Mậu Thìn (1448), ông được thăng chức Thiếu Bảo. Năm Giáp Tuất (1459), Nghi Dân và tay chân Phan Đồn, Phan Ban giết Nhân Tông và Thái hậu, cướp ngôi vua. Một số người ra mặt chống đối bị giết. Nguyễn Đình Xí với chức Thái Bảo, chức thứ ba trong tam công nhưng là chức cao nhất trong các cựu thần lúc bấy giờ giả vờ mù, không tham gia chính sự. Nhưng ông bí mật định kế cùng các trung thần tìm cách hạ bệ Nghi Dân. Bọn tay chân Nghi Dân dò xét xem ông có mù thật không nên chọc ghẹo nàng hầu của ông ngay trước mặt, ông vẫn làm như không thấy, thậm chí chúng đuầ đíte con trai út thứ 16 của ông chưa đầy năm đặt trên đường đi, ông đã dẫm chết. Bọn phản nghịch mới nghĩ đúng là ông mù thật. Nhân một bữa tiệc do tên Phan Đồn sai đầu sỏ tổ chức, lúc Đồn nhờ ông sờ đầu sờ mặt để xem tướng, khi sờ đến gáy và cổ, ông nhanh chóng rút dao sắc dấu sẵn trong hài, cắt cổ Phan Đồn, lập tức lực lượng phục sẵn của Điện tiền chỉ huy Nguyễn Đức Trung cùng với các tướng Đinh Liệt, Lê Niệm, Nguyễn Sư Hồi giết trên 100 nghịch tặc. hạ bệ Nghi Dân.

Năm Canh Thìn (1460) ông và triều đình tôn phò Gia Vương Lê Tư Thành lên ngôi tức Lê Thánh Tông, một vị vua anh minh nhất trong thời kỳ phong kiến của nước ta.

Tháng sáu năm Canh Thìn (1460) ông được vua phong là Khai Phủ Nghi Đồng Tam Ty, Nhập Nội Khiển Hiệu, Thái Phó Bình Chương Quân Quốc Trọng Sự, Á Hầu Phụ Chính. Tháng 10 năm Canh Thìn (1460) ông được phong Nhập Nội Hữu Tướng Quốc, Sái Quận Công, rồi tiến phong chức Thái úy.

Ông qua đời ngày 30 tháng 10 năm Ất Dậu (1465) thọ 69 tuổi, an táng tại quê ở Thượng Xá.

Ong được ụua ban tên thụy là Nghĩa Vụ và truy tặng chức và tước là Thái Sư Cương Quốc Công, được phong là Thượng Đẳng Phúc Thần, Hiển Uy Chính Nghi Anh Liệt Trung Trình Đại Vương. Các triều tiếp tục truy phong đến Thượng Thượng Đẳng Phúc Thần, ớ Thượng Xá và một số nơi đều có đền thờ ông.

Tổ bà chính thất: LÊ THỊ NGỌC LÂN

Bà dòng dõi nhà Lê, được phong mỹ hiệu Quốc phu nhân.

Nguyễn Đình Xí còn có một số thiếp, phả không ghi rõ.

Ông có 16 con trai và 8 con gái với các thê thiếp.

16 con trai là: Đình Khôi (tức Sư Hồi), Sương, Nhật Huyền, Bá Kiệt, Kế Sài, Phùng Thời, Thúc Ngu, Tôn Cao, Cảnh Thành, Trọng Đạt, Phúc Xá, Hữu Lượng, Đồng Dần, Nhân Thức, Văn Chinh, Duy Tân. Con út Duy Tân bị dẫm chết lúc chưa đầy năm nên chỉ còn mười lăm.

8 con gái là: Ngọc Hỷ, Ngọc Lễ (lấy thái tử), Ngọc Minh (lấy con trai Tả thị lang Chính Trung Hầu ở xã Mỹ Dụ huyện Hưng Nguyên - Nghệ An), Ngọc Thái, Ngọc Biên, Ngọc Liễn, Ngọc Kinh, Ngọc Bình.

15 con trai hình thành 15 đại chi, trong đó có chi Canh Hoạch - Tiên Điền (của Nguyễn Du) sẽ nói ở sau.

 

Phụ lục 5

DI HUẤN CỦA NGUYỄN ĐÌNH xí CHO CON CHÁU

(Đây là di huấn viết năm 1462, ba năm trước khi mất, được Lê Thánh Tông duyệt).

Ta ỉà người Thượng Xá, huyện Chân Lộc, phủ Đức Quang, đạo Hoan Châu. Vốn họ Nguỵễn tên Xí, mấy đời sống ở vùng biển uới nghề ỉàm muối. Thuở nhỏ, gặp lúc nhà Nhuận Hồ mạt ưận, cha mất sớm, phải theo anh là Biện, dời nhà ra ở với Đức Thái tổ Cao hoàng dế tại Lam Sơn. Năm đó ta vừa lên chín tuổi, được vua sai dạy một đàn chó biết tiến biết dừng. Vua thấy thế thì khen và càng thêm yêu mến. Ngày mồng 4 tháng Giêng năm Mậu Tuất (1418), thấu giặc Minh ngày càng tỏ ra điên rồ, vua cho giết voi uống máu ăn thề và ra lệnh cho các bậc hào kiệt dấy nghĩa binh ở đất Lam Sơn. Năm đó ta uừa hai mươi hai tuổi. Được ưua trao cho binh phù uà cùng anh ta /à Biện dốc hết sức ra mong dẹp yên lủ giặc. Trong khoảng 10 năm trời, ta đã cùng các ưị tướng khác nếm trải trăm trận gian khổ, cuối cùng giặc Minh đã bị diệt. Núi sông đất nước được thu về trọn uẹn. Năm Mậu Thân (1428), uua lên ngôi, mở đại hội tướng lĩnh, xếp thứ hạng, định phong thưởng. Xét ta có công lớn phong cho danh hiệu Khai Quốc Công Thần Á Quận Công uà anh ta là Biện, hy sinh trong khi đánh giặc củng dược uua gia tặng Thái Phó Nghiêm Quận Công thụỵ Huệ Võ. Niên hiệu Thuận Thiên thứ $áu, vua để di chiếu sai phụ giúp việc nối ngôi của Thái Tông Văn Hoàng đế, ta ngày đêm lo lắng công cuộc hưng thịnh thái bình. Tiếp đên dời uua Nhân Tông, niên hiệu Diên Ninh thứ sáu, có Lệ Đức hầu là Lê Nghi Dân, giấu kín lòng tà, ban đêm cùng Đồn, Ban trèo tường uào cung điện giết uua, cướp ngôi, xưng hiệu là Thiên Hưng. Lúc đó ta với cương uị đứng đầu, đã cùng các bậc đại thần Văn Vỗ, Xướng đại nghĩa giết Đồn, Ban quét sạch cung cấm, rước Hoàng Thượng từ Phiên để về lên ngôi đại báu, nối tiếp truyền thống ớn laơ. Vua trân trọng tưởng nhớ ta ìà người có công lớn mở mang cứu vớt, khí tiêt trung thành, bèn phong lên là Khai Quốc Suy Trung Dương Võ Minh Nghĩa Phụ Quốc Tá Lỷ Tĩnh Nạn Trung.

Hưng Công Thần, Thái Nguyên Trấn Phiêu Kỵ Thượng Tướng Quân, Đặc Tiến Khai Phủ Nghi Đồng, Tam Ty Nhập Nội Kiêm Hiệu, Tả Phụ Hữu Tướng Quốc, Thái Phó Bình Chương Quân Quốc Trọng Sự, Lệnh Quân Thiết Đột Trung Kiên Dực Tướng Thiết Đột, Tả Kiên Dực Thánh Thượng Trụ Quốc, Tứ Kim Ngủ, Đại Kim Phù Cương Quốc Công, tứ tính Lê. Vua còn truy tặng hiển khảơ ta tước Thái Bảo Đình Quốc Công, thụụ Phúc Thắng, hiển tỷ ta là Quận phu nhăn. Các thê thiếp ta đều được hưởng phúc ấm và sự che chở. Ta sinh được 16 con trai uà 8 con gái. Con trai lấy vợ là công chúa. Con gái lấy chồng là Hoàng tôn. Ai củng được hưởng vinh quang tột mức phẩm chế. Vuo còn sai ban lộc điền công thần. Riêng ta còn tậu thêm ruộng đất đầm ao tại các phủ, huyện, xã trong đó có phần đất đặt làm ruộng tổ, có phân chia cho các ngươi lưu giữ làm sản nghiệp lâu dài.

...Nay các ngươi trông thấy nhà đẹp, ruộng đất giàu có, thì phải nghĩ đến nỗi uất uả, chặt gai phát bụi của ta, trông thấy cảnh ca nhi múa hát ưui vẻ thì phải nghĩ đến thời ta chịu ụịan khổ, nằm tuyết gối đông. Ta thấy đời Đường, Lỷ Tĩnh ¡à bậc danh tướng nhưng có con là Kính Nghiệp làm phản, các ngươi cần /ấy đó làm gương để tránh; đời Tống, Tào Bân củng là danh tướng nhưng có con ỉà Xán Vĩ lại bước chân lên đàn tướng lĩnh, các ngươi nên sánh uới họ. Các ngươi con cháu phải cẩn thận giữ gìn gia pháp, lấỵ đạo hiếu để lập công, ấy ìà con cháu hiền thảo của ta. Hoặc giả, trái lại, nếu ai gây đầu mối tranh giành nhau thì các ngươi phải làm biểu tâu lên triều đình DÌ tội bất hiếu. Các ngươi hãy cùng nhau ghi nhớ lời dạy này của ta, không được quên.

Quang Thuận năm thứ 3 tháng 5 ngày 12 (1462)

Nay di huấn Thái sư Cương Quốc Công Nguyễn Xí.

* * *

Phân hệ họ Nguyễn Đình (Thượng Xá) là một phân hệ lớn có nhiều hậu duệ ở khắp toàn quốc. Nguyễn Đình Xí có 16 con trai, trừ một người chết, còn hình thành 15 đại chi phát triển trong 600 năm, tất nhiên, con cháu phải rất đông đảo. Vì chưa đủ tư liệu nên chưa thể ghi cụ thể về từng đại chi mà chỉ ghi từng vị tổ của từng đại chi. Qua' tư liệu con trai út là Duy Tân bị dẫm chết năm 1459 chưa đầy năm, nghĩa là lúc trên 60 tuổi Nguyễn Xí vẫn có con thì có thể phán đoán 15 con còn sống từ người đầu đến người cuối có thể cách nhau 30 tuổi. Trong 15 đại chi này có một đại chi sinh ra hậu duệ là Nguyễn Du (sẽ nói ở sau).

 

ĐẠI CHI: NGUYỄN ĐÌNH KHÔI

Đời thứ mười tám: NGUYỄN ĐÌNH KHÔI

Ông là con trai trưởng của Nguyễn Đình Xí, tên húy là Đình Khôi, tự là Sư Hồi. Ông tham gia sự kiện hạ bệ Nghi Dân, tôn phò Lê Thánh Tông lên ngôi dưới sự chủ trì của cha. Trong bài chế vua tuyên dương có câu: "Cha con ngươi một nhà, cùng một lòng diệt phường gian ác. Nghĩa uua tôi nghìn thuở, đỡ mặt trời mà dặt lên cao". Ông được vua gả công chúa nên giữ chức Phò Mã Đô úy. Sau được giao tổ chức phòng thủ nhiều đoạn ven biển Nghệ An trong đó có Cỉfo Lò quê ông. Ong chiêu dân lập ấp hình thành xã Vạn Lộc trù phú. Chức vụ cao nhất được phong là Thái úy, được dự triều chính.

Tháng 3 năm Nhâm Ngọ (1462) có một việc liên quan đến sinh mạng chính trị của ông. Có một bài thơ được vất ra đường như sau:

Nhân hữu nhị tâm uưu khả nghi Tự lai chung cách hiệu ui phi Thổ biên hữu hoặc, chân hung bạo Thủụ tại íôy bàng, xã tắc nguy.

Nghĩa là:

Người có tên chữ Nhân và hai chữ Nhị tâm rất đáng nghi (chữ Niệm (£?) là chữ nhân uới chữ nhị tâm, ám chỉ Lê Niệm).

Người tên giống chữ Lai càng hay lòm điều phi pháp (chữ Lỗi giống chữ Lai, ám chỉ Nguyễn Lỗi).

Người có tên một bên chữ Thổ một bên chữ Hoặc rất hung bạo. Thổ bên chữ Hoặc là chữ Vực, ám chỉ Lê Thọ Vực).

Người có tên chữ Tây bên trái có Ba chấm thủy xã tắc nguy (Ba chấm Thủy cạnh chữ Tây là chữ Sái, ám chỉ Trịnh Văn Sái).

Người ta đổ cho Nguyễn Sư Hồi lầm bài thơ ấy để lật đổ bốn công thần Lê Niệm, Nguyễn Lỗi, Lê Thọ Vực, Trịnh Văn Sái, cần trị tội Sư Hồi. Nhưng Lê Thánh Tông phán: "Sư Hồi có công phò giúp trong buổi trung hưng với cha là Xí, có công lớn trong thời khai quốc, nên tha cho tội chết". Sau vua còn bảo Thọ Vực: "Bài thơ yêu quái đó vị tất. là do Sư Hồi làm, trong khi nghi ngờ có thể vu oan. Câu nói về Lê Niệm, Nguyễn Lỗi, Trịnh Văn Sái thì ngờ cũng là phải, còn Thọ Vực thì chỉ nói hung bạo, chưa nói rõ phản nghịch, sao lại đổ cho Sư Hồi làm". Như vậy là nhờ bản thân có công, nhờ là con Nguyễn Xí, Sư Hồi đã được Lê Thánh Tông gỡ tội cho.

Sau khi qua đời, Sư Hồi được phong là Thượng đẳng phúc thần. Có đền thờ ông ở xã Vạn Lộc (nay là xã Nghi Tiên -    Nghi Lộc), đã được Bộ văn hóa công nhận là di tích lịch sử văn hóa.

Ông có con là Dũng lược hầu Nguyễn Đình Thảo, cháu là Quang lược hầu Nguyễn Đình Hiển, chắt là Thao lược hầu Nguyễn Đình Thông.

ĐẠI CHI: NGUYỄN ĐÌNH SƯƠNG

Đời thứ mười tám: NGUYỄN ĐÌNH SƯƠNG

Ông là con thứ hai của Nguyễn Đình Xí, lấy vợ là công chúa nên có chức Phò Mã Đô úy Nghiêm Võ Vệ Tổng Quản Đồng Tổng Tri Chủ Tướng Sự Hành Thuận Hóa Đạo Đô Tổng Binh Sứ Ty Đô Tổng Binh Sứ. Ông có con là Uy Vũ Công Thần Tả Đô Đốc Huấn Kiệt Hầu Nguyễn Bá Nhật; Lưu Thủ Tuần Cơ Đống Lương Hầu Tặng Phân Lược Tướng Quân Nguyễn Cận;

Cháu là Thái Bảo Chiêu Quận Công Nguyễn Bá Ký; Thái Uy An Trung Hầu Nguyễn Đình Hán; Thiếu Uy Nguyên Quận Công Nguyễn Bá Quýnh; Thái úy An Quốc Công Khâm Sai Thống Tướng Nguyễn Bá Kỳ; Tẳ Đô Đốc Văn Quận Công Nguyễn Bá Tông; Trung Lương Hầu Nguyễn Bá Nhung; Chánh Đội Trưởng Nguyễn Bá Đạt; Chánh Đội Trưởng Nguyễn Đình Hướng; Chánh Đội Trưởng Nguyễn Đình Hoa; Tả Đô Đốc Phúc Quận Công Nguyễn Bá Bác.

Chút là Thân Quận Công Nguyễn Bá Ngữ; Tả Hiệu Điểm Phương Nham Hầu Nguyễn Bá Nghị; Phò Mã Đô úy Hành Quận Công, truy tặng phúc thần Hồng Y Đại Vương Nguyễn Bá Hành; Phú Lân Hầu Nguyễn Bá Trân; Phàn Lân Hầu Thượng Tướng Quân Nguyễn Bá Lai; Phú Lộc Hầu Nguyễn' Bá Sâm; Hiếu Dũng Hầu Nguyễn Bá Nhâm; Chánh Đội Triệu Vân Bá Nguyễn Đình Tài.

Hậu duệ đời thứ 7 của Nguyễn Sương: Tra Lân Hầu Nguyễn Bá Lệ; Chánh Đội Trưởng Nguyễn Đình Đặc;

Đời thứ 8: Xá Lĩnh Hầu Nguyễn Bá Kiên; Chánh Đội Trưởng Nguyễn Đình Tấn; Hoằng Lược Bá Nguyễn Đình Đạt.

Đời thứ 9: Chưởng Điền Tộc Hầu Nguyễn Bá cảnh; Chưởng Lộc Hầu Nguyễn Bá Đỉnh.

Đời thứ 10: Anh Võ Tướng Quân Nguyễn Địch Du.

Đời thứ 12: Tú tài Nguyễn Đình Mai.

Đời thứ 13: Suất đội Nguyễn Đình Ái.

Đời thứ 15: Tú tài Nguyễn Huy Xán.

ĐẠI CHI: NGUYỄN NHẬT HUYEN

Đời thứ mười tám: NGUYỄN NHẬT HUYEN

Ồng là con thứ ba của Nguyễn Đình Xí, giữ chức Hóa Châu Thần Giáp Quân Đồng Tri Đô Tổng Binh Sứ Ty Đô Tổng Binh Sứ.

Ông có cháu ba đời là cẩm Y Vệ Đô Chỉ Huy Sứ Mỹ Phúc Hầu Nguyễn Đình Miễn;

Chắt là Tán Trị Công Thần Thượng Tướng Quân Lâm Khê Hầu Nguyễn Đình Quan; Cháu 5 đời là Đô Chỉ Huy Sứ Tuấn Lương Hầu Nguyễn Đình Đức; Cháu 6 đời là Đô Chỉ Huy Sứ Lâm Xuyên Hầu Nguyễn Đình Thăng...

ĐẠI CHI: NGUYỄN BÁ KIỆT Đời thứ mười tám: NGUYEN BÁ KIỆT

Ong là con trai thứ tư của Nguyễn Đình Xí, ông làm Đồng Tri (phó) Tam Phụ Quốc Quân Vệ Phấn Võ.

ĐẠI CHI: NGUYỄN KẾ SÀI Đời thứ mười tám: NGUYEN KẾ SÀI

Ong là con trai thứ năm của Nguyễn Đình Xí làm Đồng Tri (phó) rồi Đô Tổng Binh Sứ Ty Đô Tổng Binh (chánh tư lệnh) Tam Phụ Quốc Quân Đạo Thuận Hóa.

Ông có con là Huân Liệt Hầu Tả Đô Đốc Nguyễn Đình Phú; Thái Bộc Khanh Nguyễn Đình Quả; Tả Hiệu Điểm Nguyễn Đình Bảng; Thống Chế Vệ Qui Thủy Sư Nguyễn Đình Bính; Thị Lang Hầu Nguyễn Đình Điển;

Cháu là: Thiên Lộc Hầu Nguyễn Đình Lô; Quỳnh Sơn Hầu Đô Chỉ Huy Sứ Vệ Kim Ngô Nguyễn Đình Báu; Thọ Khê Hầu Tổng Binh Vệ Phấn Dũng Nguyễn Đình Nghi; Vạn Thắng Hầu Nguyễn Đình Sung; Dực Nghĩa Hầu Nguyễn Đình Liêu;

Chắt là: Lan Xuyên Hầu Tả Hiệu Điểm Nguyễn Phụng Minh; Thái Bảo Hoằng Quận Công Nguyễn Kế Hưng;

Chút là: Phó Tượng Trinh Quận Công Nguyễn Trọng Thưởng; Nghĩa Thắng Hầu Đô Chỉ Huy Sứ Vệ Kim Ngô Nguyễn Đình Yên; Đại Trung Bá Chánh Đội Trưởng Nguyễn Đình Khang;

Cháu đời thứ 5: Hóa Thắng Hầu Hữu Kiểm Điểm Nguyễn Kế Định;

Cháu đời thứ 6: Cảnh Lương Hầu Hữu Hiệu Điểm Nguyễn Đình Công; Trấn Hưng Hầu Tham Đốc Nguyễn Kế Đô; Thịnh Xá Hầu Nguyễn Trọng Chất; Ân Vinh Bá Chánh Đội Trưởng Nguyễn Trọng Hạ; Uy Lộc Hầu Đô Chỉ Huy Sứ Nguyễn Trọng Hiền; Hán Dương Hầu Tham Đốc Nguyễn Trọng Lương;

Đời thứ 7: Thủy Đường Hầu Tả Hiệu Điểm Nguyễn Kế Tào; Thành Vinh Bá Nguyễn Kế Luân; Dũng Lộc Bá Chánh Đội Trưởng Nguyễn Kế Chức; Hiển Lộc Bá Chánh Đội Trưởng Nguyễn Cảnh Diêu;

Đời thứ 9: Kinh Trung Bá Nguyễn Đình Biện;

Đời thứ 10: Thuận Trung Bá Nguyễn Đình Hiệu; Phó Tướng Thái Quận Công Nguyễn Kế Ninh;

Đời thứ 11: Phụ Quốc Thượng Tướng Quân Thượng Trụ Quốc Phó Tướng Đắc Lộc Hầu Khâm Sai Chưởng Dinh tặng phong Thiếu Bảo Nguyễn Đình Đắc; Liêu Thọ Hầu Đô Chỉ Huy Sứ Nguyễn Đình Liệm;

Đời thứ 12: Quyên Thọ Hầu Kiết Tiết Trung Tướng Quân Nguyễn Đình Quyên; Phó Quản Kỹ Bổ Thu Đại Hùng Kỳ Nguyễn Đình Vi; Hậu Vệ Hiệp Quản Tỉnh Nam Định Nguyễn Đình Tú; Chánh Đội Trưởng Đội Bảy Bổ Phụ Tinh Binh của Dinh Tiền Vệ Khâm Sai Hổ Ưy Nguyễn Đình Dực; Tú Tài Nguyễn Huy cảnh;

Đời thứ 13: Duy Võ Bá Quản Lệnh Nguyễn Đinh Dung; Chánh Vệ úy Nguyễn Đình Dân; Chánh Đội Trưởng đội tám Tinh Binh, Trung Quân Hữu Kỳ tỉnh Hà Nội;

Đời thứ 14: Chánh đội trưởng suất đội Nguyễn Đình Thuật.

ĐẠI CHI: NGUYỄN PHÙNG THÌ

Đời thứ mười tám: NGUYỄN PHÙNG THÌ

Ong là con thứ sáu của Nguyễn Đình Xí, giữ chức Đô Tổng Binh Sứ (tư lệnh) của Ty Đô Tổng Binh Sứ đạo Thanh Hoa, vợ là Ngọc Nghiêm.

Ong có con là Thống Nguyên Hầu Nguyễn Đình Quế;

Cháu là Cấm Lĩnh Hầu Nguyễn Đình Biền;

Chắt là Vĩnh Khang Hầu Nguyễn Đình Lân;

Chút là Hiền Lam Hầu Nguyễn Đình Ly; Đại Trung Bá Nguyễn Đình Khang;

Cháu đời 12 là Đô Chỉ Huy Sứ Tổng Binh Liêm Sự gia phong Hoài Viễn Tướng Quân Nguyễn Đình Mỹ;

Đời 13 là đồng tri (phó) Hành Chỉ huy Nguyễn Đình Kham;

Đời 14 là Chánh đội trưởng Nguyễn Đình Du.

ĐẠI CHI: NGUYỄN THÚC NGU

Đời thứ mười tám: NGUYỄN THÚC NGU

Ông là con thứ bảy của Nguyễn Đình Xí, giữ chức Đồng Đô Tổng Binh Sứ Ty Đô Tổng Binh Sứ của vệ Ninh Quốc Nhất Cục Chính Giám.

ĐẠI CHI: NGUYỄN TÔN CAO

Đời thứ mười tám: NGUYỄN TÔN CAO

Ông là con thứ tám của Nguyễn Đình Xí, còn có tên là Tôn Ti. Giữ chức Đồng Tri Đô Tổng Binh Sứ Ty Đô Tổng Binh Sứ của Nhất Cục Chính Giám xứ Lạng Sơn. Vợ là con gái Lê Liêm ở Lam Sơn, Lương Giang (nay là Thọ Xuân Thanh Hóa).

ĐẠI CHI: NGUYỄN CẢNH THÀNH

Đời thứ mười tám: NGUYỄN CẢNH THÀNH

Ông là con trai thứ chín của Nguyễn Đình Xí, giữ chức Đô Tổng Binh Sứ (tư lệnh) Ty Đô Tổng Binh Sứ (Bộ tư lệnh) vệ Tuyên Quốc. Vợ là con gái Phó Quốc công Lê Thọ Vực ở xã Đàm Thi, huyện Lương Sơn (Thọ Xuân) Thanh Hóa.

ĐẠI CHI: NGUYỄN TRỌNG ĐẠT

Đời thứ mười tám: NGUYÊN TRỌNG ĐẠT

Ông là con trai thứ mười của Nguyễn Đình Xí, giữ chức Đại Tín Đại Phu, có công lập hai trang Bàu ủ, Đồng Sô, cải tạo tù hàng binh người Chăm. Vợ là con gái của Nguyễn Thúc ờ huyện Đường An.

ĐẠI CHI: NGUYỄN PHÚC XÁ

Đời thứ mười tám: NGUYỄN PHÚC XÁ

Ông là con thứ mười một của Nguyễn Đình Xí, ông giữ chức Đạt Tín Đại Phu Nhất Cục Chính Giám.

Ong có hậu duệ đời thứ 11 là Hiếu Thuận Hầu Đô thống Chưởng Phụ Sự Nguyễn Văn Hiếu. Nguyễn Phúc Xá theo Lê Thánh Tông Nam chinh, đánh Chămpa (1471). Sau khi ta mở rộng thêm vùng Bình Định, ông được lệnh ở lại khai dân lập ấp, lấy vợ hình thành nhiều chi họ ở miền Nam. Nguyễn Văn

Hiếu là hậu duệ đời thứ 11 của Phúc Xá, tức đời thứ 12 của Nguyễn Đình Xí. Lúc đầu ông có tước Lương Năng Bá sau thăng Hiếu Thuận Hầu. Khi ông được bổ nhiệm làm Trấn Thủ Nghệ An, có về cố hương Thượng Xá và viết bài Phổ Kỷ họ Nguyễn Thượng Xá nổi tiếng.

ĐẠI CHI: NGUYỄN HỮU LƯỢNG

Đời thứ mười tám: NGUYỄN HỮU LƯỢNG

Ông là con trai thứ mười hai của Nguyễn Đình Xí, giữ chức Quản Lệnh Vệ Huấn Đạt.

ĐẠI CHI: NGUYỄN ĐỒNG DAN

Đời thứ mười tám: NGUYỄN ĐỒNG DAN

Ông là con thứ mười ba của Nguyễn Đình Xí, giữ chức Quản Lệnh Vệ Ngọc Linh.

ĐẠI CHI: NGUYỄN NHÂN THỰC

Đời thứ mười tám: NGUYỄN NHÂN THỰC

Ông là con thứ mười bốn của Nguyễn Đình Xí, giữ chức Quân Lệnh, Tiền Sở Vệ Nghiêm Dũng.

Ông có con là Phan Long Hầu Hữu Hiệu Điểm Nguyễn Đình Toàn;

Cháu là Thăng Lộc Hầu Phó Cai Đội Nguyễn Đình Mẫn; Lễ Trung Bá Chánh Đội Trưởng Nguyễn Đình Sơn;

Cháu 6 đời là Chánh Đội Trưởng Triều Lộc Bá Nguyễn Đình Xuyên;

Cháu 12 đời là Liên Võ Tùy Hiệu Nguyễn Đinh Mại;

Cháu 13 đời là Chánh Vệ úy Nguyễn Đình Căn;

Cháu 14 đời là Tú tài Nguyễn Đình Tạo;

Cháu 15 đời là Thừà phái Nguyễn Đình Phiên.

ĐẠI CHI: NGUYỄN VĂN CHINH

Đời thứ mười tám: NGUYỄN VĂN CHINH

Ông là con thứ mười lăm cửa Nguyễn Đình Xí, giữ chức Đô Tổng Binh Sứ Ty Đô Tổng Binh Sứ đạo Thanh Hoa. Ông có con là Thận Đức Hầu Thái bảo tả đô đốc Nguyễn Đình Tiến;

Cháu là Nham Quận Công Phó Tướng Nguyễn Như Ngọc;

Chắt là Triều Hoan Hầu Phó Cai Đội Nguyễn Như Khuê;

Đời thứ 5: Vi Dương Bá Chánh Đội Trưởng Nguyễn Như Lộc; Triều Võ Hầu Hữu Điểm Nguyễn Nhã Lâu;

Đời thứ 6: Thái Xá Hầu Thiêm Sự Nguyễn Đình Bính;

Đời thứ 7: Cấn Giang Bá Chánh Đội Trưởng Nguyễn Đình Bách.

Đời thứ mười tám: NGUYỄN DUY TÂN

Ông là con trai thứ mười sáu của Nguyễn Đỉnh Xí, mất khi còn nhỏ.

6 - Hậu duê của phân hê 10 (Nguyễn Long)

Đời thứ mười bảy: NGUYỄN NGẠN QUANG.

Ông là con Nguyễn Long. Ông giữ chức An phủ sứ đời Trần ở trấn Quảng Nam và tiếp tục giữ chức ấy dưới nhà Hồ, Hồ Quý Ly có thơ nói về ông như sau:

Biên quản thừa tuyên tư tráng khí Hùng thiên tiết chế hữu huỵ du Thanh tùng bảo nhữ tuế hàn tiết Bạch phát khoan dư Tây cố ưu Huấn sức nông binh dư tiểu tử Giải đình trấn thủ dữ hà thu Cẩn lao luật vị vô  tri giả Từ mục nguyên phì tê miễn lưu Tạm dịch nghĩa:

Trân trị phương xa giúp một íay Hùng thiên tiết chế sẵn mưu hay Thông xanh người giữ bên ngày rét Tóc bạc ta không ngại phía Tây Dạy bọn nông binh đều dược tốt Rút quân đồn trú chẳng bao ngày

Chớ lo uất uả không ai biết Tua mủ không che nổi mặt này.

Khi nhà Hồ thất bại, ông cùng anh họ Nguyễn Cảnh Chân đưa quân phò các vua hậu Trần chống Minh. Ông sinh Nguyễn Tất Bang.

Đời thứ mười tám: NGUYỄN TẤT BANG

Ông là con Nguyễn Ngạn Quang. Ông đậu thái học sinh dưới triều Hồ. Ông theo cha phò Hậu Trần chống Minh. Khi Hậu Trần thất bại, ông đưa mẹ vể ẩn dật ở Thạch Hà (Hà Tinh) rồi tham gia cuộc chiến tranh giải phóng chống Minh do Lê Thái Tổ lãnh đạo. Sau thắng lợi ông được phong Tham tri Bộ lễ. Ông sinh Nguyễn Học.

Đời thứ mười chín: NGUYỄN HỌC

Ông là con Nguyễn Tất Bang, đậu tiến sĩ dưới triều Lê Thái Tông, được cử làm Hàn lâm viện Đại học sĩ. Ông có tham gia biên soạn Bộ luật Hồng Đức.

Ong sinh Tôn Nghiêm.

Đời thứ hai mươi: NGUYỄN TÔN NGHIÊM

Ông là con Nguyễn Học, đậu tiến sĩ dưới triều Lê Thái Tông, làm Giám sát sứ. Ông sinh Nguyễn Tấn Bột.

Đời thứ hai môt: NGUYỄN TẤN BỘT

Ong là con Nguyễn Tôn Nghiêm, đậu tiến sĩ dưới triều Quang Thuận, theo Lê Thánh Tông Nam chinh năm 1471, ờ lại khai khẩn đất Thăng Hoa. Năm 1473 được kiêm giữ chức Thiếu doãn Phụng Thiên phủ. Ông sinh Nguyễn Thọ Trương, sẽ nói tiếp ở sau.

Mục 2

CÁC VỊ TỔ THUỘC HỆ II

Hệ II chỉ ghi được một số đại chi của phân hệ 12 (Nguyễn ứng Long và phân hệ 13 (Nguyễn Chân Tính).

1. Hậu duê của phân hê 12 Nguyễn Ứng Long (Chi Ngại)

ĐẠI CHI: NGUYỄN TRÃI

Đời thứ mười bảy: NGUYỄN TRÃI

Ông là con trai cả của Nguyễn ứng Long và bà Trần Thị Thái. Tên hiệu là ức Trai, sinh năm Canh Thân (1380).

Khi còn nhỏ, có một thời ông ở với ông ngoại ờ Côn Sơn là Tư Đồ Túc Chương Hầu Trần Nguyên Đán. Sau khi ông ngoại qua đời, ông về Nhị Khê ờ với cha và được cha dạy dỗ. Là một người rất thông minh, ngày 1 tháng 8 năm Canh Thìn (1400), ông đậu Thái học sinh (Tiến sĩ) dưới triều Hồ rồi được bổ nhiệm làm Chánh Chương Đài Ngự Sử.

Khi nhà Minh cướp nước ta, chúng bắt được cha ông là Phi Khanh giải sang Trung Quốc. Ông tiễn cha đến ải Nam Quan. Sau khi nghe lời cha dặn, ông trở về lưu lạc đó đây, lập chí cứu nước, tìm minh chủ để thờ theo đúng lời cha dạy. Mười năm sau ông gia nhập nghĩa quân Lam Sơn dâng Bình Ngô sách lên Bình Định Vương.

Là một người tài ba lỗi lạc, hiểu rõ bách gia chư tử, nắm chắc Võ kinh thất thư, ông được Bình Định Vương rất tín nhiệm giao cho giíf chức Hàn Lâm Viện Thừa Chỉ Học Sĩ. Ông được tham gia bàn bạc các kế sách mưu lược bình Ngô, dự thảo các văn kiện, chỉ dụ của vua. Ông đã góp phần quan trọng vào các chiến thắng của nghĩa quân.

Bằng nghệ thuật tâm công tranh thủ lòng dân do ông đề xướng, nghĩa quân đã phối hợp đánh địch với "bốn phương nổi dậy như ong" để giành thắng lợi. Đặc biệt theo mệnh vua, ông đã viết các văn thư gửi quân Minh, những bức thư đánh vào lòng các tướng giặc có sức mạnh như "đạo hùng binh mười vạn" buộc tướng trong các thành bị vây, kể cả Đông Quan phải đầu hàng. Đó là cách đánh giặc vô cùng sáng tạo của dân tộc ta hồi thế kỷ 15. Sau đại thắng ông được giao viết bài Bình Ngô dại cáo, một bản tổng kết chiến tranh tuyệt diệu, một bản thiên cổ hùng văn. Ông được vua ban quốc tính, được giao giữ chức Triều Liệt Đại Phu Nhập Nội Hành Khiển Lại Bộ Thượng Thư kiêm Chưởng Khu Mật Viện, tước Quan Phục Hầu.

Năm 1429, trong sự kiện Lê Thái Tổ nghi oan Trần Nguyên Hãn làm phản, vì ông là anh em cô cậu của Trần Nguyên Hãn, nên cũng bị nghi oan, bị hạ ngục, bị tước quốc tính và mọi chức tước. ít lâu sau, ông được thả về ở Côn Sơn nhuhg không được khôi phục chức tước.

Năm 1433, Lê Thái Tổ băng, Lê Thái Tông lên ngôi. Theo di mệnh của Thái Tổ, Thái Tông khôi phục lại cho ông chức cũ và kiêm thêm các chức Gián Nghị Đại Phu Tri Tam Quán Sự và Tri quân dân hai lộ ở Đông Bắc. Ông lại hết lòng phò vua giúp nước, được vua tin, dân quí, nhưng bị bọn nịnh thần đố kỵ. Vì mâu thuẫn với bọn hoạn quan trong việc soạn nhạc, ông xin về nghỉ tại Côn Sơn.

Thế rồi một tai họa ập tới. Đêm mồng 4 tháng 8 năm Nhâm Tuất (7 tháng tháng 9 năm 1442) trên đường đi kinh lý về có ghé vào thăm nhà ông ở Côn Sơn, Lê Thái Tông đột tử ờ Trại vải làng Đại Lãi, huyện Gia Bình, phủ Thuận Thành, lộ Kinh Bắc. Vi Nguyễn Thị Lộ, nàng hầu của Nguyễn Trãi, giữ chức Lễ Nghi Học Sĩ đang hầu cạnh vua, nên bị buộc tội đã nghe theo chồng giết vua, do đó Nguyễn Trãi bị tội oan tru di tam đại và bị giết vào ngày 16 tháng 8 năm Nhâm Tuất (19 tháng 9 năm 1442). Lịch sử gọi đó là Vụ án Lệ Chi Viên.

Ông bị hành hình ở thôn Phượng Vũ, xã Phượng Dực, huyện Thượng Phúc, phủ Thường Tín, trấn Sơn Nam.

Ông cùng vợ cả Trần Thị Thành sinh ba trai: Hồng Tiệm, Hồng Lực (hai người này cùng bị tru di với cha mẹ) và Hồng Quì (có phả ghi là Hồng Đạt) chữ là Chấn Vũ (người này chạy thoát về Gia Miêu).

Bà vợ lẽ Phạm Thị Mẫn có mang ba tháng đang đi chợ được tin, vội chạy về quê mình ở Bối Khê (Thường Tín, Hà Tây) sinh ra Anh Vũ lấy họ mẹ, sau trốn về Bồn Mường Mán (Gia Miêu).

22 năm sau, năm Giáp Thân (1464) niên hiệu Quang Thuận thứ năm, Lê Thánh Tông xuống chiếu minh oan cho Nguyễn Trãi, truy phong ông tước Đặc Tiến Kim Tự Vinh Lộc Đại Phu Tán Trụ Bá, cho Phạm Anh Vũ lấy lại họ Nguyễn của cha, ban một trăm mẫu ruộng dùng vào việc thờ phụng. Thánh Tông nói "ức Trai tâm thượng quang Khuê tảo" (Lòng ức Trai sáng chói như ánh sao Khuê).

Đời Lê Hiến Tông gia phong ông là Tế Văn Hầu, phong làm phúc thần với mỹ hiệu Diên Khanh Đại Vương Nguyễn Trãi là một nhân tài kiệt xuất trong lịch sử nước ta. Ông là một nhà chính trị, một nhà quân sự lỗi lạc có công lao to lớn phò Lê Thái Tổ trong sự nghiệp bình Ngô, giành lại độc lập cho dân tộc và trong sự nghiệp xây dựng đất nước.

Bình Ngô sách nay không còn, nhiửig với tên gọi của nó có thể đoán đó là đường lối tiến hành chiến tranh chống giặc Minh, giải phóng dân tộc. Tư tưởng quân sự của ông đã góp phần quan trọng vào hệ thống tư tưởng quân sự của các tướng lĩnh Lam Sơn do Lê Thái Tổ đứng đầu. Ông đã tổng kết hệ thống tư tưởng quân sự của nghĩa quân Lam Sơn tức của Lê Lợi một cách cô đọng như sau:

"Dĩ nhược chê cường, hoặc công nhân chi uô bị, dĩ quả địch chúng, thường thiết phục dĩ xuất kỷ". Nghĩa là “lấy yếu chống mạnh thì đánh đích không phòng bị (tức tập kích), lấy ít địch nhiều thường đặt phục binh đánh bất ngờ (tức phục kích)”.

Cống hiến nổi nhất của Nguyễn Trãi là "Tâm công" đánh vào lòng người là tranh thủ lòng dân để “bốn phương nổi dậy như ong”, là viết các bài văn địch vận, buộc các tướng và quân lính giặc trong các thành bị vây, bó giáo quy hàng. Đương nhiên phải trải qua đánh tiêu diệt lớn, công tác đích vận mới thành công. Nhưng nhờ địch vận thành công lại đỡ được xương máu.

Ông là người có công lớn giúp vua xây dựng đất nước. Ngay sau chiến thắng Chúc Động, Tốt Động, ông đã sơ bộ giúp vua tổ chức bộ máy chính quyền toàn quốc. Tháng 5 năm Đinh Mùi (1427) ông giúp vua thảo chiếu "Chiêu dụ hào kiệt", viết chỉ dụ cho nhân dân xiêu tán về quê cũ làm ăn, và lệnh các địa phương phải để dân đi lại thông thương tự do. Ông tham gia chấm các khoa thi Minh Kinh (năm 1427 và năm 1429) để chọn hiền tài. Sau khi Lê Thái Tổ lên ngôi, theo lệnh vua, ông viết chiếu xá thuế hai năm. Tháng 10 năm Kỷ Dậu (1429), ông thảo chiếu quân điền, lập sổ đinh, và chiếu về tiền tệ. Ông còn viết chiếu của vua cấm bách quan không được làm lễ khánh hạ, tiệc tùng, cấm các quan lười biếng, tham nhũng.

Ông là một nhà tổng kết chiến tranh, một nhà văn, nhà thơ lớn của dân tộc Việt Nam

Bình Ngô đại cáo là một bản tuyên ngôn độc lập sau đại thắng quân Minh, Lam Sơn thực lục là cuốn sử tóm tắt của sự nghiệp giải phóng dân tộc, do ông dự thảo, Lam Sơn động chủ (tức Lê Thái Tổ) đứng tên. Phú Chí Linh nói lên ý nghĩa to lớn của cuộc đấu tranh gian khổ phải vượt qua ờ ngọn núi này để từ đó đi đến thắng lợi.

Bia Vĩnh Lăng là bia ghi công Lê Thái Tổ ờ lăng Người.

Tất cả các tác phẩm nói trên đều là nhữhg bản tổng kết chiến tranh sâu sắc, gọn ghẽ bằng thể văn súc tích.

Quân trung từ mệnh tập bao gồm một số bài văn nội bộ và phần lớn là để giao thiệp với các tướng lĩnh quân Minh, tức là những bài "tâm công" sắc sảo rất có tác dụng kêu gọi các tướng Minh mở cửa thành ra hàng.

Dư địa chí là cuốn sách về địa lý nước ta, dâng vua để giúp vua thấy được non sông gấm vóc do tổ tiên để lại.

Băng Hồ tiên sinh cựu truyện kể về người ông ngoại của Nguyễn Trãi, quan Tư đồ Chương Túc Hầu Trần Nguyên Đán mà ông đã được chung sống những năm tuổi thơ.

Ức Trai thi tập bằng chữ Hán và Quốc âm thi tập đã tập hợp hàng trăm bài thơ nói lên tình cảm và tư tưởng vĩ đại của ức Trai.

Qua hoạt động và tác phẩm của Nguyễn Trãi, có thể thấy ông là một nhà tư tưởng, nhà văn lớn của dân tộc ta, lấy dân làm gốc, lấy nhân nghĩa làm đầu. Ông đã sống một cuộc đời thanh bạch, trong sáng, kiên quyết đấu tranh chống bọn gian nịnh, tham nhũng đục khoét của dân, của nước. Trong lịch sử, nhiều danh nhân Việt Nam đã ca tụng hết lời Nguyễn Trãi, coi ông là một người kiệt xuất có một không hai.

Năm 1980, chấp hành chủ trương của Bộ Chính trị Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, Chính phủ ta đã tổ chức vô cùng trọng thể kỷ niệm 600 năm sinh của Nguyễn Trãi và suy tôn ông là một vị anh hùng dân tộc.

UNESCO đã công nhận ông là một danh nhân văn hóa lớn của thế giói.

Mộ ông táng tại núi Giáp Sơn, xã Chi Ngại, huyện Phương Nhãn, lộ Kinh Bắc (nay là huyện Chí Linh Hải Dương). Đền thờ chính ông ờ Nhị Khê. Ngoài ra có thờ ông ờ một số nơi khác do hậu duệ lập như ở Nỗ Vệ, Nam Hồng (Phú Xuyên, Hà Tây), Chợ Lương (Hải Anh, Hải Hậu, Nam Định), Nam Giang (Nam Trực, Nam Định)...

Vợ chánh thất: TRẦN THỊ THÀNH

Bà sinh ba trai: Hồng Tiệm, Hồng Lực, Hồng Quì.

Bà bị chu di một lần cùng ông ngày 16 tháng 8 năm Nhâm Tuất, mộ táng tại núi Giáp Sơn xã Chi Ngại.

Vợ thứ thất: PHẠM THỊ MAN

Bà quê ở Bối Khê (Thường Tín, Hà Tây). Khi Nguyễn Trãi bị tru di, bà có mang ba tháng đang đi chợ. Được tin, bà lập tức chạy về quê mình ở Bối Khê, sinh ra Anh Vũ. Anh Vũ lấy họ mẹ Phạm Anh Vũ. Được bà con họ Nguyễn đu5a về trốn ở Bồn Mường Mán (Gia Miêu ngoại trang) trong hơn 20 năm. Khi Lê Thánh Tông minh oan cho Nguyễn Trãi, Anh Vũ mới được vua cho lấy lại họ cha, rồi đi thi. Dòng họ Nguyễn Trãi đời đời nhớ ơn dòng họ Nguyễn Gia Miêu của Nguyễn Biện đã duy trì được nòi giống của mình chính là vì thế. Có phả ghi nhầm bà trốn sang Bồn Man ở Trung Lào. Trong Nhị Khê gia phả ghi chữ Nôm là Mường Mán có nghĩa là vùng Mường (Gia Miêu).

Thiếp: NGUYỄN THỊ LỘ

Bà quê ở làng Hới, xã Hải Triều, huyện Ngự Thiên, lộ Long Hưng. Bà là một người xinh đẹp, có tài làm thơ văn xuất chúng được Lê Thái Tông đuầ vào cung làm Lễ Nghi học sĩ. Bà theo hầu vua khi vua đồng tuần và xẩy ra vụ thảm án Lệ Chi Viên, bà bị giết. Có tư liệu viết bà ra sông tự vẫn. ơ quê hương bà còn có miếu thờ.

 

Phụ lục 6

Phả Nhị Khê có ghi chuyện "Rắn báo oán" như sau:

Tổ tiên để lại cho Nguyễn Trãi một khu vườn khoảng nửâ mẫu; cây cỏ um tùm. Trong vườn có một hang rắn không biết đã mấy trăm năm. Ông cho chặt cây dọn cỏ để làm một ngôi nhà ở. Tối đến ông đang nghỉ ở thư hiên, chợp mắt nằm mộng thấy có một người phụ nữ bế con đến xin cho chậm ba ngày hãy chặt dọn để cô có thời gian tìm chỗ tránh. Ông tỉnh mộng trời chifä sáng hẳn, nghe bọn trẻ bảo nhau đã giết ba con rắn. Tỉnh hẳn mới biết bọn trẻ bảo đã giết cả rắn mẹ và rắn con. Ông giật mình rất tiếc đã không kịp bảo tránh giết rắn. Tối ông ngồi đọc sách, thấy từ xà nhà rơi xuống một giọt máu thấm ba trang sách. Ông thất kinh biết sẽ bị báo oán ba đời.

Đến khi ông đã làm quan quí hiển nhất, hàng ngày làm việc ở triều đình đí về, một hôm gặp nàng Nguyễn Thị Lộ đi bán chiếu.

Ông làm thơ hỏi:

A ở nơi dâu bán chiếu gon Chẳng hay chiếu ấy hết hay còn Xuân xanh phổng độ bao nhiêu tuổi Đã có chồng chưa được mấy con

Thị Lộ úfrig khẩu họa vận ngay:

Tôi ở Thanh Đàm bán chiếu gon Nỗi chi ông hỏi hết hay còn Xuân xanh vừa độ trăng tròn lẻ Chưa có chồng sao lại hỏi con

Ông yêu tài sắc của Thị Lộ và cưới nàng làm thiếp sớm tối xướng họa rất tâm đầu ý hợp.

Vua Lê Thái Tông nghe tiếng Thị Lộ là người có nhan sắc, lại có tài văn thơ nên cho đưa vào cung làm Lễ Nghi học sĩ dạy các cung nhân. Thế rồi xảy ra vụ án Lệ Chi viên, Nguyễn Trãi bị tru di. Phả Nhị Khê ghi bà xin cai ngục ra sông rồi hóa thành rắn, biến mất.

Chuyện rắn báo oán là một câu chuyện hoang đường. Thị Lộ là người có thực, chứ không phải là rắn hiện thành người.

Cũng có ý kiến cho sau khi tru di Nguyễn Trãi, triều đinh đã cho đặt ra chuyện rắn báo oán ly kỳ này, nhiftig dù ai bày đặt ra thì vụ án Lệ Chi Viên cũng không phải do rắn báo oán mà có. Vậy Thị Lộ là người thế nào.

Cũng có ý kiến cho tuổi Nguyễn Thị Lộ hơn tuổi Lê Thái Tông rất nhiều, như mẹ với con nên không có chuyện vua ngủ với Thị Lộ rồi đột tử. Cần minh oan cho Nguyễn Trãi và cho cả Thị Lộ.

Có đúng như uậy không?

Gia phả Nhị Khê viết Nguyễn Trãi gặp Thị Lộ khi ông làm quan quí hiển nhất. Quí hiển nhất là lúc nào? Nguyễn Trãi sinh năm Canh Thân (1380). Năm Canh Thìn (1400) ông đậu thái học sinh lúc 20 tuổi dưới triều Hồ rồi giữ chức chánh chương đài ngự sử ở Tây Đô (Thanh Hóa) không phải ở Thăng Long. Ông cưới vợ cả là Trần Thị Thành; không phải lúc này ông đã quí hiển nhất và cưới nàng hầu. Sau khi giặc Minh chiếm nước ta, trong mười năm lưu lạc (1407- - 1417) ông chưa có điều kiện cưới Thị Lộ làm thiếp. Trong mười năm chiến tranh giải phóng (1418 - 1428) với chức vụ Hàn Lâm Viện Thừâ Chỉ, đi sát Bình Định Vương để phục vụ, chiến trường lại luôn di động, ngay vợ cả ông cũng khó mang theo, còn nói gì chuyện mang theo một nàng thiếp. Sau khi đất nước được giải phóng (1428), Lê Thái Tổ lên ngôi, ông cũng chưa được quí hiển nhất vì năm 1429, nhân sự kiện Trần Nguyên Hãn bị oan, ông cũng bị cầm tù ít lâu, rồi được thả mất hết mọi chức tước. Chỉ sau khi Lê Thái Tổ băng, tuân theo di chiếu của vua cha, Lê Thái Tông mới trọng dụng ông, ông được giao giữ chức Gián Nghị Đại Phu kiêm Tri Tam Quán Sự và tri quân dân hai lộ Đông Bắc, nhất là từ năm 1435, sau khi Lê Sát bị cách chức, ông mới được quí hiển nhất. Vào thời kỳ này, đi về làm việc ờ triều đình, ông gặp Thị Lộ ở Thăng Long như gia phả Nhị Khê đã ghi, không phải ở Tây Đô, tức là lúc này Thị Lộ mới trăng tròn lẻ, còn ông thì đã quá tuổi ngũ tuần.

Phả Nhị Khê ghi:

"Sơ đê ái công chi thiếp, Thị Lộ, dung mạo văn chương chi mỹ" nghĩa là xưa vua yêu thiếp của ông là Thị Lộ, dung mạo văn chương đều đẹp.

Việc vua yêu Thị Lộ được phả ghi rõ ràng. Thị Lộ phải trẻ đẹp xấp xỉ tuổi vua (nhiều lắm hơn vua một vài tuổi) vua mới yêu; còn nếu Thị Lộ là một bà già thì không thể ghi chuyện yêu đương như vậy trong gia phả.

Trong phả Nhị Khê còn ghi thêm một đoạn:

"Cập đế đồng tuần, hanh Côn Sơn công gia, dữ Thị Lộ thông nhi đế băng" nghĩa là kíp khi vua đồng tuần, ông vinh hạnh được vua tới nhà ở Côn Sơn, vua thông với Thị Lộ rồi băng.

Có ý kiến cho là việc ghi như vậy là do sau sự kiện Lệ Chi viên, triều đỉnh buộc viết gia phậ phải ghi như vậy. ơ Nhị Khê còn có một số phả khác không viết như vậy. Thử hổi nếu triều đình bắt buộc ghi thì sao gia phả lại dám ghi một chuyện động trời vua yêu Thị Lộ, thông với Thị Lộ rồi đột tử. Viết vua xấu như vậy thì không phải sẽ bị tru di tam đại, mà bị tru di cửu tộc. Chẳng qua con cháu đã bí mật ghi lại đúng sự thật trong gia phả mà thôi.

Nhà thơ Hà Nhiệm Đại, thế kỷ 16, trong hai câu kết của bài thơ vịnh Nguyễn Trãi đã viết:

Họa kia gây bởi Văn Hoàng lỗi Xà nọ nhời đâu chỉn lạ thường

Ông Nhiệm Đại cũng cho là gây ra họa Lệ Chi viên là lỗi của Văn Hoàng tức là của Lê Thái Tông, còn chuyện rắn báo oán là không tin được.

Ngoài cuốn gia phả Nhị Khê nói trên, cuốn gia phả bằng chữ Hán của chi Nguyễn Nhữ Soạn (em ruột Nguyễn Trãi) đã ghi lại hai bức thư, một của Nguyễn Trãi gửi Thị Lộ, hai của Thị Lộ phúc đáp thư Nguyễn Trãi.

Bức thư của Nguyễn Trãi bằng chữ Hán là một bức thư đánh ghen. Ông viết (tạm dịch):

"Tình đời lắt léo, lòng gái khôn lường, có kẻ tình ngoại giết chồng, nào sợ trời xanh lổng lộng; có người mê chơi bỏ nghĩa, chẳng haụ uầng nhật sáng choang".

Ông nhắc Thị Lộ: "Phải tự mình mình lo, tự ta ta sửa", bởi vì: "Lồ lộ ngôi cao, khỏi lo thục nữ lương duyên. Vua Đường thải hàng ngày gái đẹp, trong cung người đẹp nhường bao. Vua Tống nuôi hàng trăm gái trinh, trên điện gái trinh biết mấy" Ông già trách nàng thiếp trẻ của mình được vua yêu. Ông nói: "Một lần như thế, hai lần như thế, ta đã thấỵ đã nghe, tam tòng là gì, tứ đức là gì, nàng nên lo, nên sửa".

Trong thư phúc đáp, Thị Lộ cũng viết bằng chữ Hán. Sau khi nhắc lại mối tình đằm thắm với Nguyễn Trãi, Thị Lộ đã nói trắng việc nàng được vua yêu và nàng cũng yêu vua (tạm dịch):

"Vốn nhân, uốn kính, ngoài là uua ưua, tôi tôi, cùng mến cùng thân, trong là chồng chồng, vợ ượ" rõ ràng là cũng mến, cũng thân chứ không phải chỉ riêng vua mến vua thân.

Thị Lộ cho đó là việc đáng mừng:

"Việc bởi người làm, mừng thay trăm năm tiếng tốt, ỷ do trời định, quí thau muôn thuở thơm danh".

Cho nên Thị Lộ mong được làm hiền phi rồi trở thành Thánh mẫu.

"Nghe gà gáy Tề Thi, thiếp mong học hiền phi lập đức. Nhìn móng ỉân giữ nếp quân tử, thiếp muốn làm thánh mẫu ban nhân"... "Củng mong sáng chói nghìn đời, để lại tiếng thơm muôn thuở"... "Trời ban mệnh lệnh, chớ có sai trái!"

Vì thế trong bài thơ ờ đoạn kết họa vận bài thơ đoạn kết của Nguyễn Trãi, Thị Lộ đã bộc lộ nguyện vọng của mình:

"Phúc đượm duyên trời cầm sắt hợp

Nghiệm xem con cháu thánh hiền sinh"

Phải được vua yêu, phải phúc đượm duyên trời cầm sắt hợp, mới có con cháu thánh hiền sinh.

Tất nhiên hai bức thư này không phải do triều đình bắt buộc viết và cũng không phải do đời sau con cháu phịa ra.

Chuyện rắn báo oán đúng là một chuyện hoang đường, nhưng dựa vào các tư liệu lấy từ các phả cũ của dòng họ thì thấy không có cách nào để minh oan cho Thị Lộ.

Phả Nhị Khê ghi 4 chữ "Cái Họa Thị Lộ" là đúng.

ĐẠI CHI: NGUYỄN PHI BÁO Đời thứ mười bảy: NGUYỄN PHI BÁO

Ông là con trai thứ hai của Nguyễn ứng Long và Trần Thị Thái. Khi cha bị giặc Minh bắt sang Trung Quốc, ông theo hầu. Ông và Phi Hùng đã đem hài cốt cha về táng tại Bái Vọng Sơn (vô khảo).

ĐẠI CHI: NGUYỄN PHI LY

Đời thứ mười bảy: NGUYỄN PHI LY

Ông là con thứ ba của Nguyễn ứng Long và Trần Thị Thái (vô khảo).

ĐẠI CHI: NGUYỄN PHI BẰNG

Đời thứ mười bảy: NGUYỄN PHI bang

Ông là con thứ tư của Nguyễn ứng Long và Trần Thị Thái (vô khảo).

ĐẠI CHI: NGUYỄN PHI HÙNG

Đời thứ mười bảy: NGUYỄN PHI HÙNG

Ông là con trai thứ năm của Nguyễn ứng Long và bà thứ thất không rõ tên họ. Khi cha bị bắt sang Trung Quốc, ông theo hầu. Sau khi cha mất, ông đã cùng anh đem hài cốt cha về táng tại Bái Vọng Sơn. Ông về ẩn cư ở thôn Phù Khê, huyện Đông Ngàn, phủ Từ Sơn, lộ Kinh Bắc (nay là tỉnh Bắc Ninh) đổi tên là Nguyễn Phúc, hiệu là Huệ Tĩnh hình thành một đại chi ở đây, trong đó có nhiều hậu duệ nổi tiếng như tiến sĩ Nguyễn Quỳnh Cư, tiến sĩ Nguyễn Hồ, tiến sĩ Nguyễn Trọng Đạt, một lãnh tụ Cần Vương Nguyễn Thiện Thuật, Tổng bí thư Đảng Cộng sản Đông Dương Nguyễn Văn Cừ, Chủ tịch nước Nguyễn Lương Bằng. Hậu duệ của ông phân ra nhiều nơi: Hiệp Hòa (Bắc Giang), Nhân Chính (Hà Nội), Phan Rang.

ĐẠI CHI: NGUYỄN NHỮ SOẠN

Đời thứ mười bảy: NGUYỄN NHỮ SOẠN

Ông là con thứ sáu của Nguyễn ứng Long và bà kế thất họ Nhữ. Khi cha bị giặc Minh bắt, ông còn ít tuổi ở quê mẹ, làng Cẩm Nga xã Mộc Thuận, huyện Đông Sơn, lộ Thanh Hoa. Ông tham gia nghĩa quân Lam Sơn lập nhiều chiến công được phong là Bình Ngô Khai Quốc Công Thần Nhập Nội Hành Khiển Á Hầu Khanh, được ban quốc tính, bổ nhiệm làm Tham Tri đạo Hải Tây (gồm Thanh, Nghệ, Thuận Hóa) rồi Đồng Tri đạo Bắc sau thăng Tham Nghị Chính Sự Viện rồi Hành Khiển đạo Nam. Ông mất năm Mậu Thìn (1448), mộ táng tại xứ Đồng Mâu, thôn cẩm Nga, xã Mộc Thuận huyện Đông Sơn, lộ Thanh Hoa, ở đấy có nhà thờ ông. Các vua Lê truy tặng ông là Tuy Quận Công, truy phong phúc thần với mỹ hiệu Hiển Liệt Đại Vương. Đời Gia Long có sắc tặng là Hoành Mô Yên Biên Tĩnh Nạn Đại Vương.

Vợ chánh thất: NGUYỄN THỊ TÀI

Bà quê ờ phường Phúc Khang, hương Lam Sơn (nay là Xuân Lam, Thọ Xuân, Thanh Hóa), sinh Dương Quận cồng Nguyễn Nhữ Trực.

Vợ thứ thất: NGUYỄN THỊ THỦY

Bà quê Mộc Nhuận, Đông Sơn, sinh Kiên Quận công Nguyễn Nhữ Ngộ.

Vợ thứ thất: CHƯ THỊ TOĨỆU

Quê ở Nghệ An, sinh Đại lộc hầu Nguyễn Nhữ Lương.

ĐẠI CHI: NGUYỄN NHỮ TRẠCH

Đời thứ mười bảy: NGUYỄN NHỮ TRẠCH

Ông là con thứ bảy của ứng Long và bà kế thất họ Nhữ. Có tư liệu nói ông ẩn cư ở làng Bòng (Đồng Biện, Vĩnh Lộc, Thanh Hóa). Có hậu duệ ở đấy và ở Thịnh Mỹ, Thọ Diên, Thọ Xuân, Thanh Hóa.

Sẽ ghi tiếp phân hệ Nhị Khê ở thời kỳ II của nhà Lê, ờ sau.

2 - Hậu duê của phân hệ 13 (Nguyễn Chân Tính - Đại Từ)

Thuỷ tổ phân hệ Đại từ Nguyễn Chân Tính sinh con là •Nguyễn Hiếu Thiện.

Đời thứ mười lăm: NGUYỄN HIẾU THIỆN

Ong là con của Chân Tính, không rõ tên húy, vì là người thích làm việc thiện, nên đặt hiệu là Hiếu Thiện. Ông sinh ra Chính Tâm.

Đời thứ mười sáu: NGUYỄN CHÍNH TÂM

Ông là con Nguyễn Hiếu Thiện. Chính Tâm chỉ là hiệu. Đến đời Hồng Đức, cháu nội ông làm đến Thượng Tướng, nên ông được truy tặng là Kim Ngô Vệ úy Chính Tâm Bá. Vợ được truy tặng ỉà Tự Phu Nhân, hiệu Trinh Thục. Ông sinh ra Nguyễn Uông tức Nguyễn Triệu Chú.

Đời thứ mười bảy: NGUYỄN UÔNG (Triệu Chú)

Ông là con của Nguyễn Chính Tâm. Ông là người nhân nghĩa, nghiêm trang, ham đọc sách, được mọi người kính trọng.

Cuối đời nhà Hồ, qiặc Minh xâm lược, ông chạy về Thành Nam cày ruộng, tuy người Minh mời làm quan, ông không chịu làm quan cho giặc. Khi Lê Thái Tổ lấy lại nước, cầu hiền, ức Trai Nguyễn Trãi, người làng Nhị Khê, huyện Thượng Phúc (nay là huyện Thường Tín) là người trong họ (đều gốc Chi Ngại) thấy Nguyễn Triệu Chú là người tài cao học rộng nên tiến cử, nhưhg ông một mực không nhận, mặc dù nhà rất nghèo. Ông ngồi dạy học ờ nhà quan ngự sử họ Trương ở trong làng. Tục truyền rằng ở cạnh nhà quan Ngự Sử, có một cô gái lẳng lơ thường sang chòng ghẹo ông, bị ông cự tuyệt. Sau cô tư thông với một người khác, có mang và đổ cho ông, nhưng không ai tin. Ông trao đổi với quan Ngự sử: "Tôi sợ nó làm hại đứa bé trong bụng nên tôi nhận". Sau khi sinh người con gái lại sang gặp ông hòng buộc ông nhận làm vợ. Ông nghiêm nét mặt mắng:''Ta đã có vợ con, còn cô thì chưa chồng, nếu ta lấy cô

sẽ hại đến âm đức. Ta sở dĩ nhận là để tránh hại cho đứa bé. Cô không được buộc ta làm điều xấu ấy". Người con gái hổ thẹn bỏ đi.

Một hôm ông nằm mộng thấy được đến gặp Diêm Vương. Diêm Vương phán: "Nhà ngươi trên trần thế rất phúc hậu, một mình trong nhà mà cự tuyệt gái đẹp tự tìm đến, thật là có đức hạnh. Nay ta cho nhà ngươi sống thêm một giáp và cho con cháu ngươi được hiển vinh". Đây là chuyện huyền hoặc do phả cũ ghi.

Đời Hồng Đức, con ông làm Thượng Tướng tước Quận Công, nên ông được tặng phong Đặc Tiến Chiêu Nghi Tướng Quân Đô Đốc Đồng Tri Trung Lương Bá.

Năm Hồng Đức thứ 35, vua ban thụy là Võ Tính và có chiếu, tạm lược dịch như sau:

Thừa thiên hưng vận, Hoàng đế chiếu rằng: Tiết của nhà Nho, lệ hạnh sao không cần, vinh được nêu tên, biểu dương khí tiết thanh cao, nêu gương kẻ sĩ có đức hạnh, dời nào chẳng có. Lòng hiền của đấng nam nhi dược nổi danh. Xưa chốn Hoa tuyết thâm sơn, thường nhắc chuyện Hoa tinh, nơi Yên Hoa Hoa Lĩnh nổi lên chuyện Hy Di. Chuyện xưa đã uậy, sử cũ còn ghi.

Trẫm Quang Thiệu Hồng Đồ, đăng ứng cảnh mệnh, tìm tuấn kiệt bằng khoa bảng, chọn hiền tài ở thuần phong. Để biếu dương người hay việc tốt nay sắc tứ khen:

Đặc Tiến Chiêu Nghi Tướng Quân, Đô Đốc Chỉ Huy Đồng Tri Trung Lương Bá Nguyễn Triệu Chú: Linh Đường tao nhân, Đại Từ danh sĩ, đạo đức, uăn chương, phẩm hạnh hơn đời Hán Ngụy, đứng đắn nghiêm trang, phong tiết vượt thuở Hy Hoàng, ở ẩn Ở Nam Hồ, thanh cao hơn Trần Đàm, không làm quan cho người Minh, cày ruộng như Ngựu Dã.

Khi quốc triều chấn hưng việc học thì vui thú việc dạy học, dù nhà tranh uách nát, củng giữ ưữrtg ỉòrtg trắng trong. Gái đẹp ỉẳng lơ vẫn ìòng son giữ sạch.

Lòng người mến phục, thiên hạ kính yêu.

Nay ban hiển hiệu "Võ Tính" xứng với đạo đức.của tiên sinh. Đây là mỹ danh được lưu lại mãi mãi.

Hãy nghe theo chiếu Trẫm.

Ông sinh hai trai, hình thành hai đại chi Giáp Ất: Cương Nghị và Trực Tín.

ĐẠI CHI: NGUYỄN CƯƠNG NGHỊ

Đời thứ mười bảy: NGUYỄN CƯƠNG NGHỊ

Ông là con trưởng của Nguyễn Triệu Chú. Không rõ tên húy của ông. Cương Nghị có thể là tên thụy. Ông là tổ của đại chi Giáp của dòng họ, mất ngày 12 tháng 10.

Vợ chánh thất: NGUYỄN QUÍ THỊ TỪ LƯƠNG

Bà là con út của họ Nguyễn. Từ Lương là tên hiệu, bà mất ngày 5 tháng 5. Ông bà sinh hai trai, ba gái.

ĐẠI CHI: NGUYỄN HỮU TRỤC

Đời thứ mười bảy: NGUYỄN HỮU TRỤC

Ông là con thứ hai của Nguyễn Triệu Chú. Có tên tự là Trực Tín, là tổ của đại chi Ât của dòng họ. Ông làm tướng thường hộ giá Lê Thánh Tông đi đánh giặc, có công lớn được phong là Phụ Quốc Thượng Tướng Quân Đô Đốc Thiêm Sự, Thống Chế Uy Dũng Hầu, rồi được gia phong là Uy Quận Công, được thu thuế cả huyện Thanh Oai. Nhờ ông làm nên chức tước cao nên ông bà nội và cha mẹ đều được phong chức tước như trên đã nói. Ông mất ngày 16 tháng 4 thọ 86 tuổi, được ban thụy là Minh Mẫn đại phu.

Vợ chánh thất: NGUYỄN THỊ CHÂN TÍN

Bà là con gái út họ Nguyễn được tặng phong Phu nhân hiệu Chân Tín. Bà thọ 80 tuổi, giỗ ngày 18 tháng 2.

Vợ á thất: LỤC THỊ TỪ NIỆM

Bà là con út họ Lục, cũng được tặng phong phu nhân, hiệu là Từ Niệm. Bà thọ 73 tuổi. Giỗ ngày 13 tháng 7.

Nguyễn Hữu Trực có 2 trai 3 gái.

* * *

Ghi chú: Trên đây mới ghi được một số vị tổ của phân hệ Đại Từ thuộc hệ II của dòng họ Nguyễn Bặc. Đây là một dòng văn hiên, đông người đậu đạt trong đó nhiều người đậu tiến sĩ, một dòng họ có nhiều người làm quan văn võ có công với nước với dân.

 

 

 

Chương Năm

CÁC VỊ TỔ HỌ NGUYỄN DƯỚI TRIỀU LÊ TRUNG HƯNG

 

Trong thời kỳ này, thời kỳ thứ II của triều Lê, có những cuộc nội chiến lớn liên tiếp. Năm 1527, Mạc Đăng Dung giết hai vua Lê: Chiêu Tông và Cung Hoàng rồi lên ngôi hoàng đế.

Phong trào phù Lê diệt Mạc nổi lên nhiều nơi. Nhiều trung thần nhà Lê không theo Mạc đi mai danh ẩn tích hoặc chiêu binh mãi mã lập căn cứ đánh Mạc. Một số nơi bị thất bại. Năm 1533, Nguyễn Cam (Kim) lập Lê Duy Ninh lên làm vua ở Sầm Châu (tức Lê Trang Tông) mở đầu phong trào trung hưng nhà Lê. Cuộc chiến tranh Nam Bắc triều (Lê - Mạc) bắt đầu. Năm 1545 Nguyễn Cam bị giết, Trịnh Kiểm nắm mọi quyền bính; vua Lê làm vì. Năm 1548, Trịnh Kiểm giết Nguyễn Uông, con cả Nguyễn Cam. Năm 1558, Nguyễn Hoàng em Nguyễn Uông xin vào làm trấn thủ Thuận Hóa. Hình thế Nam Bắc phân tranh Trịnh Nguyễn bắt đầu hình thành và kéo dài hơn 200 năm.

Là một dòng họ lớn gắn với các triều đại, họ Nguyễn có một sự phân hóa nhất định, nhiều người theo Lê, Trịnh đánh Mạc, nhuhg lại có người theo Mạc đánh Lê, Trịnh; có người theo Trịnh đánh Nguyễn, nhưng lại có người theo Nguyễn đánh Trịnh. Đó là một hiện tượng tất yếu khi có nội chiến phong kiến. Ớ Trung Quốc, thời Tam quốc, họ Gia Cát có ba anh em làm tôi ba nước: Gia Cát Cân ở Đông Ngô, Gia Cát Lượng ở Tây Thục, Gia Cát Quân ở Bắc Ngụy. Đã là nội chiến phong kiến thì khó nói ai chính nghĩa, ai phi nghĩa. Người chiến thắng cuối cùng nắm quyền thống trị thì nắm quyền phê phán. Dân ta có câu "ĐựỢc làm vua thua làm giặc" chính là vì thế. Nhiữig phàm đã làm tôi của vua nào thì bổn phận phải trung với vua ấy của mình. Cho nên ngày nay viết phả phải có quan điểm khách quan, tránh thiên vị, tránh theo quan điểm chính thống phong kiến cứng nhắc như các cụ viết ngày xưa. Đã có trường hợp, ngày nay khi nói chuyện viết gia phả của họ Nguyễn, có vị nói: "Tổ của đại chi ông đã giết tổ của đại chi tôi". Biết làm thế nào được, lịch sử là như vậy, trong nội chiến phong kiến, tổ của mỗi đại chi thờ chủ riêng của mình. Hai chủ đánh nhau thì bề tôi phải trung với chủ, phải chém giết kẻ thù của chủ, dù kẻ thù đó là người cùng họ. Ngày nay có khác, hậu duệ của chúng ta cùng một lý tưởng, phục vụ Tổ quốc Việt Nam, phục vụ nhân dân Việt Nam, lại cùng một khởi tổ chung vẫn là bà con cùng họ, không thể coi nhau là kẻ thù truyền kiếp, dù viết phả vẫn phải ghi đúng những việc đánh nhau, giết nhau như lịch sử đã diễn ra.

Đến đây, xin nhắc lại, như trong lời nói đầu đã đề ra, cuốn phả chủ yếu viết đến thế kỷ 15. Tuy nhiên để giúp các hệ, các chi, các nhánh có thể chắp nối, cuốn dự thảo này sẽ cố ghi tiếp một số đời tổ trong một ít thế kỷ tiếp theo của một số đại chi và chi có thể tìm được tư liệu. Còn một số đại chi khác có quá ít tư liệu thì đã ghi ngay vào các phần viết ở trên. Vì thế mong đừng chê là viết không cân đối.

Mục 1

HẬU DUỆ CỦA PHÂN HỆ 5 (GIA MIÊU NGOẠI TRANG)

Sau đây sẽ lần lượt ghi:

1. Các vị tổ thuộc đại chi Nguyễn Như Trác

2. Các vị tổ thuộc đại chi Nguyễn Đức Trung

3. Các vị tổ thuộc đại chi Nguyễn Nhân Chính

4. Các vị tổ thuộc đại chi Nguyễn Như Hiếu

5. Các vị tổ thuộc đại chi Nguyễn Công Lỗ

6. Các vị tổ thuộc đại chi Nguyễn Văn Lễ

7. Các vị tổ thuộc đại chi Nguyễn Bá Cao

 

1 - Các vị tổ thuộc đại chi Nguyễn Như Trác

Đại chi này là đại chi thứ, nhưng sự phát triển của nó có ảnh hưởng lớn đến sự phát triển của các đại chi khác, nên trình bày trước để dễ theo dõi.

ở trên đã ghi Nguyễn Như Trác sinh Nguyễn Văn Lưu, Nguyễn Văn Lưu sinh Nguyễn Cam và Nguyễn Tông Thái, hình thành hai ngành lớn:

NGÀNH MỘT: NGUYỄN CAM

Đời thứ hai mốt: NGUYỄN CAM

Lịch sử thường ghi là Nguyễn Kim để tránh phạm húy, thực ra tên ông có bộ Thủy bàng () bên chữ Kim () đọc là Cam ().

Ông là con trưởng của Nguyễn Văn Lưu. Chính sử ghi ông là con Nguyễn Hoằng Dụ là không đúng. Ông sinh năm Mậu Tý (1468) dưới thời Lê Thánh Tông.

Đến triều Lê Chiêu Tông (1516 - 1522) ông giữ chức Hữu vệ điện tiền chỉ huy sứ, được phong tước An Tĩnh Hầu (không phải là An Thành Hầu như có nơi đã chép. Chữ Tĩnh này được giữ trong tước: Chiêu Huân Tĩnh Công, Chiêu Huân Tĩnh Vương, Triệu Tổ Tình Hoàng Đế).

Ông theo An Hòa Hầu Nguyễn Hoằng Dụ (Con trai Nguyễn Văn Lang) chống lại Trần Chân âm mứu thoán đạt; ông đưa quân về đóng ở Tây Đô.

Sau khi giết hai’ vua, năm 1527 Mạc Đăng Dung cướp ngôi nhà Lê, Nguyễn Hoằng Dụ và Nguyễn Cam cùng phò Lê chống Mạc. Năm 1528, Nguyễn Hoằng Dụ qua đời, Nguyễn Cam được ủy quyền chỉ huy chung lực lượng chống Mạc. Lúc bấy giờ họ Nguyễn có nhiều tướng cùng chống Mạc: Nguyễn Công Độ (con trai thứ ba của Nguyễn Đức Trung); Nguyễn Hữu Đạc (con trai thứ sáu của Nguyễn Hữu Vĩnh), Nguyễn Tông Thái (con trai thứ hai của Nguyễn Văn Lưu tức em ruột của Nguyễn Cam); Nguyễn Địch Sầm (con trai thứ ba của Nguyễn Công Lỗ), Nguyễn Cảnh Hoan (thuộc phân hệ Nguyễn Cảnh)... Trong các lực lượng ấy, lực lượng do Nguyễn Cam chỉ huy là nổi bật. Tuy nhiên lúc đầu thế lực nhà Mạc còn rất mạnh và tìm cách tiêu diệt các lực lượng chống đối. Nguyễn Công Độ, Nguyễn Hữu Đạc buộc phải mai danh ẩn tích. Các thế lực khác thì dựa vào rừng núi địa thế hiểm trở lập căn cứ. Riêng Nguyễn Cam, năm 1529, trước sự tiến công mạnh mẽ của quân Mạc, ông buộc phải rút quân sang Sầm Châu (Lào) liên hệ với tù trưởng Sạ Đẩu để chiêu binh mãi mã. Ong tìm được con út Lê Chiêu Tông là Lê Duy Ninh, lập lầm vua năm 1533, tức Lê Trang Tông, mở ra sự nghiệp trung hưng của nhà Lê. Đông đảo trung thần, tướng lính cũ của nhà Lê tham gia nên phong trào phù Lê diệt Mạc ngày càng lớn mạnh. Ông được phong làm Thượng phụ, Thái sư, Hưng quốc công chưởng nội ngoại sự.

Đầu năm Kỷ Hợi (1539) tức sáu năm sau khi lập Trung Tông, ông sai Trịnh Kiểm đem quân giải phóng vùng Tây Bắc Thanh Hóa. Cuối năm Canh Tý (1540), từ Sầm Châu ông tiến xuống giải phóng Nghệ An rồi tiến ra giải phóng Thanh Hóa. Cuối năm Quí Mão (1543), ông tiến quân ra Bắc. Vua gia phong ông chức Thái Tể, Đô Tướng Tiết Chế Thuỷ Bộ Chư Dinh tức chức Tể Tướng kiêm Tổng Tư Lệnh quân thủy bộ.

Ngày 20 tháng 5 năm Ât Tỵ (28 tháng 6 năm 1545), khi đóng quân ở Yên Mô, ông bị hàng tướng Dương Chấp Nhất đầu độc chết. Vua truy tặng ông là Chiêu Huân Tĩnh Công, ban tên thụy là Trung Hiếu. Mộ táng tại núi Thiên Tôn (Gia Miêu).

Năm Quí Hợi (1803), vua Gia Long truy tôn ông là Triệu Tổ Tĩnh Hoàng Đế, cho dựng miếu thờ ông và phu nhân, gọi là Nguyên Miếu. Năm Giáp Tý (1804), vua lập Triệu Miếu ở Kinh đô Huế để thờ ông. Năm Mậu Thìn (1818) lăng ông ờ núi Thiên Tôn được gọi là Lăng Trường Nguyên. Năm Tân Tỵ (1821), Minh Mạng đổi tên núi Thiên Tôn thành Triệu Tường.

Vợ chánh thất: NGUYỄN THỊ MAI

Bà là con gái quan Đặc Tiến Phụ Quốc Thượng tướng quân Nguyễn Minh Biện, quê ờ Phạm Xá, Hải Dương. Bà là người phúc hậu, đoan trang. Mất ngày 23 tháng Giêng, cùng hợp táng với ông. Bà sinh hai trai: Nguyễn Ưông và Nguyễn Hoàng.

Vợ thứ thất: ĐỖ THỊ TÍN

Bà quê làng Đông Biện (Vĩnh Lộc, Thanh Hóa).

Bà sinh một gái: Ngọc Báu, tuy con bà thiếp nhưng vì sinh trước nên bà là chị Nguyễn Hoàng. Bà làm vợ thứ của Trịnh Kiểm, sinh ra Trịnh Tùng, bà là Trịnh Thái phi.

Đời thứ hai hai: NGUYỄN UÔNG

Ông là con cả của Nguyễn Cam và Nguyễn Thị Mai. Ông làm tướng theo cha phè Lê diệt Mạc được phong là Lãng quận công. Sau khi Nguyễn Cam bị đầu độc chết (năm 1545), vì sợ ông giành quyền thế tập, năm 1548, người anh rể là Trịnh Kiếm đã giết ông. Ông có tên thụy là Phúc Lâm. Ông sinh một số con trai, mới ghi được hai người là: Nguyễn Tài Nông (còn gọi là Chân Không, hoặc Trân Không) và Nguyễn Uyên.

Đời thứ hai ba: NGUYỄN TÀI NÔNG

Ông được giao nhiệm vụ trở về Đại Hữu để trông nom mộ khởi tổ Nguyễn Bặc bởi vì dưới triều Lý, triều Trần, con cháu của khởi tổ là quan ở triều đình, nên có người trông coi, nhưng từ khi Hồ Quí Ly giết hại Nguyễn Công Sách, Nguyễn Minh Du, con cháu phải lánh nạn. Nguyễn Biện phải đến Gia Miêu, việc trông nom ngôi mộ bị gián đoạn. Khi nhà Lê dựhg nghiệp, con cháu Nguyễn Đức Trung có bộ phận về trông nom mộ tổ. Khi Mạc Đăng Dung cướp ngôi, việc trông nom ngôi mộ lại bị gián đoạn. Nay nhà Lê Trung Hưng, Nguyễn Cam là người cầm đầu, con cháu lại có điều kiện trở về trông nom mộ tổ. Đến khi Trịnh Nguyễn phân tranh, con cháu lại phải bỏ chạy. Hậu duệ của Nguyễn Tài Nông cũnq phải chạy phân ra ờ nhiều nơi: ở Chợ Lương (Hải Hậu, Nam Định), ở thôn Linh Đường (Thanh Trì, Hà Nội), ở Vũ Cầu (Hạ Hòa, Phú Thọ), ở Nam Sách (Hải Dương), ờ Phượng Vũ (Phượng Dực, Thường Tín, Hà Tây)„ ở ngã ba Phố Nối (Yên Mỹ, Hưng Yên)...

Chi họ Nguyễn Tài Nông là một chi họ khá đông đúc. Đời nhà Nguyễn chi họ này được đổi thành Nguyễn Hữu (công tính tức họ cùng vua).

Đời thứ hai ba: NGUYỄN UYÊN

Ông là con thứ hai của Nguyễn Ưông, Ông theo chú ruột là Đoan Quốc Công Nguyễn Hoàng vào Nam, hậu duệ của ông góp phần vào việc xây dựng xứ Đàng Trong, thống nhất đất nước và được xếp vào hệ I trong dòng họ Tôn Thất.

 

 

Đời thứ hai hai: NGUYỄN HOÀNG

(Thủy tổ dòng họ Nguyễn Phước)

Ông là con thứ của Nguyễn Cam và bà chánh phu nhân Nguyễn Thị Mai. Ồng sinh ngày mồng 10 tháng 8 năm Ất Dậu (28-8-1525).

Lên hai tuổi, ông được cha gửi cho cậu ruột của ông là Nguyễn Ư Kỷ (con Nguyễn Minh Biện quê ờ Phạm Xá, Nam Sách, Hải Dương) nuôi dạy, vì lúc này Nguyễn Cam còn cầm quân lo đối phó với Mạc Đăng Dung âm mưu thoán đoạt.

Năm Ất Tỵ (1545), Nguyễn Cam bị đầu độc, Nguyễn Hoàng mới 20 tuổi, được tập phong tước Hạ Khê Hầu, làm tướng đánh Mạc giết tướng địch được vua khen: Hổ phụ sinh hổ tử.

Khi Trịnh Kiểm ám hại anh ông là Nguyễn Uông, ông nghe theo mưu của cậu ruột Nguyễn ư Kỷ, giả cách điên xin nghỉ để tránh khỏi bị hại và sau đó nhờ chị gái Ngọc Báu xin Trịnh Kiểm vào trấn thủ Thuận Hóa. Kiểm cho đất này là ác địa, lại có tưáng Mạc đang đóng quân, muốn mượn tay Mạc hại ông, nên đồng ý cho ông đi giữ đất ấy.

Năm Mậu Ngọ (1558), ông tổ chức bà con đồng hương ở Tống Sơn thành Nghĩa Dũng Đoàn để vào Thuận Hóa. Đến đồi cát Đăng Xương (Quảng Trị) dân tặng 7 vò nước. Cậu ruột ông Nguyễn Ư Kỷ cho là điềm tốt và sẽ có "nước”. Đến Ái Tử, tướng Mạc là Lập Bạo đuầ binh thuyền mạnh đến tiến công. Nhờ nằm mộng, một nữ thần báo cho nên dùng mỹ nhân kế, ông dùng một người thiếp xinh đẹp là Ngô Ngọc Lâm đi dụ

Lập Bạo vào tròng rồi giết đi. Ông chiêu nạp hào kiệt, phủ dụ nhân dân, đặc biệt cho nhũrig người đi theo lập ấp khai hoang làm cho Thuận Hóa dần dần giàu mạnh. Năm Canh Ngọ (1570), ông được phong làm Tổng quản Thuận Quảng coi cả Thuận Hóa và Quảng Nam. Năm Tân Mùi (1571), theo kế của Trịnh Kiểm, bọn Mỹ Lương, Văn Lan, Nghĩa Sơn nổi lên đánh hòng diệt ông, bị ông đánh tan. Năm Quí Dậu (1573), ông được vua Lê Thế Tông phong chức Thái phó. Tuy ông tìm cách xây dựng thế lực riêng, nhuhg vẫn nhận sắc phong, vẫn nạp cống vật, nạp thuế, nhận các quan chức do triều đỉnh bổ nhiệm. Khi quân Tây Đô thiếu lương, ông vẫn chở thóc ra cứu hộ. Năm Mậu Ngọ (1578), ông sai tướng Lương Văn Chánh mở thêm đất Phú Yên.

Để tổ lòng trung với vua Lê, năm Quí Tỵ (1593), khi Trịnh Tùng lấy được Thăng Long, rước vua về kinh, ông đưa đại quân ra Bắc để tham gia tiếp tục diệt Mạc. Trong 8 năm, ông đánh thắng nhiều trận. Hai con trai ông là Phúc Hán và Phúc Diễn đã hy sinh trong quá trình đánh Mạc. Ông được vua phong Trung Quân Đô Đốc Chưởng Phủ Sự Thái úy Thượng Trụ Đoan Quốc Công, đứng thứ hai triều đình sau Thái Tể Vinh Quốc Công Hoàng Đình Ái.

Năm Kỷ Hợi (1599), vua Lê Thế Tông băng, Lê Kinh Tông nối ngôi và phong ông làm Hữu Tướng Quốc.

Trịnh Tùng rất muốn giữ ông lại, vì khác với hồi Trịnh Kiểm cho ông vào Thuận Hóa với ác ý hại ông, nay nếu để ông trở lại Thuận Quảng thì khác nào thả hổ về rừng. Nhưng như Hoan châu kỷ đã viết, ông:

Thân tuy trợ giúp nơi Long Đô (tức Thăng Long)

Mà lòng lại nhớ chốn Ô Châu (tức Thuận Hóa)

Theo truyền thuyết Nguyễn Hoàng có cho người đến xin ý kiến Nguyễn Bỉnh Khiêm. Trạng Trình đã nói: "Hoành Sơn nhất đái vạn đại dung thân". Nhưng Hoan châu kỷ lại ghi khác, trong một lần Nguyễn Hoàng tâm sự riêng với Phùng Khắc Khoan, chính Trạng Bùng đã nói câu này. Trạng Bùng còn thêm một ý: "Biển cả là hào, có thể vẹn toàn được”. Có thể lúc này Trạng Trình đã qua đời.

Tuy thế, Đoan Quốc Công vẫn cố che giấu ý đồ riêng ấy của mình. Ông gả con gái là Ngọc Tú cho Trịnh Tráng con cả Trịnh Tùng (tức con cậu lấy cháu cô).

Năm Canh Tý (1600), nhân bọn Phan Ngạn, Bùi Đình Khuê, nghe theo lời ông ngầm xui, nổi dậy chống triều đình, ông mượn cớ đem quân đi dẹp rồi đưâ đại quân của mình bí mật nhanh chóng theo hai đường thủy bộ trở về Thuận Quảng, có tàu thuyền từ Nam ra chờ sẵn ở cửa Thần Phù để đón, ông để lại con trai là Nguyễn Phúc Hải và cháu là Nguyễn Hắc (con Phúc Hán) làm con tin. Nhiều bà con và nhân dân ở miền Bắc, chán ghét việc chúa Trịnh lấn át quyền vua Lê đã theo ông vào Nam. Hoan châu kỷ ghi khi Nguyễn Hoàng bí mật đưa quân trở lại Thuận Quảng: "Ngay hôm ấy lại thấy bọn con trai của Đoan Quốc Công là cẩm Quận Công (tức Nguyễn Phúc Hải) tất cả ba người mang mười thớt voi đưa tiến nạp dưới quân rập đầu xin trọn đạo bề tôi. Vương (tức Trịnh Tùng), lấy tình thân thích, vẫn cho cai quản như cũ". Lúc bấy giờ, tình hình ở Thăng Long rối loạn, một mặt Đoan Quốc Công kéo quân vào Nam, một mặt Mỹ Quận Công Bùi Văn Khuê và Kế Quận Công Phan Ngạn làm phản theo Mạc, nên Trịnh Tùng buộc các tướng lĩnh phải làm lễ tuyên thệ trung thành với chúa. Điều chúa Trịnh lo nhất là Đoan Quốc Công vào chiếm xứ Thanh làm căn cứ để chống lại, nay biết ông vào Thuận Hóa để trấn thủ như cũ, lại để con cháu ở lại làm con tin, nên bớt lo, hơn nữa lại có tình thông gia (Ngọc Tú lấy Trịnh Tráng), cho nên Trịnh Tùng cho cẩm Quận Công Phúc Hải vẫn nắm quân như cũ là điều dễ hiểu.

Ồng tiếp tục đưa dân Đàng ngoài vào khai khẩn, ưu đãi dân lập ấp mới và dân cày ruộng, mở mang công nghiệp và buôn bán, biến Đàng trong thành một miền trù phú, biến Hội An thành một trung tâm sầm uất, có các thương thuyền Hà Lan, Bồ Đào Nha, Nhật Bản, Trung Hoa vào buôn bán. Ông đặc biệt cọi trọng phát triển quân đội, cho đúc súng, đúc đại bác, đóng tàu chiến.

Nguyễn Hoàng qua đời ngày mồng 3 tháng 6 năm Quí Sửu (20.7.1613), thọ 89 tuổi, làm chúa 56 năm. Trước khi mất, ông gọi thế tử là Phúc Nguyên và các quan lại đến bên giường và dặn: "Ta với các ông cùng nhau cam khổ đã lâu, muốn dựng nên nghiệp lớn. Nay ta để gánh nặng lại cho con ta, các ông vui lòng giúp đỡ cho nên công nghiệp". Ông dặn riêng Phúc Nguyên: "Đất Thuận Quảng, Bắc có Hoành Sơn và sông Gianh hiểm trở, Nam có núi Hải Vân và Thạch Bi bền vững. Núi sẵn vàng sắt, biển sẵn cá, muối, thật là đất dụng võ cho người anh hùng. Nếu biết dạy dân, luyện binh chống với họ Trịnh thì đủ xây dựng cơ nghiệp muôn đời. Ví bằng thế lực không địch được thì cố giữ đất đai, chờ cơ hội, đừng bỏ qua lời dặn của ta".

Mộ ông táng tại núi Thạch Hãn (Hải Lăng, Quảng Trị), sau cải táng về núi La Khê (Hương Trà, Thừầ Thiên). Vua Gia Long đặt tên là Lăng Trường Cơ. Vua Minh Mạng đổi tên núi La Khê là núi Khải Vận.

Khi ông mất, vua Lê truy tặng ông tước Cần Nghĩa Công và tên thụy là Cung Ý.

Chúa Sãi (Nguyễn Phúc Nguyên) truy tôn ông là: cần Nghĩa Đạt Lý Hiển ứng Chiêu Hựu Diệu Linh Gia Dụ Vương, còn gọi là Chúa Tiên.

Chúa Võ (Nguyễn Phúc Khoát) truy tôn ông là: Liệt Tổ Triệu Cơ Thủy Thống, Khâm Minh Cung Ý Cần Nghĩa Đạt Lý Hiển ứng Chiêu Hựu Diệu Linh Gia Dụ Thái Vương.

Vua Gia Long truy tôn ông là: Triệu Cơ Thủy Thống, Khâm Minh Cung Ý Cần Nghĩa Đạt Lý Hiển ứng Chiêu Hựu Diệu Linh Gia Dụ Hoàng Đế. Miếu hiệu là Thái Tổ. Gọi tắt là Thái Tổ Gia Dụ Hoàng Đế.

Phu nhân chính thất: NGUYỄN THỊ NGỌC LƯU

Bà là con gái thứ hai của Nguyễn Hữu Đạc. Bà sinh một con là chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên. Tương truyền khi có mang bà nằm mộng thấy trời ban cho chữ Phúc. Nhân đó Oan Quốc Công đặt tên các con đều đệm chữ Phúc (Phước). Dòng họ Nguyễn Phúc hình thành từ ấy. Bà được truy tôn là Từ Lương Quang Thục Minh Đức Cung Ý Gia Dụ Hoàng Hậu được thờ cùng Nguyễn Hoàng ở Thái Miếu. Mộ táng tại làng Hải Cát (Hương Trà, Thừa Thiên) được gọi là Lăng Vinh Cơ.

Không rõ tên các bà vợ khác.

Nguyễn Hoàng có 10 con trai và hai gái. Mười trai là Phúc Hà, Phúc Hán, Phúc Thành, Phúc Diễn, Phúc Hải, Phúc Nguyên, Phúc Hiệp, Phúc Trạch, Phúc Dương, Phúc Khê. Hai gái là:

- Ngọc Tiên lấy Nhâm quận công thường gọi là Già Nham

- Ngọc Tú làm chính phi của Trịnh Tráng.

Sau đây sẽ giới thiệu các đời chúa Nguyễn rồi đến các con khác của Nguyễn Hoàng.

Đời thứ hai ba: NGUYỄN PHÚC NGUYÊN

Ông là con thứ sáu của Nguyễn Hoàng. Vì bốn anh đầu Hà, Hán, Diễn, Thành đã mất, còn anh thứ năm là Phúc Hải còn ở ngoài Bắc Hà, nên Nguyễn Phúc Nguyên được kế vị ngôi chúa. Ông sinh ngày 16 tháng 8 năm 1563, mất ngày 19 tháng 11 năm 1635, làm chúa từ năm 1613 đến năm 1635, được gọi là chúa Sãi, được suy tôn là Hy Tông Hiếu Văn Hoàng Đế.

Đến đời ông, chúa Nguyễn mới chính thức không nhận sắc phong của vua Lê!

Theo lời khuyên của Đào Duy Từ, một mặt ông vỗ về dẳn chúng xây dựng xứ Đàng trong ngày càng phồn thịnh, một mặt ông coi trọng xây dựng quân đội. Ông cho đắp lũy Đông Hải (Đông Hới) còn gọi là Sài Lũy hoặc Lũy Thầy, sở dĩ gọi là Lũy Thầy là vì chúa Sãi rất coi trọng Đào Duy Từ nên gọi ông bằng "Thầy". Cũng từ đó, các vua chúa triều Nguyễn thường gọi các quan dưới quyền bằng thầy, ít gọi bằng khanh.

Để có chiều sâu phòng thủ, theo lời khuyên của Đào Duy Từ, chúa cho đắp thêm lũy Động Cát còn gọi là Lũy Trường Sa.

Việc xây dựng lực lượng và đắp lũy gắn liền với ý định quyết ngăn chặn sự tiến công của quân Trịnh để hùng cứ Đàng Trong, thực hiện cho được lời căn dặn của Nguyễn Hoàng lúc lâm chung.

Tương truyền theo kế của Đào Duy Từ, năm 1624, chúa Sãi sai Văn Khuông đem cống vật ra Thăng Long. Chúa Trịnh nhận và phát hiện mâm dựng cống vật có hai đáy, cho mở ra thì thấy sắc phong bị trả lại kèm một tờ ghi 4 câu như sau:

Mâu nhi uồ dịch Mịch phi kiến tích Ải lạc tâm trường Lực ìai tương địch

Cả triều đình đọc đi đọc lại chẳng hiểu 4 câu định nói gì: "Mâu (vũ khí) mà không việc, tìm chẳng thấy vết tích, yêu rụng mất tim ruột, sức đến thì đối địch". Đó là nghĩa đen còn thực ý như thế nào chưa rõ. Chúa cho vời Phùng Khắc Khoan đến giải thích. Trạng Bùng nói:

- Mậu nhi vô dịch là chữ Mâu () không có cái Phẩy () thành chữ Dữ () là ta.

- Mịch phi kiến tích là chữ Mịch () không có chữ Kiến () thành chữ Bất () là chẳng.

- Ái lạc tâm trường là chữ Ái () bỏ chữ Tâm () ở bụng thành chữ Thụ () là nhận.

- Lực lai tương địch là ghép chữ Lực () với chữ Lai () thành chữ Sắc () là sắc phong.

Bốn câu thơ ấy là "Dữ bất thụ sắc" có nghĩa là "Ta chẳng nhận sắc".

Chúa cho tìm sứ giả. Văn Khuông sau khi đưa xong cống vật đã làm đúng kế của Đào Duy Từ thuận buồm chạy rất xa theo sông Hồng ra biển.

Như vậy chúa Nguyễn không nhận sắc phong của vua Lê nữa mà độc lập hùng cứ Đàng trong, vả lại Nguyễn Phúc Nguyên đã cải tổ chính quyền, xây dựng một nhà nước riêng, tách khỏi mọi quan hệ lệ thuộc với họ Trịnh, đình chỉ việc nộp phu thuế cho họ Trịnh, thải hồi mọi quan lại do họ Trịnh cử vào Thuận Quảng.

Tháng 4 năm 1627, lấy cớ họ Nguyễn chống lại vua Lê, chúa Trịnh là Trịnh Tráng đem quân vào đánh chúa Nguyễn, mở đầu cuộc chiến tranh Trịnh Nguyễn kéo dài từ năm Đinh Mùi (1627) đến năm Nhâm Tý (1672), tất cả 46 năm gồm 7 chiến cuộc. Dưới thời chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên đã diễn ra hai chiến cuộẹ. đầu tiên vào các năm Đinh Mùi (1627) và năm Canh Ngọ (1630).

Trong chiến cuộc thứ nhất (1827), Trịnh Tráng đem quân tiến công, không vượt được Lũy Thầy, bị thương vong nhiều, lại nghe tin phủ chúa sắp có nội loạn, phải rút quân về.

Trong chiến cuộc lần thứ hai (1630), Trịnh Tráng lại đem đại binh vào dàn ra ở dọc sông Nhật Lệ hơn 10 ngày, chờ tin nội ứng. Quân lính đợi lâu, phòng bị trễ nải, bị quân Nguyễn xuất quân tập kích, tổn thất khá lớn, lại phải rút quân.

Sau khi thất bại trong chiến cuộc thứ nhất, Trịnh Tráng cho sát hại bà con họ hàng chi họ Nguyễn Cam ở ngoài Bắc. Các con cháu Nguyễn Ưông, Nguyễn Hoàng buộc phải bổ chạy đi nhiều nơi như Hải Hậu, Vũ Cầu, Nam Sách... Có một nhánh hậu duệ của Nguyễn Phúc Hải (Cẩm quận công) gồm 3 anh em Nguyễn Phúc Thiện, Nguyễn Phúc Diễn, Nguyễn Phúc Vinh chạy ba nơi: một người chạy lên Phù Ninh (Từ Sơn, Bắc Ninh), đổi thành dòng Nguyễn Gia; người thứ hai chạy ra Kim Lũ (Thanh Trì, Hà Nội) đổi thành họ Cung rồi họ Hoàng (họ Hoàng của Hoàng Đạo Thúy), người thứ ba chạy đến Kim Bảng rồi Lạt Sơn (Hà Nam) đổi theo họ mẹ thành họ Dương. Rất nhiều người khác cũng lánh nạn hiện vô khảo.

Sở dĩ quân Nguyễn thắng quân Trịnh, theo chính sử nước ta phân tích, là vì tuy quân Trịnh đông hơn nhưng quân Trịnh phải hành quân xa, việc tiếp tế khó và điều quan trọng là vì hậu phương quân Trịnh không ổn định, có nhiều thế lực đối lập, nhân dân nổi lên ở nhiều nơi, một mặt khác họ Trịnh còn phải tiếp tục đối phó với thế lực tàn dư của họ Mạc.

Còn quân Nguyễn tuy ít hơn, nhưng biết xây dựng thành lũy kiên cố, dựa vào thành lũy để chống quân Trịnh tiến công.

Khôn ngoan qua được Thanh Hà Dẫu rằng có cánh khó qua Lủỵ Thầỵ

Điều cốt yếu là hậu phương quân Nguyễn ổn định, nhờ chính sách của chúa Nguyễn cho khai khẩn đất đai, vỗ về dân, đời sống nhân dân sung túc, mâu thuẫn xã hội chite gay gắt. Chúa Nguyễn có điều kiện huy động sức người sức của để chống lại chúa Trịnh.

Việc xây dựng Đàng Trong phồn thịnh và việc đánh bại 2 cuộc tiến công lớn của quân Trịnh là cống hiến rất quan trọng của chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên, có sự giúp đỡ đắc lực của Đào Duy Từ (tuy họ Đào chỉ làm quan với chúa Nguyễn được 6 năm rồi mất nhưng ông đã có công rất lớn, đã để lại một tác phẩm quân sự kiệt xuất là Hổ trướng khu cơ).

Trong lúc đang phải đối phó với quân Trịnh ở phía Bắc, chúa Nguyễn còn phải đương đầu với đối thủ ờ phía Nam. Năm 1628, Lưu thủ Phú Yên là Văn Phong cùng người Chăm nổi lên chống đối. Chúa phải sai quân tướng đi dẹp loạn. Rồi chúa đã gả công chúa Ngọc Khoa cho vua Chăm là Po Romê và công chúa Ngọc Vạn cho vua Chenla là Chei Chetta II để giành quyền kiểm soát Phan Rang, Phan Rí và di dân vào Bà Rịa, Biên Hòa, cố ổn định phía Nam để tập trung lực lượng chống quân Trịnh ở phía Bắc.

Người ta thường nói chuyện vua Trần gả công chúa Huyền Trân để đổi lấy châu Ô Lý. Tuy "Hai châu Ô, Lỷ vuông nghìn

dặm, một gái Huỵền Trăn giá mấy mươi" nhưng để tưởng nhớ công của nàng, ở Hà Nội đã có đường Huyền Trân công chúa trường học Huyền Trân công chúa. Còn chỉ ít người biết đến công của Ngọc Vạn và Ngọc Khoa. Sau đây xin giới thiệu một bài thơ ít ỏi ca tụng công lao hai nàng của Tân Việt Điểu:

Ngọc Vạn, Ngọc Khoa vững một niềm Vì ai tô điểm nước non tiên Chị lo giữ trọn tình Miên Việt Em nhớ làm tròn nghĩa Việt Chiêm Bà Rịa, Biên Hòa thêm uọn dặm Phan Rang, Phan Rí mở hai miền Non sông gấp mấy châu o, Lý Nam tiến công người chẳng dám quên.

Như vậy là chúa Sãi đã có đường lối ngoại giao hòa bình,^ khôn khéo để mở bờ cõi xuống phía Nam và ổn định phía Nam để đối phó với phía Bắc.

Chúa Sãi còn gả một công chúa cho một đại thương gia Nhật Bản là Araki Sôtarô và nhờ con rể người Nhật này mua sắm vũ khí, sắt, đồng, diêm tiêu để đúc súng đại bác.

Chúa Sãi thọ 73 tuổi, mộ táng tại một ngọn núi ở Quảng Điền, sau cải táng ở núi Hải Cát (Hương Trà).

Gia Long suy tôn ông là: Quang Liệt Ông Cang Minh Tuệ Dục Thiên Tuy An Hoàng Đế.

Ông sinh 11 con trai, Nguyễn Phúc Kỳ con cả chết sớm. Nguyễn Phúc Lan, con thứ hai, kế vị.

Đời thứ hai bốn: NGUYỄN PHÚC LAN

Ông là con thứ hai của Nguyễn Phúc Nguyên. Ông sinh ngày Tân Hợi tháng 7 năm Tân Sửu (Tức ngày 13 tháng 8 năm 1601), mất ngày 19 tháng 3 năm 1648. Làm chúa từ năm 1635 đến năm 1648, thường được gọi là Chúa Thượng. Ông được truy tôn là Thần Tông Hiếu Chiêu Hoàng Đế.

Khi Phúc Lan lên ngôi, có hai em là Phúc Anh và Phúc Tứ đang trấn thủ Quảng Nam nổi lên làm phản, tư thông với Chúa Trịnh, định giành ngôi Chúa. Nguyễn Phúc Khê, chú ruột, người được giao phò tá Phúc Lan đã kiên quyết đem quân trấn áp, bắt giết Phúc Anh và bỏ tù Phúc Tứ. Sau Phúc Tứ cũng chết trong ngục. Có ỹ kiến cho rằng Tứ chạy ra Bắc đổi tên thành Tín và hình thành chi họ ở Hoàng Dương - Sơn Công, ứng Hòa, Hà Tây.

Dưới thời Phúc Lan ỉàm chúa, quân Nguyễn đã đánh bại hai cuộc tiến công của quân Trịnh.

Năm Ât Hợi (1635) Trịnh Tráng lại đem quân mở chiến cuộc thứ ba theo đường bộ và đường thủy đánh quân Nguyễn ờ Bố Chánh, vẫn không đột phá được các lũy. Mùa hè, khí trời nóng nực, quân lính chết hại nhiều. Chúa Trịnh lại phải rút quân về Bắc.

Cuộc tiến công thứ tư diễn ra vào năm Mậu Tý (1648). Trịnh Tráng sai tướng đem quân thủy bộ bất ngờ tiến công đột phá được lũy Thầy, nhưng bị chặn lại ở lũy Trường Sa. Chúa Nguyễn Phúc Lan sai thế tử Nguyễn Phúc Tần tung lực lượng dự bị mạnh ra phản công, đánh lui quân Trịnh, giành lại đất đã bị chiếm.

Thời đại Nguyễn Phúc Lan là một thời đại rực rỡ chiến công, ông đánh bại quân Trịnh ở phía Bắc, bình ổn với người Chăm ở phía Nam, đánh bại bọn pháo thuyền Hòa Lan khiêu khích, uy hiếp sự toàn vẹn của lãnh thổ từ mặt biển phía Đông. Nhưng ông đã có sai lầm lớn là ham mê nữ sắc, công khai lấy chị dâu là Tống Thị (vợ của anh cả đã chết là Nguyễn Phúc Kỹ), một người rất đẹp nhưng dâm đãng, có mưu mô xảo quyệt. Ông bắt dân góp công sức của cải để xây một lâu đài tráng lệ đặng hưởng thú vui cùng người đẹp, làm cho triều đình nghiêng ngả. May nhờ có trung thần khuyên can quyết liệt, ông mới hạ lệnh bãi bỏ việc xây cất lâu đài và dần dần lánh xa Tống Thị. Năm 1648, sau khi đại thắng quân Trịnh trở về, chúa Thượng đột ngột qua đời lúc mới 47 tuổi. Có thuyết cho là chúa chết không phải vì bạo bệnh mà do Tống Thị đầu độc. Người kế vị ông là thế tử Nguyễn Phúc Tần.

Đời thứ hai lăm: NGUYỄN PHÚC TAN

Ông là con thứ hai của Nguyễn Phúc Lan, ông sinh ngày 18 tháng 7 năm 1620. Mất ngày 30 tháng 4 năm 1687, làm chúa từ năm 1648 đến 1687, thường được gọi là Chúa Hiền. Ong được truy tôn là Thái Tông Hiếu Triết Hoàng đế. Ông làm chúa lúc 28 tuổi.

Năm Ât Mùi (1655) ông đưa quân thủy bộ vượt sông Gianh tiên công ra Bắc Hà. Đây là cuộc giao tranh Trịnh - Nguyễn lần thứ 5. Quân Nguyễn tiến sâu khoảng một trăm năm mươi cây số, chiếm được vùng Nam sông Lam. Chiến sự diễn ra giằng co ờ vùng này trong năm năm. Quân Trịnh phản

công vu hồi hai mũi vào khu vực Thiên Lộc (Can Lộc). Tiết chế của quân Nguyễn là Nguyễn Hữu Tiến quyết định chủ động rút về nam sông Gianh để sẵn sàng đối phó với các đợt tiến công mới của quân Trịnh.

Chiến cuộc thứ 6 diễn ra năm Tân Sửu (1661) và chiến cuộc thứ 7 diễn ra năm Nhâm Tý (1672), là những cuộc tiến công của quân Trịnh. Đặc biệt cuộc tiến công năm 1672 là cuộc tiến công lớn nhất. Chúa Trịnh huy động 18 vạn quân, 600 thuyền chiến có trạng bị pháo. Nhưng do thiếu lương, do ốm đau, quân Trịnh buộc phải rút và cũng kể từ đây, chấm dứt các cuộc xung đột vũ trang Trịnh - Nguyễn. Việc kết thúc chiến tranh Trịnh - Nguyễn mà thắng lợi thuộc về chúa Nguyễn đã tạo điều kiện cho các chúa Nguyễn tiếp tục mở rộng đất đai xuống phía Nam.

Chúa Hiền Nguyễn Phúc Tần đã có công lớn trong việc giành được thắng lớn to lớn ngăn chặn quân Trịnh này. Tuy nhiên dưới thời chúa Hiền đã xảy ra một sự kiện khá phức tạp. Tống Thị (vợ Nguyễn Phúc Kỹ) ve vãn và truy hoan với em chồng là chúa Thượng Nguyễn Phúc Lan, sau khi chúa Thượng chết lại đi lại ân ái với em chúa Thượng là Nguyễn Phúc Trung, xúi giục Phúc Trung làm phản định lật đổ chúa Hiền vào trung tuần tháng Tư năm Giáp Ngọ (1654). Chúa Hiền đã phát hiện nên chủ động dẹp được cuộc làm phản trước khi nổ ra. Chúa chỉ trừng trị những tên đầu sỏ, còn cho đốt danh sách những kẻ đồng lõa để mọi người yên tâm. Kế vị Nguyễn Phúc Lan là Nguyễn Phúc Trăn.

Đời thứ hai sáu: NGUYỄN PHÚC TRĂN

Ông là con thứ hai của Nguyễn Phúc Tần. Ông sinh ngày 29 tháng 1 năm 1650, mất ngày 7 tháng 2 năm 1691. Ông làm chúa từ năm 1687 đến năm 1691 tức khoảng 4 - 5 năm. Khi còn là thế tử, ông chỉ huy đánh thắng quân Trịnh trong chiến cuộc cuối cùng. Ông được gọi là chúa Ngãi, được truy tôn là Anh Tông Hiếu Nghĩa Hoàng Đế. Kế vị ông là Nguyễn Phúc Chu.

Đời thứ hai bảy: NGUYỄN PHÚC CHU

Ông là con trưởng của Nguyễn Phúc Trăn, ông sinh ngày 11 tháng 6 năm 1675, mất ngày mồng 1 tháng 6 năm 1735, iàm chúa từ năm 1691 đến 1735, thường được gọi là Chúa Minh. Ông đã tựxưng là Đại Việt quốc vương. Ông được truy tôn là Hiến Tông Hiếu Minh Hoàng Đế. Công lao lớn nhất của ông là mở mang bờ cõi ra toàn bộ đất đai Nam bộ. Từ năm 1690, chúa Ngãi đã cử Nguyễn Hữu Hào làm thống soái đưa quân để mở mang bờ cõi. Nhưng khi vua Chenla chịu triều cống, Hữu Hào đã rút quân. Chúa Nguyễn Phúc Chu đã cách chức Hữu Hào xuống làm thường dân. Vì năm 1623 vua Chenla đã gửi quốc thư đồng ý cho ta đặt trạm thu thuế ở Biên Hòa và Gia Định, nên năm 1698, Nguyễn Phúc Chu cử tướng Nguyễn Hữu cảnh, em ruột Nguyễn Hữu Hào, đang giữ chức trấn thủ Bình Khương (Bình Thuận) làm Kinh lược sứ Thống suất xứ Đồng Nai. Năm 1699, theo lệnh Chúa Minh, Hữu Cảnh đưa một đoàn thuyền chở quân vào, có phó tướng Phạm Cầm Long và tham tướng Nguyễn Hữu Khánh giúp việc. Xưa kia đây là đất của hai tiểu quốc Thu Nai và Bà Lị, sau hợp nhất thành nước Phù Nam chứ không phải đất Chenla (Chân Lạp). Đến thế kỷ thứ 6, nước Chenla mạnh hơn buộc nước Phù Nam phải thần phục. Thực ra vùng Đông Nam bộ này là vùng đất ít dân và chưa được khai phá. Vấn đề mấu chốt mà chúa Nguyễn phải giải quyết là tổ chức ngay việc di dân từ miền Trung vào. Hàng chục vạn gia đình từ' Ngũ Quảng (Quảng Bình, Quảng Trị, Quảng Đức (tức Thừa Thiên), Quảng Nam, Quảng Ngãi) được chính quyền chúa Nguyễn tổ chức và giúp đỡ cho vào Đồng Nai để khẩn hoang, lập cơ nghiệp.

Nguyễn Hữu cảnh nhanh chóng tổ chức các đơn vị hành chính, chia miền Đồng Nai thành hai huyện: Phước Long, Tân Bình, ở Phước Long có dinh Trấn Biên (Biên Hòa), ơ Tân Bình có dinh Phiên Trấn (Sài Gòn). Mỗi trấn có một lưu thủ đứng đầu. Dưới lưu thủ có cai bạ coi ngân khố và ký lục coi hình án. Dưới trấn có huyện, ấp, lân, khóm, xã. Các thị trấn, thị tứ bắt đầu hình thành. Việc buôn bán phát triển. Phủ Gia Định ra đời (vì thế năm 1999, ta đã tổ chức kỷ niệm 300 năm sự ra đời của Gia Định - thành phố Hồ Chí Minh). Quân đội được tăng cường. Vua Chenla chấp nhận sự mở rộng, khai khẩn đất đai của người Việt, một việc mà bản thân ông không thể làm nổi.

Thừa thắng, chấp hành lệnh của chúa Minh Nguyễn Phúc Chu, đạo quân của chúa Nguyễn dưới quyền thống lãnh của Nguyễn Hữu cảnh tiến về miền Tây, một vùng cơ bản chưa được khai phá, có ít dân Việt, dân Khmer, dân Hoa ờ xen kẽ. Tiếp đó, theo sông Cửu Long, quân Việt tiến lên Nông Pênh. Vua Chenla bỏ chạy, cháu vua xin thần phục. Chưởng cơ Nguyễn Hữu cảnh tìm cách phủ dụ, vua Chenla trở về Nông Pênh, Hữu cảnh giao cho ông tiếp tục cai trị đất Campuchia và rút quân Việt lui xuống vùng Châu Đốc. Việc mở rộng đất đai toàn Nam bộ được hoàn thành vào năm 1700. Vấn đề mấu chốt vẫn là việc di dân đến vùng đất bao la chưa được khai phá này để cùng số dân đã có sẵn: Việt, Chè Mạ, Xtiêng, Khmer xây dựng các thôn, xã, ấp, thành lập chính quyền.

Trong lịch sử thế giới, việc hợp 'nhất nhiều vương quốc nhỏ thành một vương quốc lớn là một quy luật. Nhiều nước hiện nay'ở châu Âu, châu Á đều được hình thành theo quy luật đó. Việc hợp nhất có khi được hình thành một cách hòa bình, có khi bằng hôn phối, cũng có khi bằng sức mạnh. Các vua chúa Việt Nam có đường lối đoàn kết dân tộc một cách đúng đắn nên ngày nay có khối đoàn kết toàn dân 54 dân tộc rất mạnh mẽ để chiến thắng mọi kẻ thù và để xây dựng đất nước. Bằng việc Nam tiến để mở đất, các chúa Nguyễn trong đó có chúa Minh Nguyễn Phúc Chu đã có công lớn trong vấn đề này. Nếu từ đời Lý TháiTổ đến đời Lê Thánh Tông, trong khoảng 500 từ thế kỷ 11 đến thế kỷ 15, đất đai được mở rộng từ Đèo Ngang đến Đèo Cù Mông (tức khoảng 1/5 đất nước ngày nay) thì dưới thời các chúa Nguyễn, trong khoảng 90 năm (từ năm 1611 đến 1700) đất đai được mở rộng chiếm 2/5 đất nước ngày nay.

Người kế nghiệp Nguyễn Phúc Chu là Nguyễn Phúc Chú.

Đời thứ hai tám: NGUYỄN PHÚC CHÚ

Ông là con trưởng của Nguyễn Phúc Chu. Ồng sinh ngày 14 tháng 1 năm 1697, mất ngày 7 tháng 7 năm 1738, làm chúa tứ năm 1735 đến 1738 (tức 3 năm), thường được gọi là chúa Ninh, được truy tôn là Túc Tông Hiếu Ninh Hoàng Đế.

Đời thứ hai chín: NGUYÊN PHÚC KHOÁT

Ông là con trưởng của Nguyễn Phúc Chú. Ông sinh ngày 26 tháng 9 năm 1714, mất ngày 7 tháng 6 năm 1765, làm chúa từ năm 1735 dến 1765. Thường gọi là chúa Võ, được truy tôn là Thế Tông Hiếu Võ Hoàng Đế. Năm 1741, ông xưng vương, lập một bộ máy quan lại, xây dựng cung điện ở Thành Phú Xuân. Nhúhg ông phạm tội loạn luân, đưa cơ nghiệp các chúa Nguyễn xuống vực thẳm. Ông tin dùng người cậu ruột Trương Phúc Loan, trao cho nhiều quyền bính. Loan là tay gian hùng, tham lam tàn nhẫn, có nhiều thủ đoạn nham hiểm. Để dễ bề thao túng chúa Võ, Loan đã đưa ngay em gái con chú của chúa là Ngọc cầu vào ở với chúa. Hai anh em con chú con bác ruột đã loạn luân và sinh ra Nguyễn Phúc Thuần. Vì là kết quả của cuộc hoan lạc bất chính, Phúc Thuần không được lập làm kế vị, mặc dù chúa Võ rất yêu Ngọc Cầu. Nguyễn Phúc Luân (con thứ của chúa Võ, tức thân phụ của Gia Long) được chọn làm thê tử kê vị.

Khi Võ vương Nguyễn Phúc Khoát mất, năm 1765, Trương Phúc Loan đã giết hai quan huấn đạo Trương Văn Hạnh và Lê Cao Kỷ được chúa giao phò lập Nguyễn Phúc Luân, đồng thời hạ ngục Nguyễn Phúc Luân rồi đưa Nguyễn Phúc Thuần mới mười hai tuổi lên ngôi. Trương Phúc Loan làm phụ chính, làm nhiều điều xằng bậy, triều đình chúa Nguyễn đứng trước nguy cơ sụp đổ.

Đời thứ ba mươi: NGUYỄN PHÚC THUẦN

Ông là con thứ 16 của Nguyễn Phúc Khoát. Ông sinh ngày 31 tháng 12 năm 1753, bị Tây Sơn giết ngày 18 tháng 10 năm 1777, làm chúa từ 1765 đến 1777. Ông được truy tôn là Duệ Tông Hiếu Định Hoàng Đế. Ông lên ngôi Chúa khi mới 12 tuổi, mọi quyền hành đều nằm trong tay phụ chánh Trương Phúc Loan. Loan bầy nhiều trò chơi khêu gợi tình dục của chúa trẻ. Phúc Thuần đòi nạp phi khi vị thành niên. Vì triều đình thối nát nên nhân tâm ly tán. Năm 1770 cuộc khởi nghĩa Tây Sơn nổ ra. Ba anh em Tây Sơn chiếm cứ một vùng lớn ở Bình Định, ở phía Bắc, năm 1774 chúa Trịnh Sâm sai Hoàng Ngũ Phúc và Nguyễn Nghiễm đưa đại binh vượt sông Gianh đột phá Lũy Thầy và Lũy Trường Sa đánh chiếm đô thành Phú Xuân. Nguyễn Phúc Thuần được đội thủy binh phò tá chạy ra cửa Tư Dung, cửa Thuận rồi vào Quảng Nam. ơ Quảng Nam, ông lại bị Tây Sơn tiến đánh. Như vậy bắc nam hai mặt đều có địch, phải tìm cách chạy vào Gia Định. Nhờ sự giúp đỡ tận tình của các trung thần, đồng thời là dâu gia, là cha con Nguyễn Khoa Thuyên, thuyền chở Nguyễn Phúc Thuần và Nguyễn Phúc Ánh đã được cứu thoát vào đến Gia Định, mặc dù cả đoàn thuyền đã bị Tây Sơn chặn đánh tan tác. Vào đến Gia Định, ông thoái vị và nhường ngôi chúa cho Hoàng Tôn Dương Nguyễn Phúc Noãn. Nguyễn 'Phúc Thuần bị Tây Sơn giết năm 1777.

Đời thứ ba mươi: NGUYỄN PHÚC NOÃN

Ông là con thứ 9 của Nguyễn Phúc Khoát. Sau khi Nguyễn Phúc Thuần thoái vị, ông lên ngôi chúa rồi bị Tây Sơn bắt và giết.

Nguyễn Phúc Ánh, đời thứ 31, con thế tử Nguyễn Phúc Luân chạy thoát, xây dựng lực lượng chống Tây Sơn và trở thành vua Gia Long vào năm 1802.

Sau đây ghi tiếp về các con khác của Nguyễn Hoàng:

Đời thứ hai ba: NGUYỄN PHÚC HÀ

Ông là con trai đầu của Nguyễn Hoàng. Ông theo cha ra Bắc đánh Mạc,được phong là Hòa Quận Công. Ông mất năm Bính Tí (1576).

Ồng có sáu người con trai, con cả Nguyễn Phúc Đổng có công đánh Mạc,được phong là Thủy Quận Công, sau đổi sang họ Vũ, ở ẩn ở Hải Hậu (Nam Định). Thường gọi là ông Gia Luân. Các con khác vào Đàng Trong cùng chúa Nguyễn.

Đời thứ hai ba: NGUYỄN PHÚC HÁN

Ông là con thứ hai của Nguyễn Hoàng. Ông theo cha ra Đàng ngoài đánh Mạc,được phong là Lỵ Quận Công. Ông hy sinh khi đánh Mạc.

Ông có hai con trai: Phụ Quận Công Nguyễn Phúc Hắc và Lại Quận Công Nguyễn Phúc Vĩnh. Hậu duệ ờ Thanh Hóa. Nguyễn Phúc Hắc ở lại làm con tin.

Đời thứ hai ba: NGUYỄN PHÚC THÀNH

Ông là con thứ ba của Nguyễn Hoàng. Ông giữ chức Chưởng cơ. Dưới thời chúa Trịnh, hậu duệ ông ở ẩn tại xã Hải Trung (Hải Hậu - Nam Định).

Đời thứ hai ba: NGUYỄN PHÚC DIÊN

Ông là con trai thứ tư của Nguyễn Hoàng. Ông đánh Mạc, được phong Hào Quận Công. Ông có 4 con trai: Tuấn, Đường, Cơ, Phú đều theo Đoan Quốc Công vào Nam.

Đời thứ hai ba: NGUYỄN PHÚC HẢI

Ông là con thứ năm của Nguyễn Hoàng. Ông theo cha đánh Mạc, được phong là cẩm Quận Công. Khi cha trở lại Thuận Quảng, ông cùng Phúc Hắc ở lại làm con tin đưa bộ thuộc và mười thớt voi đến qui phục Trịnh Tùng, được giao nắm quân như cũ. Ông sinh 4 con đều ở ẩn dưới thời chúa Trịnh: Văn Dũng Hầu Phúc Nghiêm ở Thanh Hóa, Phúc Long (Phúc Âm) và con út Phúc Chất ở Sơn Nam. Con thứ ba Phúc Cương ở Cổ Am (Vĩnh Bảo, Hải Phòng)

Đời thứ hai ba: NGUYỄN PHÚC HIỆP

Ông là con thứ bảy của Nguyễn Hoàng. Ông giữ chức Chưởng cơ. Vì có phạm tội làm phản buộc phải đổi thành họ Nguyễn Thuận. Hậu duệ ở Thuận Hóa phải đóng thuế như thường dân.

Đời thứ hai ba: NGUYỄN PHÚC TRẠCH

Ông là con thứ tám của Nguyễn Hoàng. Ông giữ chức Chưởng cơ, sau làm phản nên phải đổi thành họ Nguyễn Thuận, đóng thuế như thường dân.

Đời thứ hai ba: NGUYỄN PHÚC DƯƠNG

Ông là con thứ chín của Nguyễn Hoàng. Vô hậu.

Đời thứ hai ba: NGUYỄN PHÚC KHÊ

Ông là con thứ mười của Nguyễn Hoàng. Ông có công dẹp bọn phản nghịch là Phúc Anh và Phúc Tứ em của Phúc Lan nên được phong là Nghĩa Huhg Quận Vương. Khi chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên (anh của Phúc Khê) qua đời, chúa ủy thác cho ông giải quyết mọi việc chính sự giúp thế tử Phúc Lan còn trẻ chưa có kinh nghiệm. Tuy có quyền bính rất lớn, ông không tham vọng cá nhân mà một lòng giúp cháu giữ vững ngôi chúa. Mẹ ông, bà Minh Đức Thái Phi (vợ của Nguyễn Hoàng) theo đạo Thiên chúa. Ông giúp mẹ trong việc thờ chúa, nhưng bị Tống Thị (chị dâu của chúa Thượng, rồi làm Chính phi của chúa Thượng) chống lại nên bà Minh Đức buộc phải bỏ đạo.

Dòng họ Nguyễn Phúc làm chúa làm vua có rất nhiều hậu duệ ở trong nước và nước ngoài, hình thành một ngành họ rất đông đảo.

NGÀNH HAI: NGUYỄN TÔNG THÁI

Đời thứ hai mốt: NGUYỄN TÔNG THÁI

Ong là con thứ hai của Trừng Quốc Công Nguyễn Văn Lưu và phu nhân Mai Thị, tức là em ruột của Nguyễn Cam.

Ông giữ chức Đô Chỉ Huy Sứ chỉ huy một vệ cấm quân, tước Uy Xuân Hầu. Khi phát hiện Mạc Đăng Dung lộng quyền âm mưu cướp ngôi, nhiều trung thần họ Nguyễn như Nguyễn Công Độ, Nguyễn Hữu Đạc, Nguyễn Hoằng Dụ, Nguyễn Địch Sầm, Nguyễn Địch Hiền, Nguyễn Cam và Nguyễn Tông Thái đã rút quân đi nhiều nơi để chống Mạc. Riêng ông đã điía quân lên trấn thủ Lạng Sơn, Cao Bằng. Ý kiến nói chính ông đã về Gia Miêu chủ trì hội đồng gia tộc mưu việc bảo tồn sự nghiệp lâu dài của dòng họ bằng việc vận động cho Nguyễn Hoàng vào Thuận Hóa cần được xem lại. Bởi vì khi Nguyễn Cam lập Trang Tồng năm 1533, Nguyễn Hoàng mới 9 tuổi, đang ở với cậu ruột là Nguyễn Ư Kỷ ở Phạm Xá (Nam Sách - Hải Dương).- Gia phả dòng họ Nguyễn Phúc không ghi năm 1558 chú ruột Nguyễn Tông Thái về Gia Miêu chủ trì họp gia đình bàn việc Nguyễn Hoàng xin vào Thuận Hóa mà ghi rõ chú ruột đang mai danh ẩn tích ở Áng Mò (Lạng Sơn). Khi Nguyễn Ưông bị giết, chính cậu ruột Nguyễn ư Kỷ bày mưu Nguyễn Hoàng giả điên để tránh bị sát hại, sau đó ông bày mưu Nguyễn Hoàng nhờ chị là Ngọc Báu xin Trịnh Kiểm cho đi Thuận Hóa.

Ở Cao Lạng, Nguyễn Tông Thái đã kết hôn với con gái hào trưởng địa phương Bế Công Bồi (hậu duệ của Á Hầu Bế Khắc Thiệu, bạn đồng liêu của Nguyễn Trãi). Bà Bế Thị Khương là thứ thất, quê ở Áng Mò, xã Bắc Khê, tổng Xuất Tính, châu Thạch Lâm, phủ Cao Bằng, trấn Thái Nguyên (nay là xã Tân Tiến, huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn). Để tránh sự đàn áp của họ Mạc, ông đổi thành họ Bế; Nguyễn Tông Thái mang tên Bế Công Bộ. Con trưởng Nguyễn Tú Lâm mang tên Bế Công Mậu, con út Nguyễn Công Dũng mang tên Bế Công Dũng.

Năm Quý Tỵ (1593) khi Nguyễn Hoàng đem quân ra Bắc đánh Mạc, mặc dù Nguyễn Tông Thái đã ngoài 90 tuổi, ông cùng hai con là Tú Lâm và Công Dũng đã theo Nguyễn Hoàng đánh Mạc ờ Thái Nguyên, Lạng Sơn. Năm Mậu Tuất (1598) ông đã bày mưu bắt sống vua Mạc Kính Dụng, đóng cũi giải về Thăng Long. Do đó ông được tôn là Lão Tướng Ưy Thọ Hầu, còn Lê Thế Tông thì phong ông chức: Dương Phi Tướng Quân, Tổng Binh Thiêm Sự tước Lý Nhân Công. Các con ông được phong chức Chiêu Thảo Tướng Quân và tước Hầu. Sau khi Đoan Quốc Công Nguyễn Hoàng trở về nam, ông lại trở về Bắc Khê mai danh ẩn tích.

Ông qua đời ngày 12 tháng 5 năm Ất Tỵ (1605) thọ trên 100 tuổi. Mộ táng tại bản Áng Mò, xã Bắc Khê. Đến đời Lê Hiển Tông (1740 - 1786), hậu duệ 4 đời của ông đã đưa di cốt của ông về táng tại Gia Miêu đúng theo nguyện vọng của ông khi còn sống.

Vợ chánh thất: MAI THỊ...

Không rõ tên húy. Bà quê ở huyện Nga Sơn, phủ Hà Trung - Thanh Hoa... Có phả ghi bà họ Lê người Tống Giang. Bà mất ngày 12 tháng 5. Bà sinh một trai là Tú Lâm.

Vợ thứ thất: BẾ THỊ KHƯƠNG

Bà là con ông Bế Công Bồi, hào trưởng người Tày ồ bản Ang Mò, xã Bắc Khê, châu Thạch Lâm, phủ Cao Bằng, trấn Thái Nguyên (nay là xã Tân Tiến, huyện Tràng Định, tỉnh

Lạng Sơn). Bà mất ngày 17 tháng 8. Mộ táng tại Bắc Khê. Bà sinh một trai là Công Dũng/

Đời thứ hai hai: NGUYỄN TÚ LÂM

Ông là con của Nguyễn Tông Thái và vợ cả họ Mai. Do phải ở ẩn, ông lấy họ của mẹ kế nên đổi tên thành Bế Công Mậu. Ông thám gia đánh Mạc được phong Chiêu Thảo Tướng Quân, tước hầu. Có tư liệu ghi ông được phong Lộc Quận Công.

Đời thứ hai hai: NGUYỄN CÔNG DŨNG

Ông là con thứ hai của Nguyễn Tông Thái và bà thứ thất Bế Thị Khương. Do phải ờ ẩn nên lấy họ mẹ: Bế Công Dũng. Ông tham gia đánh Mạc, lập công được phong chức Chiêu Thảo Tướng Quân, được ban tước hầu, có tư liệu ghi tước Triều Khê Công.

Hậu duệ của Nguyễn Tông Thái phải mai danh ẩn tích nhiều năm nên vẫn lấy họ Bế. Đến đời Lê Hiến Tông (1740 - 1786) vua ban chiếu cho lấy lại họ Nguyễn. Nhưng để nhớ ơn tổ mẫu Bế Thị Khương nên chi họ lấy họ kép Bế Nguyễn.

Gia Long ban cho họ Bế Nguyễn là “Nguyễn Hữu công tính” làm chủ sứ ở Cao Bằng. Thời Minh Mạng, khi Nguyễn Hữu Khôi (hậu duệ của dòng họ này, làm con nuôi Lê Văn Duyệt, đổi là Lê Văn Khôi) chống lại triều đình năm 1835, nên bị đàn áp, Minh Mạng đã tru di tam đại họ Nguyễn Hữu (Cao Bằng), do đó nhiều hậu duệ phải trốn tránh và lấy lại họ Bế Nguyễn.

Cho đến nay, dòng trưởng hậu duệ của chi Nguyễn Tú Lâm ở Áng Mò, dòng thứ của Nguyễn Tú Lâm chuyển lên phố Vườn Cam thị xã Cao Bằng, có nhánh sang xã Vũ Thủy (Cao Bình Hòa An) và các xã thuộc cdC châu Thạch Lâm, Quảng Uyên, Hạ Lang. Sau họa tru di 1835, nhiều tiểu chi vô hậu, nhiều tiểu chi đổi thành họ Nông Bế, Hoàng Đình, B<ấ ở ẩn, có một tiểu chi đổi thành Nguyễn Gia, lánh nạn về Cống Vọng, xã Phương Liệt, Thanh Trì, Hà Nội.

Hậu duệ của chi Nguyễn Công Dũng ở Bắc Khê, bị thất truyền từ cuối thế kỷ 18.

2 - Các vi tổ thuôc đại chi Nguyễn Đức Trung

Trong thời kỳ thứ II của Triều Lê, đối với đại chi Nguyễn Đức Trung, có nhiều tư liệu về dòng con cả của ông là Nguyễn Hữu Vĩnh. Nên phả sẽ ghi một số đời tổ của dòng họ này:

Ở phân trên đã ghi Hữu Vĩnh có các con trai là: Hòa Cảnh, Hữu Dực, Hữu Diễn, Hữu Dịch, Hữu Kỷ, Hữu Đạc.

- Nguyễn Hòa cảnh có hậu duệ vào Nam phò chúa Nguyễn.

- Nguyễn Hữu Dực tham gia phò Lê diệt Mạc.

- Nguyễn Hữu Diễn có hai con là Nguyễn Hữu Thế và Nguyễn Hữu Vận vào Nam phò chúa Nguyễn.

- Nguyễn Hữu Dịch có hậu duệ vào Nam phò chúa Nguyễn.

- Nguyễn Hữu Kỷ - có hậu duệ là Nguyễn Hữu Tiến vào Nam lầm Tiết Chế Quân Nam đánh quân Trịnh.

- Nguyễn Hữu Đạc có con gái làm chánh thất của Nguyễn Hoàng, có cháu là Nguyễn Hữu Triều vào Nam. Nguyễn Hữu Triều sinh ra danh tướng của Đàng Trong là Nguyễn Hữu Dật và là ông nội của Nguyễn Hữu Hào và Nguyễn Hữu cảnh, Hữu Cảnh là người có công chỉ huy quân mở rộng bờ cõi ra toàn Nam bộ.

Vì tất cả con cháu Nguyễn Hữu Vĩnh đều phò Lê chống Mạc, nên đều bị quân Mạc đàn áp trong thời kỳ chiến tranh Nam Bắc Triều. Một mặt khác, vì Nguyễn Hữu Đạc có con gái lấy Đoan Quốc Công Nguyễn Hoàng, nên trong thời kỳ Nam Bắc phân tranh, hậu duệ dòng Nguyễn Hữu cũng phải ẩn tránh, nhiều người buộc phải đưa gia đình vào Nam. Sau đây xin nêu một số đã có tư liệu:

MỘT SỐ HẬU DUỆ CỦA NGUYỄN HỮU VĨNH

Đời thứ hai hai: NGUYỄN HỮU LỘC

Ông là con của Nguyễn Hữu Kỷ, là anh con nhà bác của bà Nguyễn Thị Lưu (chánh thất của Nguyễn Hoàng). Ông và gia đình theo Nghĩa Dũng Đoàn của Nguyễn Hoàng vào Đànr Trong định cư à Phú Phong Bình Định. Ông được làm tướng đánh giặc dưới trướng của Nguyễn Hoàng, giữ chức Tán Trị Công Thần của Nam Quân Đô Đốc Phủ, Đô Đốc đồng tri (Phó tư lệnh), sau được gia phong Thiếu Bảo Phù Quận Công.

Ông sinh 4 trai: Hữu Thể, Hữu Thiệp, Hữu Tiên, Hữu Dụ, trong đó Hữu Tiến là người nôi bật.

Đời thứ hai ba: NGUYỄN HỮU TIẾN

Ông là con trai thứ ba của Nguyễn Hữu Lộc, ông cùng cha theo Nghĩa Dũng Đoàn vào Đàng Trong. Là một người có tài thao lược, ông được Đào Duy Từ gả con gái và được họ Đào tiến cử lên chúa Sãi làm cai cơ (cai cơ là tư lệnh một cơ tức một đơn vị lớn), Lúc đầu ông là phó tướng chỉ huy mở rộng đất Phú Yên, Khánh Hòa ngày nay. Vì có công và có tài năng, tiếp đó ông được cử giữ chức Tiết chế (Tổng chỉ huy) quân Nam đạo. Ông đã chỉ huy quân Nam đạo đánh bại các cuộc tiến công của quân Trịnh năm Đinh Mùi (1627) và năm Canh Ngọ (1630) dưới thời chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên, đánh bại các cuộc tiến công của quân Trịnh năm Ất Hợi (1635) và năm Mậu Tý (1648) dưới thời chúa Thượng Nguyễn Phúc Lan, đã chỉ huy cuộc tiến công ra Bắc chiếm vùng phía nam sông Lam năm Ât Mùi (1655) giằng co trong khoảng 5 năm rồi chủ trương chủ động rút'lui để về giữ Lũy Thầy như cũ. Tiếp đó ông chỉ huy đánh thắng cuộc tiến công của quân Trịnh năm Tân Sửu (1661) dưới thời chúa Hiền Nguyễn Phúc Tần.

Năm 1664, ông lâm bệnh, thôi giữ chức Tiết Chế rồi qua đời, được phong tước Thuận Nghĩa Hầu. Ông là một danh tướng có công chặn đứng nhiều cuộc tiến công của chúa Trịnh, tạo điều kiện cho chúa Nguyễn xây dựng và mở mang Đàng trong thành một miền phồn thịnh.

Đời thứ hai mươi ba: NGUYỄN HỮU TRIỂU

Ong là con của cẩm Hoa Hầu Nguyễn Hữu Dẫn (có phả ghi là Nữu), cháu của Nguyễn Hữu Đạc, chắt của Nguyễn Hữu Vĩnh. Nguyễn Hữu Dẫn là anh ruột của bà Nguyễn Thị Ngọc Lưu, chánh thất của Nguyễn Hoàng. Năm 1558, khi Nguyễn Hoàng vào Nam, vì gia đinh Nguyễn Hữu Đạc đang bị họ Mạc truy đuổi phải ẩn dật mỗi người một nơi, nhiều người bị giết, nên chưa có điều kiện theo Nguyễn Hoàng vào Nam. Khi Nguyễn Hoàng ra Bắc rồi năm 1600 trở vào Nam, gia đình ông vẫn chưa có điều kiện vào theo. Mãi đến năm 1609, ông mới đuầ được gia đình vào Đàng Trong định cư tại xã Vạn Xuân, huyện Phong Lộc, Quảng Bình. Ông được chúa Tiên Nguyễn Hoàng trọng dụng phong tước Triều Văn Hầu. Cho nên ông thường được gọi là Nguyễn Triều Văn. Ông phò chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên và chúa Thượng Nguyễn Phúc Lan. Ông tham gia chỉ huy đánh trận trong các chiến cuộc đánh quân Trịnh. Đặc biệt trong chiến cuộc năm Mậu Tý (1648) dưới sự thống lãnh của tiết chế Nguyễn Phúc Dũng, ông giữ chức Tham tướng chỉ huy thủy quân, hiệp đồng cùng bộ binh đánh thắng lớn ra đến nam ngạn sông Lam. Ông sinh ra danh tướng Nguyễn Hữu Dật.

Đời thứ hai bốn: NGUYỄN HỮU DẬT

Ông là con trai Nguyễn Hữu Triều. Ông sinh năm Quí Mão (1603), theo cha vào Đàng Trong lúc 6 tuổi. Lúc nhổ học rất thông minh, lại chú ỹ luyện võ. Năm 16 tuổi, ông đỗ Khoa

Chính Đồ (còn gọi là Khoa Hoa văn), được chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên bổ nhiệm làm quan, sau được thăng dần và tham dự bàn các việc triều chính cơ mật.

Sau ông được cử giữ chức Giám Chiến, phò tá Nguyễn Hữu Tiến đánh bại các cuộc tiến công của quân Trịnh vào các năm Đinh Mão (1623), Canh Ngọ (1630), Ất Hợi (1635), Mậu Tý (1642). Trong cuộc tiến công ra nam Sông Lam năm Ât Mùi (1655), ông giữ chức phó của Nguyễn Hữu Tiến. Năm 1661, ông cũng làm phó của Nguyễn Hữu Tiến chỉ huy đánh bại cuộc tiến công mới của quân Trịnh. Năm 1664, khi Nguyễn Hữu Tiến lâm bệnh, ông được giao giữ chức Tiết chế thay Hữu Tiến chỉ huy đánh thắng cuộc tiến công cuối cùng của quân Trịnh năm 1672.

Tương truyền, năm 1650, khi làm phó cho Nguyễn Hữu Tiến, ông làm kế trá hàng chúa Trịnh, cố kéo quân Trịnh vào để tiêu diệt. Có người tố cáo, chúa Hiền tống ngục ông. Sau xét oan nên thả và phục chức như cũ. Chúa cho đốt danh sách những người trá hàng.

Chính Nguyễn Hữu Tiến và Nguyễn Hữu Dật đã đốc thúc việc đắp Lũy Thầy và Lũy Trường Sa dưới sự chỉ đạo của Đào Duy Từ. Ông mất ngày 31 tháng 3, được tặng: Thế Trị Nan Thượng Trật Công Thần Đặc Tiến Đại Trụ Quốc Thượng Tướng Quân cẩm Y Vệ Trung Đại Đô Đốc Phủ Đại Đô Đốc Chưởng Phủ Sự, Lĩnh Thuận Hóa Thủy Bộ Chư Dinh Tiết Chế, Chiêu Quận Công, tặng phong Tĩnh Quốc Công, thụy Viết Cần Lương Vũ Chi Thần". Mộ ông táng tại xứ Ngô Đồng xã Vạn Xuân, huyện Phong Lộc, tỉnh Quảng Bình.

Vua Gia Long đã phong ông ỉà Thượng Cấp Khai quốc Công Thần, được thờ à Thái Miếu. Vua Minh Mệnh truy tặng ông là Thái Phó Tĩnh Quốc Công.

Vợ chính thất: TỐNG THỊ PHẦN

Bà hiệu là Từ Hạnh, giỗ ngày 16 tháng 6, sinh 4 trai:

1.       Nguyễn Hữu Hào (Hào Lương Hầu)

2.       Nguyễn Hữu.... (Chương cơ Trung Thắng Hầu)

3.       Nguyễn Hữu cảnh (Lễ Thành Hầu)

4.       Nguyễn Hữu.... (Nguyên Phụ Tín Quận Hầu).

Đời thứ hai lăm: NGUYỄN HỮU HÀO

Ổng là con cả của Nguyễn Hữu Dật. Ông sinh ngày 10 tháng 10 năm Nhâm Ngọ (1642) tại Phong Lộc, Quảng Bình. Ông phò chúa Hiền Nguyễn Phúc Tần, chúa Ngãi Nguyễn Phúc Trăn, chúa Minh Nguyễn Phúc Chu. Năm 1690, ông được cử giữ chức Thống lĩnh đưa quân xuống vùng Chenla Thủy. Người Chenỉa chịu triều cống, ông rút quân. Vì không thực hiện được ý đồ chiến lược của chúa nắm thời cơ có lợi để mở mang đất đai, chúa cách chức ông xuống làm thường dân.

Năm 1691, chúa Minh Nguyễn Phúc Chu lại bổ nhiệm ông làrrt Cai cơ và năm 1709 cất nhắc ông làm Trấn thủ Quảng Bình. Trong thời gian này ông sáng tác cuốn Song tinh bất dạ bằng quốc âm, một cuốn thơ lục bát kể một câu chuyện tình lâm ly (phóng tác theo một cuốn truyện bằng chữ Hán là

Đinh Tình Nhân) gồm 2.396 câu lục bát, một cuốn thơ nôm lớn khá hay ra đời trước truyện Kiều trên một trăm năm. Cho nên ông là một nhà thơ lớn của dân tộc ta hồi thế kỷ 18.

Ông được phong Hấn Công Thần, Đặc Tiến Khai Phủ Phụ Quốc Thượng Tướng Quân, cẩm Y Bào, Tiền Quân Đô Đốc Chưởng Phụ Sự Hữu Thống Ký, tước Hào Lương Hầu.

Hậu duệ của ông có chi ở Phú Xuân: Nguyễn Hữu Chiên, Nguyễn Hữu Bình; có chi ở Phong Lộc Quảng Bình, có chi ở Hà Nội. Sau này sinh ra Kinh lược sứ, Phụ Chánh Đại thần Nguyễn Hữu Độ (1813-1888), có con gái là chánh phi của Đồng Khánh, được tôn làm Thái Hậu đời Khải Định, có chi ở Phượng Vũ (Phượng Dực; Thường Tín), trong đó có một số nhân vật có tiếng như Nguyễn Hữu Thể (1710-1780) Nguyễn Văn Tạo.

Đời thứ hai lăm: NGUYỄN HỮU CẢNH

Nguyễn Hữu Cảnh là con thứ ba của Nguyễn Hữu Dật, em ruột của Nguyễn Hữu Hào. Ông sinh năm Canh Dần (1650). Ông là một người văn võ toàn tài. Công lao to lớn của ông là mở mang đất đai ờ cực Nam Trung bộ và toàn bộ Nam bộ. Từ năm 1623, sau khi chúa Sãi gả công chúa Ngọc Vạn cho vuạ Chăm là Po Romê, và công chúa Ngọc Khoa cho vua Chen La là Chei Chetta II, ta đã lập chính quyền ở Bình Khương và được quyền di dân và thu thuế ở Bà Rịa Biên Hòa. Chúa Nguyễn đã cử Nguyễn Hữu Hào đem quân mở rộng đất xuống Nam bộ, nhưhg ông không làm tròn nhiệm vụ bị cách chức.

Năm 1698, chúa Minh Nguyễn Phúc Chú đã cử Nguyễn Hữu Cảnh đang giữ chức trấn thủ Bình Khương (Bình Thuận) làm Kinh Lược Sứ Thống Suất xứ Đồng Nai. Năm 1699 Hữu Cảnh đưa một đoàn thuyền chiến chở quân vào miền đông Nam bộ, có phó tướng Phạm Cầm Long và tham tướng Nguyễn Hữu Khánh giúp việc. Vùng này chưa được khai phá, có thưa thớt dân thiểu số Chè Mạ, Xchiêng. Ngoài ra có xen kẽ một số xóm người Việt, một số ít người Hoa và một số người Khơme. Vấn đề mấu chốt của chúa Nguyễn là di dân người Việt ờ Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên, Quảng Nam, Quảng Ngãi vào. Nguyễn Hữu cảnh đã đưa số dân đó rải ra các nơi nhanh chóng tổ chức các ấp, lân, khóm, xã để khai khẩn đất đai, ông tổ chức chính quyền ở cơ sở rồi căn cứ vào địa hình chia miền Đồng Nai thành hai huyện: Phước Long và Tân Bình, ơ Phước Long ông lập dinh Trấn Biên (tức Biên Hòa ngày nay), ơ Tân Bình ông lập dinh Phiên Trấn (sau gọi là Sài Gòn, nay là thành phố Hồ Chí Minh). Các thị trấn, thị tứ bắt đầu hình thành. Việc buôn bán phát triển. Phủ Gia Định ra đời. Vua Chenla chấp nhận sự mở rộng, khai khẩn đất đai của người Việt, một việc mà vua Chenỉa không làm nổi.

Thừa thắng, Nguyễn Hữu cảnh cho quân tiến về miền Tây. Đây cũng là vùng chưa khai phá, có dân Việt, dân Khơme, một bộ phận người Hoa cư trú. Chúa Nguyễn tiếp tục di dân, Nguyễn Hữu cảnh tổ chức cho dân khai khẩn và tổ chức thêm đơn vị hành chính mới: Vĩnh Long, Châu Đốc, Hà Tiên. Thực ra đây là miền không có sự khống chế chặt chẽ của vua Chenla. Vùng vua Chenla cai trị chính thức là đất Campuchia ngày nay.

Theo sông cửu Long, Nguyễn Hữu Cảnh kéo quân lên Nông Pênh. Vua Chenla không chống cự mà bỏ chạy. Cháu vua xin thần phục. Hữu cảnh cử người đi phủ dụ. Vua Chenla trở lại Nông Pênh. Hữu Cảnh giao cho vua tiếp tục cai trị đất Campuchia, còn ông rùt quân về Châu Đốc. Việc mở mang đất đai ở Nam bộ hoàn thành.

Trong khi đang bận rộn việc khai khẩn đất mới mở rộng, ông bị bạo bệnh và đột ngột qua đời ngày 9 tháng 5 năm Canh Thìn (1700). Ông được tặng Hiệp Tán Công Thần, Đặc Tiến Chưởng Dinh, Lễ Thành Hầu, thụy Trung cẩn. Linh cữu được chuyển về quê ở Phong Lộc, Quảng Bình.

Năm Tân Dậu (1813), niên hiệu Gia Long thứ 13, ông được tấn phong Khai Quốc Công Thần, Thượng Đẳng Phúc Thần. Nhà thờ Lễ Công Từ được xây để thờ ông. Hậu duệ ông có ở Quảng Bình và ở nhiều tỉnh Nam bộ.

Dòng họ Nguyễn Hữu có rất nhiều hậu duệ, trong đó có một chi ở Phường Đúc (Huế), nhiều chi ờ Quảng Nam, ở Binh Định, ở Phú Yên, ờ Bình Thuận và ở nhiều tỉnh Nam bộ.

3 - Các vi tổ thuôc đai chi Nguyễn Nhân Chính

Đây là một đại chi họ có đông đảo hậu duệ, có 15 vị quốc công và quận công, trên 30 vị tước hầu, nhiều vị tước bá, tử, nam. Phần lớn đều ờ Bắc Hà thờ chúa Trịnh, có thể có một số vào Nam chưa khảo được. Sau đây chỉ nêu những vị quận công hậu duệ của Mục quốc công Nguyễn Nhân Chính đã ghi trong phả Liễu Ngạn.

Đời thứ hai mươi: NGUYỄN ĐĂNG CƠ

Ông là con cả của Nguyễn Nhân Chính. Ông có công trong sự kiện hạ bệ Uy Mục, được phong tước Tuyên Quận Công, mới phát hiện có hậu duệ ở Phù Ninh (Từ Sơn. Bắc Ninh).

Đời thứ hai mốt: NGUYỄN THỜI Dự

Ông được phong tước Lương Quận Công.

Đời thứ hai hai: NGUYỄN VĂN ĐƯỜNG

Ông được phong tước Hiền Quận Công.

Đời thứ hai bốn: NGUYỄN CÔNG TỘ

Ông được phong tước Miện Quận Công.

Đời thứ hai lăm: NGUYỄN VĂN BẠT

Ông được phong tước Bá Quận Công.

Đời thứ hai lăm: NGUYỄN VĂN TƯỜNG

Ông được phong tước Lạng Quận Công.

Đời thứ hai sáu: NGUYỄN VĂN BÚT

Ông được phong tước Vệ Quận Công.

Đời thứ hai sáu: NGUYỄN ĐĂNG LỤC

Ồng được phong tước Dận Quận Công.

Đời thứ hai bảy: NGUYỄN CÔNG HUẤN

Ông được phong tước Vũ Quận Công.

Đời thứ ba mươi: NGUYỄN VĂN KHUÊ

Ong được phong tước Duệ Quận Công.

Đời thứ ba mốt: NGUYỄN VẢN CƯỜNG

Ong được phong tước Khuông Quận Công.

Đời thứ ba mốt: NGUYỄN VÃN LỘC

Ông được phong tước Phùng Quận Công.

Các vị tổ tước hầu, bá, tử, nam có đến mấy chục vị. ở đây không ghi. Xin xem cuốn phả của dòng họ Nguyễn Gia ở Liễu Ngạn sẽ biết kỹ hơn.

4 - Các vị tổ thuôc đai chi Nguyễn Như Hiếu

Phả Hải Hậu ghi Nguyễn Như Hiếu có 4 con trai là Khiêm, Phong, Tiến, Thái.

Đời thứ hai mươi: NGUYỄN KHIÊM

Ong là con cả của Nguyễn Như Hiếu, ông giữ chức Thừa phái ở một huyện.

Đời thứ hai mươi: NGUYỄN PHONG

Ong là con thứ hai của Nguyễn Như Hiếu. Ong đỗ tiến sĩ và giữ đến chức Giám Sát Ngự Sử.

Đời thứ hai mươi: NGUYỄN TIẾN

Ong là con thứ ba của Nguyễn Như Hiếu. Ông giữ chức Tham Nghị.

Đời thứ hai mươi: NGUYỄN THÁI

Ông là con trai út của Nguyễn Như Hiếu, ông giữ chức Lang Trung.

Phả Liễu Ngạn ghi đến đời thứ 22 trong đó có chi Nguyễn Uy tước Thanh Xuyên Hầu di CƯ về xã Tả Thanh Oai huyện Thanh Oai (Hà Tây).

Đại chi này còn có các chi ở Biện Thượng, Đông Biện (Bồng Trung), Vĩnh Lộc, Thanh Hóa.

5        - Các vi tổ thuộc đại chi Nguyễn Công LỖ

Nguyễn Công Lỗ có hậu duệ rất đông đảo: Ông có 9 con trai: Tề, Lang, Sầm, (Khầm), Tiến, Tồn, Giai, Lý, Nghiễm, Lữ và một con gái. Tề chết sớm. ở phần trên đã nói về Nguyễn Văn Lang (Nghĩa Huân Vương) người chủ trì việc hạ bệ Uy Mục, tôn phò Tương Dực lên ngôi. Sau đây viết tiếp một số vị khác:

HẬU DUỆ CỦA NGUYỄN VĂN LANG

Trên đã ghi Nguyễn Văn Lang sinh ba trai: Nguyễn Hoằng Dụ, Nguyễn Hoằng Uy, Nguyễn Viết Diên. Sau đây giới thiệu tóm tắt về Hoằng Dụ.

Đời thứ hai mươi mốt: NGUYỄN HOANG DỤ

Ong là con cả của Nguyễn Văn Lang, làm tướng theo cha hạ bệ Lê Uy Mục, có công, được phong tước An Hòa Hầu. Sau khi Trần Chân giết Chiêu Tông định cướp ngôi, Hoằng Dụ đóng quân ở Đông Tác (Thanh Trì) chống lại, vì thế yếu phải lui quân vào Thanh Hóa rồi mất năm 1528.

Có cuốn sử ghi Hoằng Dụ sinh ra Nguyễn Cam (Kim). Ghi như vậy không đúng. Nguyễn Cam sinh năm 1468, còn Nguyễn Văn Lang như trên đã ghi có thể sinh năm 1453 hoặc 1458. Cho nên con cả của Văn Lang là Hoằng Dụ có thể sinh năm 1473 hoặc 1478. Như vậy Hoằng Dụ kém Nguyễn Cam từ 5 đên 10 tuổi không thể sinh ra Nguyễn Cam. Thực ra Nguyễn Cam là con Nguyễn Văn Lưu, cháu của Nguyễn Như Trác, còn Nguyễn Hoằng Dụ là con của Nguyễn Văn Lang, cháu của Nguyễn Văn Lỗ. Nguyễn Như Trác và Nguyễn Văn Lỗ là anh em ruột (con thứ 4 và thứ 5 của Nguyễn Công Duẩn) cho nên Nguyên Cam là anh cháu chú cháu bác với Nguyễn Hoằng Dụ.

Trong Nguỵễn Gia thế hệ phả còn ghi tiếp đến đời 29 gồm 78 người hậu duệ của Nguyễn Văn Lang.

Đời thứ hai mươi: NGUYỄN ĐỊCH SAM (Khầm)

Ông là con thứ ba của Nguyễn Công Lỗ. Ông theo anh là Nguyễn Văn Lang tôn phò Tương Dực lên ngôi, rồi được giao giữ chức Trấn Thủ Lâm Thao, Đoan Hùng. Khi Mạc Đăng Dung cướp ngôi nhà Lê, ông chống Mạc, cho người bắt liên lạc với Nguyễn Cam để mưu đồ việc trung hưng Nhà Lê. Ông và cả con ông Nguyễn Địch Hiền cùng kiên quyết xây dựng lực lượng chống Mạc.

Ông được phong là Phượng Quận Công. Ông sinh Nguyễn Địch Hiền.

Đời thứ hai mươi: NGUYỄN VĂN TIẾN

Ông là con của Nguyễn Công Lỗ. Khi nhà Mạc đoạt ngôi, ông chống Mạc, được phong là Bảo Quận Công. Hậu duệ ờ xã Kim Âu (Vĩnh Lộc, Thanh Hóa), sau phát triển sang Thạch Bàn và Ông Hưng (Thanh Hóa).

Đời thứ hai mươi: NGUYỄN TỒN

Ông là con của Nguyễn Công Lỗ, ông tham gia phò Lê diệt Mạc được phong là Lãm Đống Hầu. Có hậu duệ vào với chúa Nguyễn, hiện có nhà thờ ông ở Huế.

Đời thứ hai mươi: NGUYỄN VĂN GIAI

Ông là con của Nguyễn Công Lỗ, ông tham gia phò Lê diệt Mạc được phong là Mai Kiến Hầu. Ông còn có tên là Tru, hậu duệ ở Hoa Lâm (Nga Sơn, Thanh Hóa).

Đời thứ hai mươi: NGUYỄN CONG LY

Ông là con của Nguyễn Công Lỗ, ông tham gia phò Lê diệt Mạc được phong là Bình Quận Công, ông di cư ve62 xã  Phong Cốc. Hiện có một chi họ ở đây.

Đời thứ hai mươi:  NGUYỄN NGHIÊM

Ông là con của Nguyễn Công Lỗ, ông tham gia phò Lê diệt Mạc chifc ThifOng Tương Quan, tức Dương Sơn Hầu.

- Ông di cư về An Bài, Dong Thanh (nay là Yên Thành) Nghệ An, ông có hậu duệ ở Quỳnh Lưu, Diễn Châu.

Đời thứ hai mươi: NGUYỄN VAN LƯ

Ông là con út của Nguyễn Văn Lô. Có phả đã nhi nhầm ông là Nguyen Van Lif, em ruot cua Nguydn Van Lif deu la con cua Nguydn Ba Lan. Chinh Nguydn Van LCf nay (ghi nham la Nguydn Van Lif) da nhiep bien cuon Nguyen Gia the pha trong do ghi hanh trang cua Nguydn Ba Lan gop ca hanh trang cua cao to cua Ba Lan la Nguydn Ly vao lam mot. Neu Nguydn Van Lif (ghi nham la Nguydn Van Lif) la con cua Ba

Lân thì sao lại ghi sai hành trạng của chính cha mình như thế. Thực ra Nguyễn Văn Lữ ở đây là thuộc phân hệ Nguyễn Biện khác với Nguyễn Văn Lữ thuộc phân hệ Nguyễn Tác.

Nguyễn Văn Lữ được giao giữ chức Thượng thư Bộ Hộ dưới triều vua Tương Dực, tước Quỳnh Sơn (Nham) hầu, ông có... con, người thứ tư là Nguyễn Hựu.

Đời thứ hai mốt: NGUYỄN ĐỊCH HlỂN

Ông là con trai Phượng Quận Công Nguyễn Địch Sầm. Ông kế nghiệp cha làm phụ đạo nắm việc quân dân Lâm Thao (Phú Thọ), lập trại ở Vũ Cầu. Nhân anh họ là Nguyễn Cam (Kim) khởi binh phù Lê diệt Mạc, ông và cha thu thập binh lính nhân dân ở hai phủ Đoan Hùng, Lâm Thao (Phú Thọ) liên kết với Thái phó Nhân Quốc Công Vũ Công Kỷ ở Tuyên Quang để thanh viện cho Nguyễn Cam. Cha chết, ông vẫn nhiều lần đánh bại quân Mạc.

Năm Kỷ Dậu (1549) Trịnh Kiểm tâu vua phong ông làm Đô Hiệu Điểm, tước Định Quận Công, trấn thủ Lâm Thao, Đoan Hùng (Phú Thọ).

Khi Vũ Công Kỷ ở Tuyên Quang trở mặt, ông sợ bị cô lập nên chuyển quân sang Thượng du Hưng Hóa, Đà Giang (Tây Bắc). Năm Giáp Dần (1594) đánh thắng Mạc Kính Điển ờ Hoa Lâm, Nguyên Dã, buộc Mạc Kính Điển phải lui quân về Quảng Oai. Năm Ât Mão (1595), ông đem quân cùng Trịnh Kiểm đại phá Mạc Kính Điển ở núi Yên Định (Thanh Hóa), sau lại đưa quân trở lại Lâm Thao, thu phục lại Hưng Hóa.

Năm Kỷ Mùi (1599), Trịnh Kiểm kéo đại quân lên Tuyên Quang. Ông hội quân à Bách Lẫm, Nguyên Đầu, dời đồn đến Sơn Vi (Lâm Thao) đánh trận nào cũng thắng.

Năm Canh Thân (1600), ông được lệnh trấn thủ cả Hưng Hóa ông đốc thúc thu thập lương thực nuôi quân của chúa Trịnh.

Năm Mậu Dần (1638) Mạc Kính Điển đánh Tuyên Quang Hưng Hóa, ông cùng Vũ Công Kỷ hợp lực đánh bại.

Năm Quí Ty (1653), Tiết chế Trịnh Tùng lệnh ông đưa quân xuống đánh Thăng Long, ông đưa quân tinh nhuệ đi làm nhiệm vụ và lập công.

Quân Mạc đuầ quân đánh Hạ Hòa (Phú Thọ), Vũ Đức Cung, con Vũ Công Kỷ (đã chết), muốn ăn ở hai lòng. Ông đã viết thư nói rõ hơn thiệt và đã thuyết phục được Đức Cung, rồi kéo y về Kinh. Cưng đã được phong Bắc quân Tả đô đốc, Thái bảo Hoa quận công. Đức Cung giả vờ tỏ ra ân nghĩa, kỹ thực vẫn bí mật cấu kết với quân Mạc. Năm Giáp Ngọ (1654), Cung cùng quân Mạc tập kích ông ờ Thanh Ba, bắt hết người lớn bé trong nhà ông. Ông rút xuống Sơn Vi cấp báo về Kinh. Trịnh Tùng lệnh Thái úy Nguyễn Hữu Liêu đúct quân lên ứng cứu. Đức Cung phải rút lên Đại Đồng, quân Trịnh bắt được tướng Mạc là quận công Mỹ Thọ Hầu và giải thoát được người nhà lớn bé của ông. Ông lại được trấn thủ đất cũ, còn Hữu Liêu rút quân về Kinh. Đức Cung trở lại đánh Hạ Hòa lần thứ hai, lần này Trịnh Tùng phái Thái úy Nguyễn Hoàng đưa quân quét Đức Cung ở Đại Đồng, Đức Cung phải chạy lên Nghĩa Đô. Địch Hiền theo Thái úy về Kinh, Chúa Trịnh sai Đô quận công giữ chức trấn thủ Lâm Thao. Nhưng chỉ ít lâu quan trấn thủ mới mất lòng dân chúng, chúa lại sai Địch Hiền trở lại làm trấn thủ và gia phong cho ông là: Quân Trung Đô Đốc Phủ, Tiền Tả Đô đốc.

Năm Lê Anh Tông trở lại nắm quyền, gia phong ông là Thái Bảo Yến Quận Công. Sau khi ông mất lại được bảo phong: Thượng Trụ Quốc, Thượng Địch Trung Tiết Đại Vương, được ban tên thụy là Liêm Bình, vua lệnh dân 4 xã thờ và cấp 180 mẫu ruộng để cúng tế. Ông là Thủy tổ của dòng họ Nguyễn Địch ở Vũ Cầu, giỗ ngày 12 tháng 5, mộ táng tại xứ Khu Chiêu, xã Vũ Cầu.

TỔ bà: NGUYỄN THỊ NGỌC LIÊN

Bà có hiệu là Từ Liêm, người xã cổ Pháp, huyện Tiên Phong (Lâm Thao) giỗ ngày 12 tháng 5, mộ táng tại xã cổ Pháp. Ông bà sinh 4 trai: 1) Nghĩa Xuyên Hầu, 2) Thao Quận Công, 3) Triều Nham Hầu, 4) Nông Quận Công.

Đời thứ hai hai: NGUYỄN ĐỊCH TRƯƠNG

Ông là con cả của Nguyễn Địch Hiền. Ông cùng cha đánh Mạc trong 20 năm được tập lĩnh trấn thủ phủ Lâm Thao được phong tước Nghĩa Xuyên Hầu, giỗ ngày 19 tháng 7. Mộ táng tại xứ Nội Doanh ở Vũ Cầu, được ban thụy là Trung Dũng.

TỔ bà: NGUYỄN THỊ VÂN

Bà có tên hiệu là Từ Trinh, người xã Nghệ Chi, huyện Quán Mật giỗ ngày 20 tháng 5. Ông bà sinh 5 trai: Diễn Phái Hầu, Vị Lộc Hầu, Tôn Đăng Hầu, Tấn Lộc Hầu, Nguyễn Phù.

Đời thứ hai hai: NGUYỄN ĐỊCH THAO (Trung)

Ông là con thứ hai của Nguyễn Địch Hiền, có công.trong thời kỳ Trung Hưng, bắt sống tướng Mạc Tôn Vương ở huyện Văn Trấn rồi áp giải về Kinh, ông được phong tước Thao Quận Công, được tập quản việc quân dân huyện Hạ Hòa.

TỔ bà: NGUYỄN THỊ VINH

Bà quê tại Vũ Cầu. Ngày mất không ghi, mộ không ghi. Ông bà sinh 6 trai đều ở Âm Thượng, Hạ Hòa.

Đời thứ hai hai: NGUYỄN ĐỊCH HẢI

Ông là con thứ ba của Nguyễn Địch Hiền, chính cư ờ xã Hoàng Cương, huyện Thanh Ba, thời Trung Hưng có công tham gia bắt tướng Mạc, được phong tước Triều Nham Hầu, coi việc quân dân huyện Thanh Ba.

Đời thứ hai hai: NGUYỄN ĐỊCH NÔNG

Ồng là con thứ tư của Nguyễn Địch Hiền, chính cư ở xã Bặc Triều huyện Hoa Khê (nay là cẩm Khê - Phú Thọ), thời Trung Hưng tham gia bắt tướng Mạc, được phong tước Nông Quận Công, coi việc quân dân huyện Hoa Khê (Cẩm Khê).

Đời thứ hai ba: NGUYỄN ĐỊCH THANH

Ông là con trưởng của Nguyễn Địch Trương. Ông được tập phong chức Tri Quân Dân Sự Vụ phủ Lâm Thao, Quang

Tiến Trấn Quốc Đại Tướng Quân Trung Đô Đốc Sự Vệ Sự tước Diễn Phái Hầu, mất ngày 15 tháng 3, thụy Trung Cần, mộ táng tại xứ Sơn Nộn trong xã Yên Khê.

Tổ bà: PHẠM THỊ DƯNG

Được thờ làm hậu thần của xã, giỗ ngày mồng 5 tháng 11, sinh 3 trai: 1) Ba Quận Công, 2) Ngạn Quận Công, 3) Nghiêm Quận Công.

Đời thứ hai ba: NGUYỄN ĐỊCH VỊ (Lân)

Ông là con thứ hai của Nguyễn Địch Trương. Ông làm quan qua các triều có công. Khi cha mất, phụng lĩnh chức Tri quân dân sự vụ phủ Lâm Thao, được thăng Tả Đô Đốc Thị Vệ Sự tước Vị Lộc Hầu. Ông ở thôn Phụng Cương huyện Lâm Thao. Khi mất được ban tên thụy là Trung Cần. Ông sinh 2 trai: Nguyễn Phụ, Nguyễn Huân.

Đời thứ hai ba: NGUYỄN ĐỊCH TÔN (DU)

Ông là con thứ ba của Nguyễn Địch Trương, sinh 3 trai: 1) Nguyễn Tán, 2) Nguyễn Dương; 3) một vị Đặc Tiến Phụ Quốc Thượng Tướng Quân. Ông được phong tước Tôn Đăng Hầu.

Đời thứ hai ba: NGUYỄN ĐỊCH PHỒ

Ông là con thứ tư của Nguyễn Địch Trương, ông sinh Nguyễn Đăng, Nguyễn Chính (không con), ông được phong tước Phổ Lục Hầu.

Ông là con thứ năm của Nguyễn Địch Trương. Ông sinh Nguyễn Nho, Nguyễn Ngũ.

Đời thứ hai bốn: NGUYỄN ĐỊCH TƯỜNG (Dương)

Ông là con cả của Nguyễn Địch Thanh, ông sinh 2 con: Thuần Lĩnh Hầu Nguyễn Thuật, Yến Lộc Hầu Nguyễn Dung, ông tập lĩnh quân dân sự vụ phủ Lâm Thao chức Đặc Tiến Phụ Quốc Thượng Tướng Quân Thần Vũ Đề Đốc Tứ Vệ Quân Dân Sự Vụ, tước Ba (Bể) Quận Công, tên tự Trung Tín, được ban tên thụy là Mỹ Trì, giỗ ngày 28 tháng 9, mộ táng tại xứ Khu Mâu Thượng.

TỔ bà: BÙI TỪ LAN

Từ Lan là tên hiệu, bà là con gái Nguyên Quận Công, quê ở xã Quang Thi huyện Thụy Nguyên (nay thuộc Thanh Hóa), bà được phong Quận phu nhân.

Tổ bà á thất: NGUYỄN TỪ THIỆN

Từ Thiện là tên hiệu, người huyện Đông Sơn, được phong Chánh phu nhân, giỗ ngày mồng 2 tháng 10, táng tại xã Chiêu ứng huyện Sơn Vi. Bà sinh hai trai.

Ông làm quan dưới triều Lê Thần Tông hầu chúa Trịnh Hoàng Tổ Dương Vương. Khi chúa đem quân Nam chinh đánh chúa Nguyễn, ông đem quằn bản bộ phò giá. Lúc ấy triều đình hồ nghi ông cùng họ với chúa Nguyễn sợ có sự không hay, ông bèn làm khải trần tình xin làm đơn vị đi trước lập công. Khi xuất quân ông đã có ý quyết tâm không trở về nên mọi việc nhà giao lại các em lo liệu. Khi đánh trại lũy quân Nguyễn, ông cố xông lên phía trước, bị họ cắt đường phía sau, bị vây 9 ngày, ông quyết giữ vững. Quân Nguyễn rút không phá nổi.

Ông được thưởng Kim bài hai mặt, được thăng tước quận công. Mấy tháng sau ốm mất trong quân. Chúa cho khâm liệm điféi về quê an táng, trích ba nghìn quan và dân hai xã để thờ cúng, truy tặng Đề Đốc Quận Công, ban tên thụy Mỹ Đoạn, con còn bé được nhà nước nuôi dưỡng.

Đời thứ hai bốn: NGUYỄN ĐỊCH NGẠN (Ngạn (Hộ) Lộc Hầu)

Ông là con thứ 2 Nguyễn Địch Thanh (không rõ tên húy), ông được phong - Hộ Lộc Hầu. Ông sinh hai trai: Nguyễn Đăng, Nguyễn Đáo.

Đời thứ hai bốn: NGUYỄN ĐỊCH NGHIÊM

Ông là con thứ ba của Nguyễn Địch Thanh. Ông được phong Nghiêm Lộc Hầu, ông sinh ba trai (vô khảo).

Đời thứ hai lảm: NGUYỄN ĐỊCH THUẬT

Ông là con trưởng Nguyễn Địch Tường. Cha mất trong đơn vị, ông được nhà nước nuôi từ 9 tuổi, ông luyện tập cung kiếm, cưỡi ngựa múa đao rất giỏi, theo hầu chúa Hy Tông đánh giặc, sau hy sinh được phong Thuần Lộc Hầu và đưa về quê chôn cất, táng tại xứ Khu Phùng, Thanh Ba. Ông sinh 8 trai: 1) Phúc Lĩnh Hầu Nguyễn Địch Đăng; 2) Thể Lĩnh Hầu Nguyễn Hội; 3) Cơ Lĩnh Hầu Nguyễn Thiện; 4) Cần Lĩnh Hầu Nguyễn Tài; 5) Đoái Lĩnh Hầu Nguyễn Quĩ; 6) Khoan Lĩnh Hầu Nguyễn Khiêm; 7) Phần Liễn Hầu Nguyễn La; 8) Thiên Quận Công Nguyễn Thự. Ông được phong: Kiệt Tướng Quâh, Ky Hiệu Úy gia tặng Đô Chỉ Huy Sứ Hội Đô Đốc Phủ Tả Đô Đốc Thuần Lĩnh Hầu, tự Ôn Nhã, thụy Nghệ Trí, giỗ ngày mồng 6 tháng 6.

Tổ bà: BÙI THỊ TỪ ĐỨC

Được phong quận phu nhân, thụy là Thụy Nguyên giỗ ngày 29 tháng 3, táng tại xã Phương Lĩnh, sinh 4 trai, 4 gái.

Tổ bà á thất: TRẦN THỊ TỪ KHIẾT

Bà quê xã Nga Phú huyện Hoa Khê (Cẩm Khê), giỗ ngày 20 tháng giêng.

Đời thứ hai lăm: NGUYỄN ĐỊCH DUNG

Ong là con thứ hai của Nguyễn Địch Tường. Cha chết trong quân, ông được nhà nước nuôi từ bé, luyện tập võ nghệ các môn đều giỏi, lúc đầu chỉ huy thị vệ sau làm Hữu Hiệu Điểm Hữu Thủy Cơ Đội Thủy Vệ, mất lúc hơn 40 tuổi, giỗ ngày mồng 2 tháng 6, mộ táng tại xứ Khu Liêu.

Tổ bà: LÊ THỊ NỮU HẠNH

Bà người xã Vũ Cầu, giỗ ngày 14 tháng 4, mộ táng tại xứ Khu Mỗ, xã Ngự Khê. Ông và bà sinh 2 trai: Nguyễn Kiều, Nguyễn Vĩnh.

Đời thứ hai sáu: NGUYỄN ĐỊCH ĐĂNG

Ông là con Nguyễn Địch Thuật. Từ bé gia đình dạy võ nghệ thông thạo. 15 tuổi nhân có sứ Tàu sang, chúa Hy tổ cho ông đến biểu diễn bắn cung được xếp hạng nhất, 16 tuổi thi đậu võ cử Khôi Nguyên được đưa vào đội Lệ Nhưng thị vệ. Năm Canh Thân (1680) giặc nổi nhiều nơi, chúa Trịnh Ân Vương giao ông đưa quân Tiền tiệp dẹp giặc ờ Thanh Ba và Hoa Khê, bắt sống giặc “Cự” quét sạch một vùng, được giao chỉ huy một đội của cơ Kiệu Khê thuyền. Khi đánh giặc ở Kinh Bắc, Sơn Nam, Phủ chúa thân chinh sai ông đốc lĩnh tiền đội, trận nào cũng thắng, được ban thưởng ngân bài hai mặt (một loại huân chương) và thăng chức Tham đốc Thiên quản trung đội. Năm Đinh Sửu (1757) đời cảnh Hưng, con trai ông đậu tạo sĩ (tiến sĩ võ) được vào quân đội. Năm Bính Tuất (1706), con ông được bổ nhiệm Trấn thủ Sơn Tây. 65 tuổi ông về hưu, mất ngày 25 tháng 7, táng tại xã Vũ Cầu được thờ làm hậu thần. Được truy ban: Giáo Thụ Võ Nghệ Quang Tiến Trấn Quốc Thượng Tướng Quân Quân Trung Đô Đốc Phủ Tả Đô Đốc, Trí sĩ được phong tặng Thái Bảo Phúc Lĩnh Hầu tự Vi Lương, ngày 19 tháng 6 được tế làm hậu thần ở xã Vũ Cầu và xã Thổ Khối. Ông sinh một con Tôn Lĩnh Hầu Nguyễn Hữu Bàn.

Tổ bà: TRỊNH QUÍ THỊ

Bà người xã Phù Lỗ huyện Trùng Hoa, giỗ ngày mùng 1 tháng 6.

TỔ bà á thất: PHƯƠNG QUÍ THỊ

Bà người xã Bình Sở huyện Từ Liêm, giỗ ngày 16 tháng 6.

Đời thứ hai sáu: NGUYỄN ĐỊCH TẶNG

Ông là con thứ hai Nguyễn Địch Thuật. Khôi ngô tuấn tú, tài thao lược hơn người, tinh thông võ nghệ, ky binh, bộ binh đều giỏi, thi võ cử trúng thí, chỉ huy thị vệ, mỗi lần thi tài đều thắng, thi hội trúng tạo sĩ được giao chỉ huy đội Hữu Tiệp trụ, được ban hai Kim ngân trung thị vệ rồi chuyển sang chỉ huy đội Trung Trạch nhất thuyền và Trung Trạch tả nãi. Sau vì dung túng quân sĩ làm bậy quấy nhiễu dân nên bị cách chức về nhà mở trường dạy võ. Ông được ban Đồng Tạo sĩ khoa Quí Sửu (1733), Thị Uy Tướng Quân Kỵ Vũ úy Thể Lĩnh Hầu, tự Thông Đạt, thụy Dũng Lược, giỗ ngày 14 tháng 4.

TỔ bà: CHU THỊ TỪ HẠNH

Bà quê Khúc Mộ Nhuận, huyện Yên Lập, giỗ ngày mồng

6        tháng 2, sinh một trai Hoa Lĩnh Hầu Nguyễn Địch Nhượng và một gái.

Đời thứ hai sáu: NGUYỄN ĐỊCH THANG

Ông là con thứ ba Nguyễn Địch Thuật. Chức chánh đội trưởng tước Cơ Lĩnh Bá, tự Đôn Tổ, giỗ ngày mồng 2 tháng 8. Làm chánh đội trưởng, chết lúc 21 tuổi.

Tổ bà: NGUYỄN THỊ UYÊN

Giỗ ngày 12 tháng 3, sinh 1 con Nguyễn Địch Lịch.

Đời thứ hai sáu: NGUYỄN ĐỊCH QUYÊN

Ong là con thứ tư của Nguyễn Địch Thuật, ông học võ từ bé với cha. Năm Nhâm Dần (1662), chúa Hy Tổ Nhân Vương chọn thị vệ, ông được chọn vào đội Thị Nhưng. Năm Kỷ Dậu (1729) thi võ cử trung tuyển bổ nhiệm vào Thắng Cự đội. Năm Giáp Dần (1734), có sứ Trung Quốc, chúa cho biểu diễn võ nghệ, ông đạt thành tích cao được ban hai đóa hồng, được thăng chức. Năm Canh Thân (1740), ông theo chúa đánh giặc ở Sơn Nam bắt được 2 tướng giặc, được thăng chức hai lần, rồi theo đánh giặc ở đạo Thanh Lam bắt được tướng giặc lại được thăng chức. Sau nhiều trận thắng tiếp theo, ông được chỉ huy các đội thị hậu, được cử chỉ huy các đội thuyền tuần phòng Hải Dương, Yên Quảng. Sau vì có cha già nên xin về làm Tiền đội phủ nhà. Ông thọ 73 tuổi, được tặng Đô Đốc Kiểm Sư. Ông được truy tặng: Võ Huân Tướng Quân, Điện Tiền Đô Hiệu Điểm Ty, Tả Hiệu Điểm, được phong tặng Đô Đốc Phủ Đô Kiểm Sự Cẩn Lĩnh Hầu tự Văn Minh Thông Nhã, sau được vua ban thụy Tráng Dũng.

TỔ bà: TRỊNH DIỆU DƯNG

Bà quê ở xã Phủ Lỗ huyện cẩm Hoa, giỗ ngày 7 tháng 3.

TỔ bà á thất: NGUYỄN THỊ THIÊN

Bà người làng Trà Lũ huyện Giao Thủy phủ Xuân Trường (Nam Định), giỗ ngày 12 tháng 12, tên thụy là Từ Thuận.

Tổ bà ó thất: NGHIÊM TƯ NHAN

Bà người làng Trung Thụy huyện Đan Phượng, giỗ ngày 17 tháng 12.

TỔ bà trắc thất: ĐOÀN TỪ NGHIÊM

Bà người làng Trung Thụy huyện Đan Phượng, giỗ ngày...

TỔ bà tòng thất: BẠCH PHƯƠNG DUNG

Bà là vợ lẽ, giỗ ngày 21 tháng 2.

Đời thứ hai sáu: NGUYỄN ĐỊCH NGUY

Ông là con thứ năm của Nguyễn Địch Thuật, ông có trình độ võ nghệ cao, phục vụ trong đội thị mã rồi trong đội kiệu. Năm Quí Sửu (1673) thi Bác cử đỗ đồng tạo sĩ, chỉ huy ưu binh được ban tước hầu thăng dần lên Tuần thủ Kinh Bắc. Năm Canh Thìn (1680), loạn lạc nhiều nơi, được lệnh đánh dẹp, bị vu khống, nên bị giáng chức, sau có công lại được thăng Tiên Phong tướng quân, được một năm bị giặc ám hại, tặng hàm nhị phẩm, được ban Đồng Tạo Sĩ khoa Quí Sửu, phụng sai đốc lĩnh các đạo chính thủ hiệu Cai Cơ viên, ban Giáo Thụ Vũ Trường Vũ Huân tướng quân Thân Vũ Tứ Vệ Quân Quân Sự Vụ, Tham Đốc Phòng tặng Hữu Hiệu Điểm Đoái Lĩnh Hậu. Giỗ ngày 25 tháng 12 táng tại xã Hoán Lộc, huyện Hoa Khê.

Tổ bà: TRẦN THỊ NGUYÊN

Bà người xã Yên Lạc, huyện Đông Thành, sinh 3 trai: Phương Lĩnh Hầu Nguyễn Kỳ; Nguyễn Cầu; Mai Lĩnh Hầu Nguyễn Tự.

Ông là con thứ sáu của Nguyễn Địch Thuật. Tính khoan hòa nhân ái, đôn hậu, kiệm cần, võ nghệ gia truyền, học lực ưu việt đi thi được chọn làm Thị Vệ Thân Quân, được phong: Quả Cảm Tướng Quân Tùy Hiệu Hữu Hùng Cơ Chính Vũ tước Tổng Tri Liêm Lĩnh Ba, sinh ba trai: Niêm, Thọ, Quyền.

Đời thứ hai sáu: NGUYỄN ĐỊCH LA

Ông là con nuôi Nguyễn Địch Thuật. Ông được phong: Điện Tiền Vũ Huân Tướng Quân Thần Vũ Tứ Vệ Nội Sự Tham Đốc Phần Lĩnh Hầu.

Đời thứ hai mốt: NGUYỄN HỰU

Ông là con thứ tư của Nguyễn Văn Lữ, được phong là Thọ Dương Hầu, lấy vợ ở Liễu Ngạn, huyện Siêu Loại (Thuận Thành - Bắc Ninh). Ông Hựu để di mệnh cho con là Nguyễn Xiển tự là Thanh Hà đến cư trú ở quê ngoại là làng Liễu Ngạn và sinh con lấy tên đệm là Gia: Nguyễn Gia, để con cháu nhớ đến gốc Gia Miêu Ngoại Trang (Tống Sơn - Hà Trung - Thanh Hóa). Dòng họ Nguyễn Gia bắt đầu từ đấy. Chính dòng họ Nguyễn Gia Liễu Ngạn đã viết cuốn gia phả bắt đầu từ Nguyễn Bặc, trong đó ghi rất kỹ về đại chi Nguyễn Công (Văn) Lỗ, thủy tổ của đại chi này.

Ông là cháu đời thứ 10 của Nguyễn Văn Lữ, giữ chức Đô Đốc Phủ Tổng Binh Đồng Tri, tước Ôn Như Hầu. Là một vị tướng, ông đồng thời là một nhà thơ. Ông là tác giả của cuốn Cung oán ngâm khúc.

Muốn nghiên cứu kỹ xin xem Liễu ngạn Nguyễn Gia thế hệ đồ phả.

6 - Các vi tổ thuôc đai chi Nguyễn Văn Lề

Chưa có tư liệu để ghi thêm.

7 - Các vi tổ thuôc đai chi Nguyễn Bá Cao vào Đàng trong

Ngoài một số hậu duệ ở Bắc Hà, đại chi này có một số hậu duệ vào Nam theo Đoan Quốc Công Nguyễn Hoàng.

Đời thứ hai hai: NGUYÊN LlỄu

Ồng là con của Nguyễn Hiếu, năm Canh Thân (1560) ông cùng em đưa gia đình vào Nam theo Đoan Quốc Công được đi chiêu dân lập ấp ở Bích Trâm (Điện Bàn, Quảng Nam). Nay có một chi họ Nguyễn Khắc đông đúc ở đấy. Ông được phong Tiên Hiền Tán Lý Lộc Quận Công, được thờ làm thành hoàng làng Bích Trâm.

Ông là con của Nguyễn Hiếu. Năm Canh Ngọ (1560) ông cùng anh là Nguyễn Liễu vào Nam, ông lập ấp Hà Khúc (nay là Hà Đông - Điện Hòa - Điện Bàn, Quảng Nam). Ông có tên thụy là Phúc Niệm, tên tự là Chánh Tâm. Vì có công lập ấp, ông được phong là Đặc Tiến Thượng Tấn Quân, Thuận Hóa Vệ Tổng Tri Hiệu, Khám Lý Nghiêm Lễ Hầu, truy tặng Bàng Quận Công, được thờ làm Thành hoàng ở thôn. Ông sinh ba trai: Thanh Vân, Thanh Đô, Thanh Trường.

Đời thứ hai hai: NGUYỄN DI

Ông là con Nguyễn Bá Dương, dưới triều Lê, ông đồn trú ở Thuận Hóa, tước Thuận Nghĩa Hầu. Giỗ ngày 18 tháng 7, thụy là Trung Nghi, mộ táng tại xứ Vĩnh Nê, Ông Chưởng.

Tổ bà: MAI THỊ NGỌC NÔNG

Bà được phong là Thuận Quận Công phu nhân, mất ngày 3 tháng 8, thụy là Từ Ân, sinh 8 trai 4 gái. 8 trai là: Nguyễn Thạc, Nguyễn Quảng, Nguyễn Trí, Nguyễn cẩn, Nguyễn Mậu, Nguyễn Trạch, Nguyễn Phò, Nguyễn Bái.

4 gái là: Nguyễn Thị... Lương Quận công phu nhân, sinh hai trai một gái. Con trai là Khai Quốc Công Thần Tĩnh Quốc Công Nguyễn Hữu Dật;

Nguyễn Thị... Phong Quận công phu nhân;

Nguyễn Thị... Đức Quận Công phu nhân;

Nguyễn Thị... không có tước.

X- Đời thứ hai ba: NGUYỄN THẠC

Ông là con cả của Nguyễn Di. Ông giữ chức Điện Tiền Đô Hiệu Điểm tước Triều Quận Công dưới triều Lê ở Đàng Ngoài

Đời thứ hai ba: NGUYỄN QUẢNG

Ông là con thứ hai của Nguyễn Di, ông giữ chức Đặc Tiến Phụ Quốc Thượng Tướng Quân Điện Tiền Đô Hiệu Điểm tước Quảng Quận Công. Ông làm quan triều Lê, nhiều lần lập công, mất ngày 5 tháng 6, được ban tên thụy là Đạo Tín.

Tổ bà: QUANG QUẬN PHU NHÃN, thụy Từ Tâm mất ngày 14 tháng 7.

Ong sinh 9 trai: 1) Cửu Kiều (thủy tổ của dòng họ Nguyễn Cửu); 2) Nguyễn Hoằng; 5) Nguyễn Mậu; còn 6 người vô khảo.

Đời thứ hai ba: NGUYẺN TRÍ

Ong là con thứ ba của Nguyễn Di. Ong làm cai đội tước Trí Thắng Hầu (cai đội là chỉ huy một đội).

Đời thứ hai ba: NGUYỄN CẨN

Ông là con thứ tư của Nguyễn Di. Ông làm cai cơ tước Cẩn Liệt Hầu (cai cơ là chỉ huy một cơ lớn hơn đội).

Đời thứ hai ba: NGUYỄN MẬU

Ông là con thứ năm của Nguyễn Di (vô khảo).

Đời thứ hai ba: NGUYỄN TRẠCH

Ông là con thứ sáu của Nguyễn Di (vô khảo).

Đời thứ hai ba: NGUYỄN PHÒ

Ông là con thứ bảy của Nguyễn Di. Ông làm đội trưởng tước Phò Trung Hầu.

Đời thứ hai ba: NGUYỄN BÁI

Ông là con thứ tám của Nguyễn Di. Ông giữ chức cai cơ tước Bái Võng Hầu.

Đời thứ hai bốn: NGUYỄN CỬU KlỂU

(Thủy tổ của chi họ Nguyễn Cửu)

Ông là con cả của Nguyễn Quảng, hậu duệ đời thứ 5 của Nguyễn Bá Cao. Ông sinh ngày 18 tháng giêng năm Kỷ Hợi (1599). Ông làm quan dưới triều Trịnh Tráng, thấy chúa át quyền vua, lòng không phục muốn vào Đàng Trong. Năm Quí Hợi (1623) nhận mật thư và bảo ấn do chánh phi chúa Trịnh Tráng là Nguyễn Ngọc Tú (chị của chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên giao), ông từ Thăng Long, giả là người đi chọi gà vào Nam. Chúa Trịnh biết cho người đuổi theo.

Tương truyền, đến sông Gianh, không có thuyền, lính bên Trịnh đuổi gần đến, ông khấn: “Sông có thiêng thì giúp ta qua sông đừng để giặc bắt. ” Bỗng thấy một con trâu, ông cưỡi lên và trâu đưa sang sông. Lên đến bờ không thấy trâu đâu nữa. Đến Quảng Bình, ông gặp Nguyễn Hữu Dật, đốc chiến Nam quân, anh em cô cậu với ông. Bà Nguyễn Thị Lương Quận phu nhân, mẹ Nguyễn Hữu Dật tức vợ Nguyễn Hữu Triều (Triều Văn Hầu) là chị của Nguyễn Quảng (cha của Nguyễn Cửu Kiều). Dật tiến cử Kiều với chúa Sãi. Chúa cho làm đội trưởng, quản Mã cơ thuyền, sau thăng cai đội Trung đạo thuyền rồi gả công chúa thứ ba là Ngọc Đỉnh cho ông, thăng chức Chưởng Cơ. Năm Quí Dậu (1633) sai làm trấn thủ Quảng Bình, ông vỗ về dân chúng được dân kính phục. Ông đóng cọc ở cửa Nhật Lệ để chặn quân Trịnh rồi nhân Trịnh sơ hở cho quân đột nhập đánh tan chúng. Năm Canh Thìn (1640), tướng Bắc Hà Nguyễn Khắc Loát (gia phả ghi Nguyễn Khắc Tước) đã hàng nay lại làm phản; ông cùng trấn thủ BỐ Chánh Trương Phúc Phần đánh úp. Tướng Bắc bổ chạy và bị chúa Trịnh giết.

Năm Mậu Tý (1648), dưới thời chúa Nguyễn Phúc Lan, Trịnh cử đại binh đánh Nguyễn chiếm Bố Chánh, tiến đến Võ Xã uy hiếp Quảng Bình. Ông dựa vào Lũy Thầy để chống lại. Tiêt chê Nguyễn Hữu Tiến và đốc chiến Nguyễn Hữu Dật đem đại quân phản công thu toàn thắng. Ông được thăng Chưởng Dinh nắm quân túc vệ.

Năm Nhâm Thìn (1652), ông chấp hành mật lệnh của chúa Hiền Nguyễn Phúc Tần giết Thị Thừct quê ờ Nghệ An, một cung phi rất đẹp được chúa rất yêu nhưng sau khi đọc 

chuyện mỹ nhân kế Tây Thi và Ngô Phù Sai, chúa cảnh giác nên bí mật giao việc giết cho ông.

Năm Ât Mùi (1655), quân Nguyễn mở cuộc tiến công với lực lượng lớn ra Bắc. Tiết chế Nguyễn Hữu Tiến, Đốc chiến Nguyễn Hữu Dật chia quân 5 đạo. Tháng 2 ông Cửu Kiều chỉ huy hạ đạo, đem thủy quân cùng tiến công, chiếm hạ Nghệ An (tức Hà Tĩnh); tiếp đó năm Bính Thân (1656), ông đưa thủy binh tiến đến Đơn Nha (cửa Hội Thống). Trong lúc bộ binh tiến đến bờ nam sông Lam, cánh quân Nguyễn tiến quân theo đường núi bị quân Trịnh phẫn công mạnh nên bị thất bại. Ông đuầ quân ứhg cứu, cố đánh mạnh, giết hai tướng giặc nhiữig ông cũng bị thương nặng, đưa về đến Quảng Bình thì mất, thọ 58 tuổi. Ngày mất là 25 tháng 5 năm Bính Thìn (1656). Mộ táng tại Bạch Thạch, Phương Sơn huyện Phú Vinh (nay là Phú Lộc Thừa Thiên). Ông được tặng: Đặc Tiến Phụ quốc Thượng Tướng Quân Đô Đốc Phủ Tả Quân Đô Đốc Nghĩa Quận Công, thụy Liêm Cần, chúa cho lập đền thờ ở xã Dương Xuân, Thạch Cơ (tục danh là Ghềnh Đá). Tục lệ khi tế không giết trâu, cấm con cháu không ăn thịt trâu. Năm Minh Mạng nguyên niên (1820) vua ban cho dòng họ ông được lót chữ Cửu. Dòng họ Nguyễn cửu được hình thành từ ông.

TỔ bà chánh thất: NGUYỄN THỊ NGỌC ĐỈNH

Bà là con gái thứ tư của chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên và bà Nguyễn Thị Bá Giai. Bà sinh ngày 20 tháng 2 năm Mậu Thân (1608). Phả ghi từ bé bà đã nết hạnh đoan trang. Bà mất giờ sửu ngày 16 tháng 11 thọ 77 tuổi, táng ở núi Bạch Thạch phía dưới mộ ông.

Tổ bà nguyên phối: NGHĨA A QUẬN TỊNH PHU NHÂN

Bà quê ở Gia Miêu ngoại trang, vốn là vợ được cưới đầu tiên của ông. Nhưng sau do có công, ông được gả công chúa, nên bà nhường công chúa làm vợ chánh phối và con trai bà sinh ra đầu tiên cùng chịu xếp vào hàng con thứ 6 và 7. Ông và bà sinh 7 trai là: Nguyễn Cửu Thiên, Nguyễn Cửu Duyên, Nguyễn Cửu ứng, Nguyễn Cửu Kế, Nguyễn Cửu Thân, Nguyễn Cửu Ngưu, Nguyễn Cửu Sáng.

3 gái là: Nguyễn (Cửu) Thị Hồng lấy chồng Cai cơ Xuân, Nguyễn (Cửu) Thị Tân lấy chồng Cai cơ Ân, Nguyễn (Cửu) Thị Ngọc lấy chồng Cai cơ Vinh.

Đời thứ hai nhăm: NGUYỄN CỬU THIÊN

Ong là con cả của Nguyễn cửu Kiều. Ông làm tham tướng chưởng cơ tước Vị Xuyên Hầu, mất ngày 30 tháng 1, thụy là Mẫu Trực, sinh 3 trai: Vạn, Tấn, Hùng và 1 gái là Thị Mại.

Đời thứ hai nhăm: NGUYỄN CỬU DUYÊN

Ong là con thứ hai của Nguyễn Cửu Kiều, ông làm nội đội trưởng, tước Duyên Lộc Hầu, sinh một trai là Phú.

Đời thứ hai nhăm: NGUYỄN CỬU ỨNG

Ông là con trai thứ ba của Nguyễn Cửu Kiều. Ông sinh giờ Tuất ngày 12 tháng 6 năm Giáp Tuất (1634). Lúc đầu giữ chức cai cơ ở Tả Trung kiện cơ, giỏi bắn đại bác, sau thăng Thống suất lưu đồn tại Võ Xá (Quảng Bình). Vì có con là Cửu Ta phạm pháp, ông bị giáng về xã Cao Đôi huyện Phú Vinh (Phú Lộc) cày ruộng, đánh cá, mở ra đất Bàu Tràm. Năm Nhâm Thân (1692), ông được phục chức làm trấn thủ dinh Quảng Bình, chiêu mộ dân lập thành ấp, được dân mến phục, nay là hai ấp Trung Kiên và Thắng Trụ của Quảng Trị. Ông mất giờ Tuất ngày 27 tháng 8 năm Ất Dậu (1705), thọ 72 tuổi. Mộ táng tại xứ Già Bạn xã Như Lệ huyện Đăng Xương (nay là huyện Hải

Lăng Quảng Trị), thụy   Nhớ ơn ông dân ấp Trung Kiên lập

đền thờ. Ông được tặng: Trấn Phủ Chưởng Dinh tặng Khiêm Cung Công Thần Đặc Tiến Phụ Quốc Thượng Tướng Quân Tả Quân Đô Đốc Phủ Chưởng Phủ Sự Trấn Quận Công.

TỔ bà chánh thất: CHÂU THỊ TRƯYỂN

Bà là vợ cả, không con, mất ngày 15 tháng 12, thụy là Từ Huệ, được phong Trấn quận phu nhân.

TỔ bà thứ thất: ĐẶNG THỊ VÕNG

Bà có pháp danh Diệu Thành, sinh ngày 4 tháng 1 năm Tân Ty, niên hiệu Dương Hòa thứ bảy, đời Lê Thần Tông, mất ngày 14 tháng 12 năm Tân Ty, niên hiệu Chính Hòa 24 đời Lê Hy Tông, thụy là Từ Triết, táng tại xứ Già Hiệp tọa Tốn, hướng Càn kiêm Thìn Tuất, sinh 7 trai: Quế, Quyền, Thế, Ta Cô, Nay, Hài. Bốn gái là: Thị Hạnh lấy chồng Chưởng cơ Lý; Thị Ái lấy chồng cai cơ Tuấn; Thị Cơ lấy chồng cai đội Hùng; Thị Nghiệp lấy chồng cai cơ Tá.

Ông là con thứ tư của Nguyễn cửu Kiều, được phong là Trấn Thủ Chưởng Dinh Đặc Tiến Phụ Quốc Thượng Tướng Quân Cẩm Y Vệ Đô Chỉ Huy Sứ tước Dực Đức Hầu, mất ngày 20 tháng 6, thụy Chất Trực, táng tại xứ Cồn Bà làng Như Lệ (Quảng Trị), tọa Đinh, hướng Quý, kiêm Tý Ngọ.

Ông sinh một trai tên Hành và 2 gái: Nguyễn Thị Lượng lấy chồng làm Cai Bạ (Bố Chánh) Tá, Nguyễn Thị Quyên lấy chồng cai đội Ân.

Đời thứ hai nhăm: NGUYỄN CỬU THẢN

Ông là con thứ năm cửa Nguyễn Cửu Kiều, sinh năm Canh Thìn (1640), mất ngày 29 tháng 6 năm Mậu Dần (1698) thọ 59 tuổi, thụy là Thuần Trực, mộ táng tại làng Lương Điền đông, xứ Bàn Tẩu (Phú Lộc - Thừa Thiên) mộ tọa Khôn hướng Cấn, giữ chức chưởng cơ được tặng Đặc Tiến Phụ Quốc Thượng Tướng Quân cẩm Y Vệ Đô Chỉ Huy Sứ, tước cẩm Long Hầu. Ông sinh 6 trai: Tào, Phê, Hội, Chế, Chiêu, Nguyên.

9 gái là: Châu sung vào cung Tả Hành Lang; Thị Ngọc lấy cai cơ Vinh; Thị Nhâm sung vào cung Hữu Hành Lang; Thị Luật lấy Tham tướng Ân; Thị Mẫn lấy đội trưởng Tráng; Thị Phi lấy cai cơ Lễ; Thị Thảo lấy cai cơ Thuận; Thị Di lấy cai cơ Định; Diệu.

Ông vốn là con trưởng của Nguyễn Cửu Kiều và bà nguyên phối, sau xếp thành con thứ sáu, mất ngày 17 tháng 7, táng tại Cự Chanh, năm Đinh Mùi (1847), đời Thiệu Trị cải táng về bên phải mộ Nguyễn Cửu Kiều. Ông làm cai đội tước Tây Xuyên Hầu sinh 3 trai: Thiêm, Ân, Phan và 1 gái: Thị Dương lấy con trai Đạt Quận Công.

Đời thứ hai nhăm: NGUYỄN CỬU SÁNG

Ông là con thứ bảy của Cửa Kiều (vô hậu).

ÍỊÍ

Trong số 7 con của Nguyễn Cửu Kiều trừ một người vô hậu còn 6 người hình thành 6 chi. Gia phả họ Nguyễn Cửu ghi khá đầy đủ trên 300 vị của dòng họ. Chính sử có ghi tên một số người có công như: Nguyễn Cửu Thế, Nguyễn Cửu Vân, Nguyễn Cửu Chiêm, Nguyễn Cửu Đàm, Nguyễn Cửu Pháp, Nguyễn Cửu Dật, Nguyễn Cửu Tuân, Nguyễn cửu Hanh, Nguyễn Cửu Phong...

8 - Các vi tổ thuôc đai chi Nguyễn Phúc Thiên (Linh Đường, Thanh Trí, Hà Nôi)

Phả đại chi Linh Đường đã chắp nối được với phả Đại Tông. Thủy tổ Phúc Thiện thuộc dòng Nguyễn Tài Nông (con Nguyễn Uông); Nguyễn Tài Nông là đời thứ 23 sinh Nguyễn Hưông

Phúc đời thứ 24 tức Phúc Lành (ở phố Nối, Yên Mỹ, Hưng Yên). Hưởng Phúc sinh Nguyễn Liễu Nghi đời thứ 25, Liễu Nghi sinh Nguyễn Phúc Thiện đời thứ 26. xếp làm một đại chi để tiện phân biệt với dòng họ Nguyễn khác. Thực ra đại chi này là ngành thứ 5 của dòng tổ Phúc Lành (cháu Nguyễn Uông).

Đời thứ hai sáu: NGUYỄN PHÚC THIỆN

Phúc Thiện là tên tự, có phả ghi là Phúc Nghị, không rõ tên húy. Ông chạy loạn về mai danh ẩn tích ở Linh Đường, nhà rất nghèo, khi ông mất được con gánh ra nghĩa trang chôn vào đêm tối, trời nổi giông tố, con cháu đặt ở một đám đất để đi tránh mưa. Trời vừa sáng, tạnh mưa, con cháu ra chôn thì thấy mối đùn kín. Ông đã được thiên táng. Giỗ ngày 13 tháng 8, mộ táng tại xứ Đồng Mô, xă Linh Đường hướng mộ tọa Nhâm hướng Bính. Sau có chút gái (hậu duệ đời thứ 5) là Thánh Mẫu (mẹ chúa Trịnh Sâm), nên ông được truy phong: Kiểm Sự Đô Đốc Cao Quận Công. Ông là thủy tổ của dòng họ Linh Đường.

TỔ bà: NGUYỄN THỊ TỪ DUYÊN

Từ Duyên là tên hiệu, không rõ tên húy, mất ngày 4 tháng 5, mộ táng tại xứ Đồng Mô, được truy phong Quận phu nhân. Ông bà sinh Nguyễn Đình Phát.

Đời thứ hai bảy: NGUYỄN ĐÌNH PHÁT (Thu)

Ong là con Nguyễn Phúc Thiện. Ông có tên tự là Phúc Đức, còn tên tự là Thu. Ông mất ngày 3 tháng 9, tên thụy là

Đôn Hậu, mộ táng tại xứ Đồng Mô tọa Nhâm, hướng Bính; vì có chắt là Thánh Mẫu (mẹ chúa Trịnh Sâm) nên ông được truy phong: Đặc Tiến Phụ Quốc Thượng Tướng Quân Thiếu Bảo gia phong Thái Bảo Thu Quận Công.

TỔ bà: NGUYỄN THỊ PHÁP

Bà tên tự là Thanh, hiệu là Từ Tuyên, tên thụy là Huệ Phương, mất ngày 6 tháng 10, mộ táng tại xứ Lăng Đá ở xã Linh Đường, Bà được truy phong là Chính phu nhân, sau gia phong Quận phu nhân.

Đời thứ hai tám: NGUYỄN TRỌNG THAM

Ông là con của Nguyễn Đình Phát. Tên tự là Tương, còn tên hiệu là Đôn Địch, tên thụy là Thuần Tín. Ông sinh năm Quí Mão (1663), mất ngày 11 tháng 11 năm Mậu Thìn (1688), mộ táng tại xứ Ngọ Quân xã Linh Đường. Ông được truy phong là Đặc Tiến Phụ Quốc Thượng Tướng Quân Thái Phó, sau được gia phong Thái Tể Mai Quận Công.

Tổ bà: NGUYỄN THỊ BÁO

Tên hiệu là Từ Nghi, tên thụy là Trinh Liệt, sinh ngày 4 tháng 11 năm Ât Ty (1665), mất ngày 9 tháng 11 năm Bính Thìn (1736) thọ 72 tuổi, táng tại xứ Cây Lời. Bà được phong Nghi Nhân, truy tặng Trinh Nhân, gia phong Quận phu nhân.

Đời thứ hai chín: NGUYỄN VĂN LUÂN

Ông là con của Nguyễn Trọng Thắm. Tên tự là Tư, còn húy là Phảm, tên thụy là Đôn Nhã. Ông sinh giờ Tý ngày 14 tháng 6 năm Bính Dần (1686). Là người rất thông minh, thi một lần đậu Giải Nguyên. Sau đỗ tiến sĩ khoa Hoành từ, làm thị nội văn chức dưới triều chúa Hy Tổ và chúa Dụ Tổ, làm tròn nhiều chỉ lệnh của trên ở chốn màn trướng (Bộ chỉ huy), đã giữ chức Lang Trung Thống Chính Sứ Bộ Binh, rồi các chức Thiêm Tri Binh Phiên (tức thứ trưởng Bộ binh của Phủ chúa), Phó Tri Hình Phiên (bộ) và Công Phiên (bộ) kiêm quản lực các đội Hữư, Tiền, Tả (thị vệ).

Năm Bính Ngọ (1726), phụng mệnh dạy học cho chúa trong 10 năm, dạy rất tốt, được phong tước Quang Lộc Tự Khanh rồi chuyển sang chức Thiêm Sai Hộ Phiên (bộ) ở phủ chúa, tước Thiên Hầu, làm việc chăm chỉ, khiêm tốn, tiết kiệm, rộng rãi khi xử kiện tụng tù tội, trong 6 năm, trong triều ai cũng phục tài năng.

Ông còn dạy học cho vua Y Tông khi còn bé và được giao chăm sóc cháu ngoại là Trịnh Sâm khi mới sinh, tức giữ chức Á Phủ Bảo Dưỡng. Ông mất giờ Tỵ ngày 27 tháng 12 năm Kỷ Mùi (1739) thọ 53 tuổi. Chúa Trịnh Doanh phong ông là Sư Phó, đặc tặng Tả Ty Giảng Bồi Tụng, Công Bộ Thượng Thư Nam Quận Công. Cháu ngoại ông là chúa Trịnh Sâm thăng A Bảo Tá Lý Công Thần, ban cấp Trung Đẳng Thần, gia phong Đại Vương lập nhà thờ ở thôn Linh Đường. Năm Bính Tuất (1776) gia phong Thượng Đẳng Phúc thần Đại Vương, ban 20 lạng bạch kim để cúng giỗ.

Năm Đinh Hợi (1767) chúa Trịnh Sâm về Linh Đường làm lễ tê ông ngoại, truy phong ông là Đại Tư Đồ Triệu Khánh Công, lập đền thờ cả ông bà ở Thăng Long.

Tổ bà: TRẦN THỊ KHUÊ

Bà sinh năm Giáp Tý (1684). Là người chăm chỉ, hiền lành, hòa nhã, đức độ. Mất tháng 7 năm Tân Mùi (1761) thọ 68 tuổi được tặng Phu nhân - Trịnh Sâm tặng phong Đại phu nhân.

Ông bà sinh 4 trai, 3 gái. 4 trai là: Bá Liêu, Trọng Thản, Đình Quyền, Trọng Viêm.

3 gái là: Con gái trưởng là Nguyễn Thị Tuân, Đại Súy Quận phu nhân.

Con gái thứ hai là Nguyễn Thị Ngọc Diễm (tự Khương), Quốc Thánh Mẫu sinh ra chúa Trịnh Sâm (sẽ nói ở sau).

Con gái út là Nguyễn Thị Diệu, Quận phu nhân.

Bốn con trai là tổ của 4 chi lớn Giáp, At, Bính, Đinh.

Đời thứ ba mươi: NGUYỄN BÁ LIÊU

Ông là con cả của Nguyễn Văn Luân (Tư), ông làm Đồng tri Bộ chỉ huy đội thị mã, được tặng phong là Đô Đốc Phủ Đô Đốc, Tín Quận Công, gia phong Anh Liệt Đại Vương. Ông là thủy tổ của chi Giáp.

Đời thứ ba mươi: NGUYỄN TRỌNG THẢN

Ông là con thứ hai của Nguyễn Văn Luân (Tư), ông làm Lang Trung Thị Nội Bộ Công, được tặng phong là Tả Đô Đốc Thức Quận Công, gia phong Ôn Mẫn Đại Vương, ông là thủy tổ của chi Ất.

Ông là con thứ ba của Nguyễn Văn Luân (Tư), còn tên húy là Đống, sinh giờ Tỵ ngày mồng 1 tháng 12 năm Đinh Dậu (1717), đã từng giữ chức Phụ Quốc Thượng Tướng Quân trưởng doanh quân của quân doanh Trung Tiệp, Tham Đốc Thiêm Sai Ngũ Phủ Quyền Phủ Sự, Hữu Hiệu Điểm, Đồng Tri Đô Đốc của Đô Đốc Phủ.

Làm quan nhất phấm nhưng lễ độ khiêm nhường, nhân từ bác ái. Tương truyền ông bảo vợ con phải cho binh lính đến làm việc được ăn uống tử tế. Ông cho xây một nhà dài đặt áo quan để cấp cho người nghèo khi chết, cấp trong mười năm liền. Ong sống liêm khiết bằng đồng lương. Tuy làm quan rất to mà không có quần áo quí, nhà không có của cải, khi chết vẫn nợ nần, chúa phải ra lệnh xá nợ. Khi sắp chết chỉ có vải thô để khâm liệm, chúa phải cấp vải vóc quí và quách sơn son. Người đời gọi ông là Phật.

Ong mất giờ ngọ ngày mồng 2 tháng 2 năm Bính Thân (1776) thọ 60 tuổi. Vua ban tên thụy là Cung Hoan. Mộ táng tại xã Định Công. Ông là tổ của chi Bính.

Chánh thất: LÊ THỊ THƯ

Bà người thôn Giáp Thất, Thịnh Liệt, con gái của Khôi Công; bà hiệu là Từ Tuyên, sinh ngày... tháng 9 năm Mậu Tuất (1718), mất ngày 28 tháng 7 năm Tân Sửu (1781) thọ 64 tuổi, tên thụy là Trinh Tiết; được phong Tịch phu nhân, gia phong Quận phu nhân, đặc ban Chính phu nhân. Bà sinh một trai là Đình Trụ, 4 gái là Thị cẩm, Thị Huy, Thị Tích. Thị Chấn.

Các thiếp sinh 2 trai: Đình Chuẩn và Đình Hiệu và 2 gái: Thị Lộ và Thị Kỷ.

Đời thứ ba mươi: NGUYỄN TRỌNG VIÊM

Ông là con thứ tư của Nguyễn Văn Luân (Tư), ông còn húy là Hàn, tự là Uyên Mẫn, hiệu là Hoành Vĩ, ông sinh ngày 16 tháng 11 năm Mậu Thân (1728), ông đỗ tam trường khoa Đinh Mão (1747), đỗ giải nguyên khoa Canh Ngọ (1750) khi 23 tuổi. Ông làm quan võ, lúc đầu làm Vũ Huân Chánh Thủ Hiệu, Thiêm Sai Ngũ Phủ Kỹ Quan, chỉ huy tổ Khuông Kỳ, Tả Hiệu Điểm của Điện Tiền Đô Hiệu Điểm Ty, Viêm Lĩnh Hầu Hộ Quân Trung Giai. Trong chiến cuộc đánh Phú Xuân của quân Trịnh; ông có công đầu công phá thành, truy kích đến cửa Tư Dung rồi tiến đánh cẩu Sa nên năm Bính Thân (1776) ông được thăng Đề đốc. Sau khi chỉ huý đánh chiếm dẻo Hải Vân, Kim Sa, Chu ổ, từ Viêm Lĩnh hầu ông được thăng tước Viêm quận công, rồi tước Vương. Năm Quí Mão (1783), ông chỉ huy quân túc vệ cùng con trai thứ ba của ông là Chiểu Hình hầu Nguyễn Trọng Chiểu hạ bệ Trịnh Cán, giết Quận Huy, tôn phò Trịnh Tông lên ngôi chúa; ông được thăng Đại Tư Không, ngày mồng 8 tháng 8 năm Quí Mão (1783), được truy thăng chức Đại Tư Mã và phong tước Đại Vương (Phúc thần): Phụ Quốc, Thượng Tướng Quân, Thượng Trụ Quốc, Hiệp Mưu Tá Lý Công Thần, Dữ Quốc Đồng Hưu, Trung Dũng Quân Doanh Trưởng Quân Doanh kiêm Quản Lĩnh Công Thần, Thị Nhưng Hầu Tích, Đại Tư Không, truy tặng Đại Tư Mã Viêm Quận Công, ban thụy Trung Lượng, Bảo Phong Tài Trí Huân Liệt Đại

Vương. Ông thọ 56 tuổi mộ táng tại xứ Lăng Đá, thôn Linh Đường. Ông là thủy tổ của chi Đinh.

Chánh thất: TRỊNH THỊ HIEN

Bà hiệu Từ Ân, người Giáp Tứ, Thịnh Liệt, con gái Hương cống Trịnh Lang Trung, sinh ngày 14 tháng 12 năm..., mất ngày 24 tháng 2 năm..., thụy là Điềm Chinh, phong tặng Quận phu nhân, cả ông bà được thờ làm hậu thần thôn Giáp Tứ.

Ông sinh 13 trai, 9 gái, 13 con trai là:

1)      Nguyễn Dĩnh Đạt mất sớm, được phong tước Quận công.

2)      Nguyễn Trọng Diệu, còn húy là Xán. Năm Bính Ngọ (1786) ông anh dũng chống quân Tây Sơn ở Thủy Ái, trúng đạn pháo, hy sinh, thi thể rơi xuống sông không tìm thấy. Tương truyền khi rời nhà ra đi, ông đến lễ tổ ở từ đường, gặp mẹ già và nói: “Nhà ta bốn đời áo mủ, ơn nước không cạn, lẩn này con ra đi duy chỉ có việc báo quốc, đã nhận lấy việc sống chết rồi, xin đến /ạy hầu từ biệt, ơnhà đã có các chị các em uà uợ yếu con thơ thay con lo việc thẩn hôn, mong mẹ già giữ gìn sức khỏe, đừng lo nghĩ quá 'nhiều uề con!”

Bà vợ là Nguyễn Thị cẩn, sau thương nhớ mà chết theo chồng. Ông hương cống Lý Trần Báu có đôi câu đối viếng như sau:

Bối thành nhi chiến, chiến nhi tử, kỷ quốc nại kỷ gia

Vị phu nhi khấp, khấp nhi vong, hữu phu hoàn hữu phụ

Tạm dịch:

Dựa thành mà đánh, đánh rồi chết, vì nước lại ƯÌ nhà

Vì chồng mà khóc, khóc rồi vong, có chồng còn có ượ.

Ông được phong Đô Tổng Binh Sứ Đô Tổng Binh Sứ Ty.

3)      Nguyễn Trọng Chiểu - Chiểu Lĩnh Hầu

4)      Nguyễn Trọng Liệu - Liệu Vũ Bá

5)      Nguyễn Trọng Trứ - Trứ Vũ Bá

6)      Nguyễn Trọng Quýnh - Quýnh Lĩnh Hầu

7)      Nguyễn Trọng Thụy - Hoằng Tín Đại Phu

8)      Nguyễn Trọng Luyện - Hoằng Tín Đại Phu

9)      Nguyễn Trọng Noãn - Hoằng Tín Đại Phu

10)    Nguyễn Trọng Lãm - Hoằng Tín Đại Phu

11)    Nguyễn Trọng Triệu - Hoằng Tín Đại Phu

12)    Nguyễn Trọng Dĩnh - Hoằng Tín Đại Phu

13)    Nguyễn Trọng Dược - Hoằng Tín Đại Phu

Đời thứ ba mươi: NGUYỄN THỊ NGỌC DIÊM

Bà là con gái thứ hai của Nguyễn Văn Luân (Tư). Bà có tên tự là Toản, lúc bé tự là Khương, sinh ngày 21 tháng 2 năm Canh Tý (1720). Gia phả ghi bà người đoan trang, thùy mị, hiếu hạnh, lầu thông kinh sử. Bà lấy chúa Nghị Tổ Ẩn Vương Trịnh Doanh lúc 17 tuổi, vào năm Bính Thìn (1736).

Khi Ân Vương lên ngôi chúa, định lập bà Nguyễn Thị Vinh làm chánh cung, sau không lập. Ngày 29 tháng 2 năm Kỷ Mùi

(1739), hai mươi tuổi bà sinh Trịnh Sâm. Năm Canh Thân

(1740), Ân Vương lên cầm quyền, truy tặng chức tước cho từ Cao Quận Công Nguyễn Phúc Thiện trở xuống. Đây là lần phong tặng thứ hai.

Mùa xuân năm Đinh Hợi (1767), Trịnh Sâm lên ngôi chúa, tôn mẹ là Ngọc Diễm làm Thái Tỉ, ở cung Khôn Ninh, lại phong tặng chức tước cho các vị tổ họ mẹ lần thứ ba, cho lập phủ trạch và ban 500 mẫu ruộng tự điền cho 5 chi.

Mùa thu năm Canh Dần (1770), chúa lại tấn tôn chức tước cho mẹ và tổ tiên gia đình mẹ lần thứ tư.

Năm Nhâm Dần (1782), Trịnh Sâm mất, theo cố mệnh của Trịnh Sâm, Trịnh Cán mới 4 tuổi lên ngôi chúa.

Nguyễn Trọng Viêm và con là Nguyễn Trọng Chiểu chỉ huy quân túc vệ làm đảo chính, giết Quận Huy và đưa Trịnh Tông lên ngôi chúa tức Đoan Nam Vương (năm Nhâm Dần 1782). Đoan Nam Vương lại gia phong chức tước cho bà nội và tổ tiên họ bên ngoại một lần nữa, tức là lần thứ năm.

Gia phả ghi bà Nguyễn Thị Ngọc Diễm đã làm rạng rỡ cho cả gia đình, tổ tiên, cha mẹ và anh chị em mình.

Bà mất ngày 28 tháng 7 năm Giáp Thìn (1784), mộ táng tại Kim Thành ở chân núi Đa Bút nay thuộc xã Vĩnh Hùng (Vĩnh Lộc, Thanh Hóa).

Đời thứ ba mươi: NGUYỄN THỊ TUẤN

Bà là con gái đầu của Nguyễn Văn Luân (Tư), chị ruột của bà Ngọc Diễm. Bà hiệu Tiết Thuận, được đặc ban Quận phu nhân, lấy chồng họ Nguyễn làm đội 1 Quản hầu, không con, mất ngày 13 tháng Giêng, thụy là Cung Tắc.

Đời thứ ba mươi: NGUYỄN THỊ ĐIÊN

Bà là con gái thứ ba của Nguyễn Văn Luân (Tư), là em gái của bà Ngọc Diễm, được ban Quận phu nhân, lấy chồng họ Nguyễn ở Văn Giáp Thượng Phúc (Thường Tín), sinh 6 trai, 3 gái, về già đi tu ở chùa Ban Oc xã Thụy Khuê, mất ngày 25 tháng 2 thọ 66 tuổi. Trong 6 trai có 4 đậu hương cống.

Họ Nguyễn Linh Đường có đông đảo hậu duệ gồm trên 20 chi ờ rải ra nhiều tỉnh Bắc bộ: Hải Phòng, Hải Dương, Thái Bình, Hưng Yên. Riêng ở Hà Nội, ngoài Linh Đường còn có phân chi ở Nghĩa Đô, phân chi ở cổ Nhuế.

9 - Các vi tổ thuôc đai chi Nguyễn Chính Thiện (Đông Tác, Hà Nôi).

Lược phả họ Nguỵễn Đông Tác (Hà Nội) in ấn năm 1995, ghi đời nhà Lê có một vị họ Nguyễn hiệu là Chính Thiện sinh vào khoảng năm (1449-1458), từ Gia Miêu ngoại trang đến ở chùa Thiên Hương phường Đông Tác, huyện Thọ Xương, phủ Phụng Thiên lập nghiệp rồi hình thành một dòng họ đông đúc ở đấy. Sự hình thành một dòng họ Nguyễn gốc Gia Miêu ngoại trang này gần giống với dòng họ Nguyễn ở Đại Từ và dòng họ Nguyễn ở Linh Đường. Dòng họ Đại Từ chỉ biết tên hiệu của thủy tổ là Chân Tính, không biết tên húy. Đại chi Linh Đường cũng chỉ biết tên hiệu thủy tổ là Phúc Thiện, 

không biết tên húy. Đại chi Đông Tác cũng chỉ biết tên hiệu của thủy tổ là Chính Thiện, không rõ tên húy. cả ba vị thủy tổ đều không rõ năm sinh, đều nghèo, đến khai hoang ờ ba vùng đất không xa nhau ờ nam Thăng Long. Chân Tính là thủy tổ của một phân họ tách từ dòng họ ờ Chi Ngãi.-Theo phả Hải Hậu Phúc Thiện, thủy tổ đại chi Linh Đường là hậu duệ đời thứ 4 của Nguyễn Tài Nông (con của Nguyễn Ưông, cháu của Nguyễn Cam). Cũng theo phả Hải Hậu, Chính Thiện là con của Nguyễn Tài Nông, theo đại tông Chính Thiện là đời thứ 22. Chính Thiện có cháu 5 đời ỉà Phúc Nghị chuyển về Thanh Trì Hà Đông. Tuy có chỗ trùng hợp, nhưng tên các vị con cháu ghi trong phả Hải Hậu lại không ăn khớp với phả Đông Tác. ơ đây cứ ghi đại chi Đông Tác theo thế thứ Chính Thiện là đời thứ nhất.

Đời thứ nhất: NGUYỄN CHÍNH THIỆN

Phả Đông Tác ghi có thể ông sinh vào năm 1449 hoặc 1458 dưới đời Lê Nhân Tông. Ông đến Đông Tác có thể vào đời Lê Thánh Tông, cũng có thể vào thời gian Nguyễn Văn Lang đưa quân ra Thăng Long hạ bệ Uy Mục tức vào năm 1510. Đông Tác là nơi Nguyễn Hoằng Dụ, con Nguyễn Văn Lang, đóng quân để chống lại Trần Chân âm mifu cướp ngôi vua. Chính Thiện đến Đông Tác để khai hoang và làm nghề nung đúc. Ông mất 20 tháng 8 âm lịch. Tương truyền khi linh cữu đưa đên gò đất cao thì bỗng nhiên trời nổi giông lớn. Sáng sau thấy mối đùn kín tức thiên táng. Cũng có phả ghi cháu ông là Nguyễn Ne mới được thiên táng.

Ông là con của Chính Thiện, ông hiệu là Thanh Nhàn. Có thê ông tham gia đạo quân của Nguyễn Văn Lang kéo từ Thanh Hóa ra hạ bệ quỉ vương Uy Mục nên ông làm quan tới chức Quang Tiến Phụ Quốc Thượng Tướng Quân, Định Huân Vệ Trường Thắng Tả Sở Khuông Linh tước An Mỹ Nam. Giỗ ngày 27 tháng 12 âm lịch.

Đời thứ ba: NGUYỄN NE

Ông là con trai của Lương Phúc, có hiệu là Thanh Nhàn làm huyện thừà huyện Yên Lập (Phú Thọ), được phong tước Mậu Lâm Lang, sinh 4 trai 3 gái thất truyền chỉ ghi được chi trưởng là Bích. Mất ngày 3 tháng 3 âm lịch, thụy là Mẫn Đạt.

Đời thứ bốn: NGUYỄN BÍCH

Ông là con trưởng của Nguyễn Ne, sinh ngày 25 tháng 5 năm Ất Tỵ (1545) giữ chức cẩm Y Vệ Ngoại Trực Ty Xá Nhân triều Lê, sinh 5 trai, 3 gái. 2 trai thất truyền, số còn lại hình thành ba chi: Giáp, Ât, Bính.

Cuốn lược phả họ Nguyễn Đông Tác đã ghi hậu duệ từ thế kỷ 15 đến ngày nay, trong khoảng 500 năm, trên 600 người. Đây là một dòng họ có hậu duệ coi trọng việc học hành. Ngày xưa dòng họ có một hoàng giáp, 2 đồng tiến sĩ, trên 10 hương cống và cử nhân trong đó có 2 giải nguyên, về võ có 2 tạo sĩ (tiến sĩ võ). Ngoài ra có 3 quận công.

Nổi tiếng của dòng họ là các vị:

1) Nguyễn Hy Quang (đời thứ 7) đỗ giải nguyên rồi đỗ khoa sĩ vọng, làm Thị Giảng dạy chúa Trịnh, được phong Đại Vương (Phúc Thần).

2) Nguyễn Trù (đời thứ 8) đỗ hoàng giáp.

3) Nguyễn Văn Lý (đời thứ 11), đỗ đồng tiến sĩ (ông nghè Đông Tác) một nhà giáo nổi tiếng.

4) Nguyễn Giản Thạch (Hữu Cầu) đỗ cử nhân, chống Pháp bị đày Côn Đảo, bạn của Huỳnh Thúc Kháng.

5) Nguyễn Hữu Kha pháp danh Thiều Chửu, tác giả cuốn Hán Việt tự điển, dịch một số sách Phật, dịch Tây du kỷ.

6) Nguyễn Hữu Tảo, một nhà giáo nổi tiếng của Hà Nội ngày nay.

 

Mục 2

HẬU DUỆ CỦA PHÂN HỆ 6 (NGUYỄN CẢNH DỊ)

Ở trên đã nêu hậu duệ của Nguyễn Cảnh Dị hình thành các đại chi ở Nam phần Trung bộ và Nam bộ. Sau đây sẽ ghi 2 đại chi hậu duệ của Nguyễn Trọng Nghĩa.

- Đại chi Nguyễn Trọng Đạo

- Đại chi Nguyễn Khả (Lân)

ĐẠI CHI: NGUYỄN TRỌNG ĐẠO (Trà Ninh, xã Đức Phong, huyện Mộ Đức - Quảng Ngãi)

Đời thứ mười chín: NGUYỄN TRỌNG ĐẠO

Ong là con cả của Trọng Nghĩa. Ông sinh năm Đinh Hợi (1467). Ông về cố hương ở Nam Đường Nghệ An học tập thi đậu tiến sĩ dưới triều Lê Thánh Tông, được cử làm Giám sát sứ vùng đất do cha khai khẩn được tặng tước “Nhân nghĩa hầu”. Ông sinh ra Nguyễn Trọng Nhân (Liên), Nguyễn Trọng Hòa.

Đời thứ hai mươi: NGUYỄN TRỌNG NHÂN (Liên)

Ông là con của Trọng Đạo. Ông sinh năm Quí Sửa (1493). Ông về cố hương học và thi đậu tiến sĩ đời Lê Hiến Tông, ơ đầy cần nói rõ việc học hành và thi cử ở miền Nam thời bấy giờ. Năm 1558, Nguyễn Hoàng vào trấn thủ Thuận Hóa vẫn là bề tôi của nhà Lê, việc thi cử vẫn phải ra Bắc, vì chưa có điều kiện mở trường và tổ chức thi cử riêng. Đến thời chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên không nhận sắc của vua Lê, tách thành một miền có chính quyền riêng, mới tổ chức các khoa thi Hoa văii riêng để tuyển chọn nhân tài ra làm quan. Chỉ sau này Trương Phúc Loan làm phụ chính việc mua quan bán tước mới phổ biến.

Nguyễn Trọng Nhân (Liên) sau khi đậu tiến sĩ, được cử giữ chức Tuyên phủ sứ phủ Tư Nghĩa. Năm 1527, nhà Mạc giành ngôi vua, ông cùng chú là Nguyễn Khả (Lân) và người họ hàng là Nguyễn Thọ Trường khởi binh theo Nguyễn Cam phò Lê diệt Mạc. Cả hai đều hy sinh, được Lê Trang Tông truy phong “Nghĩa Liệt Hầu trung đẳng thần”.

Đời thứ hai mươi: NGUYỄN TRỌNG HÒA

Ông là con Nguyễn Trọng Đạo. Ông về cố hương học thi đậu tiến sĩ, được bổ nhiệm làm tri huyện Bồng Sơn, được phong Lương Phúc Thần. Ông sinh Nguyễn Trọng Hiếu.

Đời thứ hai mốt: NGUYỄN TRỌNG HIẾU

Ông là con Nguyễn Trọng Hòa. Ông sinh năm Đinh Mão (1567), về cố hương được bác họ Nguyễn Cảnh Tùng nuôi dạy thi đậu phó bảng được bổ nhậm tri huyện Nghĩa Giang (Quảng Ngãi). Ông mất năm Ảt Mão (1653). Ông sinh Trọng Vĩnh.

Đời thứ hai hai: NGUYỄN TRỌNG VĨNH

Ông là con của Nguyễn Trọng Hiếu. Ông sinh năm Kỷ Sửu (1589), về cố hương nhờ bác họ Tiến sĩ Nguyễn Cảnh Huy nuôi dạy, đậu tiến sĩ được bổ nhậm làm tri phủ Qui Nhơn (Bình Định). Ông có công khai khẩn đất này nên được phong là “Tuy Thịnh Hầu”. Ông sinh Trọng Cang.

Đời thứ hai ba: NGUYỄN TRỌNG CANG

Ong là con Nguyễn Trọng Vĩnh. Ông sinh năm Quí Hợi (1623) đỗ tiến sĩ, làm chưởng cơ Dinh Trấn Biên (cực Nam Trung bộ) được phong Trung Lương Tướng, tước An Định Hầu. Phả dòng họ Nha Trang ghi ông được giao đi khảo sát đồng bằng sông cửu Long, có lẽ không đúng vì năm 1700 Nguyễn Hữu Cảnh mới mở rộng vùng này và lúc đó Nguyễn Trọng Cang đã gần 80 tuổi. Ông sinh Nguyễn Trọng Thưởng.

Ghi chú: Phả ghi tiếp đến đời 24 Trọng Thưởng, đời 25 Trọng Khương, đời 26 Trọng Hiền, đời 27 Trọng Vạc, đời 28 Văn Chương... đời 35 Nguyễn Hồng Sinh, vị chủ biên cuốn Nguyễn tộc thế truyền ở Nha Trang. Đại chi này sau phát triển rộng: có chi ở Hoài Ân (Bình Định) do Nguyễn Quang Phương (cháu của Nguyễn Văn Chương đời 28) làm thủy tổ. Có chi ở Đức Phổ (Quảng Ngãi) do Nguyễn Văn Chấn (con thứ của Nguyễn Văn Chương) làm thủy tổ. Ngoài ra còn một số phân chi ở Phổ Thuận (Đức Phổ - Quảng Ngãi), ở Gò Nổi (Phổ Minh, Đức Phổ) ở Bình Thuận và ờ Mỹ Tho. ì rong phân chi Mỹ Tho có nhà yêu nước Nguyễn Hữu Huân tức thủ khoa Huân một lãnh tụ Cần Vương chống thực dân Pháp, đã bị giặc sát hại. Đại chi này có một chi tham gia khởi nghĩa Tây Sơn. Sau khi Tây Sơn thất bại, phân chi họ này đổi thành họ Võ.

ĐẠI CHI: NGUYỄN KHẢ (LÂN)

(Tịnh Hiệp - Sơn Tịnh - Quảng Ngãi)

Đời thứ mười chín: NGUYỄN KHẢ (Lân)

Ông là con Nguyễn Trọng Nghĩa. Ông sinh năm Đinh Hợi (1467). Cha đi Nam chinh cùng Lê Thánh Tông năm 1471, được ở lại khai khẩn vùng Tịnh Hiệp - Sơn Tịnh - Quảng Ngãi, ông theo cha vào ở Tĩnh Hiệp rồi về cố hương học hành thi đậu tiến sĩ. Khi nhà Mạc cướp ngôi (1527) ông tham gia phong trào trung hưng nhà Lê do Nguyễn Cam khởi xướng, được Lê Trang Tông phong chức Phó Đô úy trấn thủ vùng khẩn hoang cũ của cha mình. Ông sinh ra Nguyễn Tấn Phát.

Đời thứ hai mươi: NGUYỄN TAN PHÁT

Ồng là con của Nguyễn Khả, sinh năm Kỷ Dậu (1549) đậu tiến sĩ. Vào Đàng Trong theo chúa Nguyễn, được giao giữ chức cai bạ (bố chánh). Giúp chúa khai phá đất đai. Sinh Tấn Đạt.

Đời thứ hai mốt: NGUYỄN TAN ĐẠT

Ông là con của Tấn Phát, sinh năm Quí Hợi (1563), đỗ cử nhân võ. Giữ chức cai cơ phủ Qui Nhơn,ông sinh Nguyễn Tấn Thịnh. Ông mất năm Kỷ Mùi (1619).

Đời thứ hai hai: NGUYỄN TAN THỊNH

Ông là con của Tấn Đạt, sinh năm Ất Dậu (1585), đỗ tiến sĩ làm Lưu Thủ (Tuần Vũ) phủ Qui Nhơn, coi trọng việc giúp dân thiểu số trong việc khai hoang, làm thủy lợi trồng lúa, mất năm Ât Hợi (1635). Ông sinh Nguyễn Tấn Phước.

Đời thứ hai ba: NGUYỄN TẤN PHƯỚC

Ông là con của Tấn Thịnh, sinh năm Quí Mão (1603), đỗ tiến sĩ, làm thị lang bộ Lễ triều Lê Thần Tông (1619-1643) được cử đi sứ sang Minh, chết dọc đường.

Đời thứ hai bốn: NGUYỄN TẤN ĐỨC

Ông là con Nguyễn Tấn Phước, sinh năm (1625), đậu tiến sĩ làm cai bạ (bố chánh) Phú Yên, mất năm Ât Ty (1665).

Đời thứ hai lăm: NGUYỄN TAN ĐƯỜNG

Ông là con Nguyễn Tấn Đức, sinh năm Bính Tuất (1646) đỗ cử nhân võ, làm cai cơ (lãnh binh) dinh Phú Yên, mất năm Quí Mùi (1703).

Đời thứ hai lăm: NGUYỄN TAN Lực

Ông là con Nguyễn Tấn Đức, sinh năm Kỷ Dậu (1669) đậu cử nhân, làm tri huyện Tuy An (Phú Yên), mất năm Giáp Thìn (1724).

Đời thứ hai sáu: NGUYỄN TAN TRÌNH

Ông là con Nguyễn Tấn Lực, sinh năm Giáp Tý (1684) đỗ tiến sĩ, làm cai bạ (Bố chánh) tỉnh Quảng Bình.

Đời thứ hai bảy: NGUYỄN TÂN LÀM

Ông là con Nguyễn Tấn Trình, sinh năm Ất Dậu (1705) đỗ cử nhân, làm tri huyện Bố Trạch tỉnh Quảng Bình.

Đời thứ hai tám: NGUYỄN TẤN LỰC

Ông là con Nguyễn Tấn Lãm, sinh năm Mậu Thân (1728) đỗ cử nhân, theo Tây Sơn làm phòng phủ sứ (tri huyện) Bình Sơn rồi án phủ sứ (án sát) Quảng Ngãi.

Từ đời hai chín dòng họ Nguyễn Tấn đổi thành Nguyễn Tăng. Vì đời 24 Nguyễn Tấn Đức làm cai cơ ở Phú Yên lấy vợ lẽ ở đấy hình thành một tiểu chi Nguyễn Thế ở Tuy An.

 

Mục 3

HẬU DUỆ CỦA PHÂN HỆ 7 NGUYỄN CẢNH LỮ

Ở trên đã viết đến đời mười tám Nguyễn Cảnh cảnh nay ghi tiếp.

ĐẠI CHI: NGUYỄN CẢNH (Nam Đường)

Đời thứ mười chín: NGUYỄN CẢNH ĐẠO

Ông là con cả của Nguyễn Cảnh cảnh.

Đời thứ mười chín: NGUYỄN CẢNH ĐỊCH

Ông là con thứ hai của Nguyễn Cảnh Cảnh.

Đời thứ mười chín: NGUYỄN TÔNG LIỆT

Ông là con thứ ba của Nguyễn Cảnh cảnh.

Đời thứ mười chín: NGUYỄN BÁ CAM (Khầm)

Ông là con thứ tư của Nguyễn Cảnh cảnh.

Con thứ 5 của Nguyễn Cảnh cảnh là Nguyễn Cảnh Huy sẽ ghi à sau.

Đời thứ mười chín: NGUYỄN CẢNH HUYÊN

Ông là con thứ 6 của Nguyễn Cảnh cảnh.

Đời thứ mười chín: NGUYỄN CẢNH TẠC

Ông là con thứ 7 của Nguyễn Cảnh cảnh.

Đời thứ mười chín: NGUYỄN CẢNH HUY

Ông là con thứ 5 của Nguyễn Cảnh Cảnh, ông là người tài trí dũng lược. Năm 1527, Mạc Đăng Dung cướp ngôi nhà Lê. Đám cựu thần nhà Lê, giận họ Mạc vô đạo, đã nổi lên hùng cứ nhiều nơi. Bốn phương nhiễu loạn, ơ Nam Đường quê ông, nhiều bọn giặc nổi lẻn cướp bóc chém giết dân lành. Nguyễn Cảnh Huy bàn với các trưởng xã, thôn, các bô lão ở quê nhà Nùng Bang, Thanh Chương, Nghệ An, phải xây lũy đào hào, rào làng để chống bọn cướp bóc. Ông được mọi người nghe theo và tôn làm chỉ huy. Sau khi làm lễ tuyên thệ, ông tuyển đinh tráng vài trăm người, mua sắm khi giới chống giặc. Nhờ có tài chỉ huy khôn khéo, ông đánh tan nhiều bọn cướp, bảo vệ được dân, tổ chức sản xuất để có lương ăn. Nhờ ông và các con là Hoan và Hân khởi binh tiễu trừđược bọn hung bạo, nên cả vùng được yên tĩnh, nhân dân trở về quê cũ cày cấy làm ăn. Ông được phong chức Vạn An Vệ Tổng Tri dân quân sự vụ của đạo hạ Nghệ An, tước Hoằng Hưu Tử.

Năm Bính Thân (1536), ông và con là Hoan đến Sầm Châu yết kiến Thái Sư Hưng Quốc Công Nguyễn Cam, nhờ Thái sư tâu vua, được vua cho yết kiến. Vua phong ông tước Bình Dương Hầu. phong con là Hoan tước Dương Đường Hầu. It lâu sau, Nguyễn Cảnh Huy qua đời thọ 64 tuổi. Ngày 26 tháng giêng năm Kỷ Dậu (1549), Lê Trung Tông truy phong ông là Dương Vũ Dực Vận Tán Trị Công Thần, hành... Nghệ An Đạo Đô Tổng Binh Sứ Ty Tổng Binh Thiêm Sự, Quản Tri Binh Dân Sự, Bình Dương Hầu, gia tặng Phúc Khánh Quận Công.

Ong sinh 5 trai: Noãn, Hoan, Hân, Vãn, Chiêu và một gái là Ngọc Hoành. Ngọc Hoành lấy chồng là Đường Quận Công.

Đời thứ hai mươi: NGUYỄN CẢNH NOÃN

Ong là con cả của Nguyễn Cảnh Huy và bà vợ người ở thôn Hiếu Lãng.

Con thứ hai của Nguyễn Cảnh Huy là Nguyễn Cảnh Hoan sẽ ghi sau.

Đời thứ hai mươi: NGUYỄN CẢNH HÂN

Ông là con thứ ba của Nguyễn Cảnh Huy và bà vợ ở thôn Mộ Cơ (Thanh Chương). Ông theo cha và anh là Nguyễn Cảnh Hoan đánh giặc được phong là Trung Quận Công.

Đời thứ hai mươi: NGUYỄN CẢNH VÃN

Ông là con thứ tư của Nguyễn Cảnh Huy và bà vợ ở giáp Tùy Cứ xã Đại Đồng. Ông theo anh Nguyễn Cảnh Hoan đánh giặc Mạc, được phong ỉà Cường Quận Công.

Đời thử hai mươi: NGUYỄN CẢNH CHIÊU

Ông là con thứ năm của Nguyễn Cảnh Huy và bà vợ ở xã Cao Điền (Thanh Chương). Ông theo anh là Nguyễn Cảnh Hoan đánh giặc Mạc được phong là Lập Quận Công.

Đời thứ hai mươi: NGUYỄN CẢNH HOAN

Ông là con thứ hai của Nguyễn Cảnh Huy và bà vợ họ Thái ở Đô Lương. Ông sinh tháng 12 năm Tân Tị (1521). Khi Mạc Đăng Dung đoạt ngôi và khi cha ông quét giặc cướp, ông còn ít tuổi. Năm Bính Thân (1536), ông theo cha lên Sầm Châu yết kiến Thái sư Nguyễn Cam và vua Lê. Cha được phong tước Bình Dương Hầu. Ông tuy còn rất trẻ cũng được phong tước Dương Đường Hầu.

Sau khi vua Lê, chúa Trịnh lập được chỗ đứng chân ờ Thanh Hóa, quân Mạc mấy lần tiến công đều bị đánh lui. Tháng 12 năm Đinh Mùi (1547), vua Mạc sai Nguyễn Kính vào tiến công một lần nữa, bị quân Lê, Trịnh giáp công phải rút lui. Thái sư Trịnh Kiểm sai Nguyễn Cảnh Hoan đem quân phục kích quân Mạc trên đường rút chạy chém được hơn vạn đầu giặc, thu nhiều vũ khí. Vì có công lớn, ông được thăng làm Đề Đốc Tấn Quận Công. Chiến thắng to lớn này đã làm cho cuộc chiến tranh Nam Bắc triều tạm lắng xuống. Nam triều có được vài năm yên ổn để xây dựng lực lượng.

Sang tháng 3 năm Tân Hợi (1551), ngoài Bắc giặc giã nổi lên như ong. Quân Trịnh tiến ra Bắc để giải phóng Thăng Long. Quân Mạc bổ Thăng Long. Quân Trịnh tiến quân như thế chẻ tre. Quân Mạc rút về Kinh Môn. Khi bình công ban thưởng, Nguyễn Cảnh Hoan có nhiều chiến tích được thăng chức Đô Đốc.

Tháng giêng năm Nhâm Tý (1552) Trịnh Kiểm đưa quân đến huyện Từ Liêm quét quân Mạc mới xâm nhập giành thắng lợi. Cảnh Hoan có công được gia phong Thiếu Bảo. Trịnh Kiểm rất trọng và đặt cho ông họ Trịnh và tên Mô, tính chất như ban cho ông quốc tính (họ nhà chúa) và được trao quyền trông coi nhừng việc quân quốc trọng đại trong kinh ngoài trấn.

Năm Ất Mão (1555), tướng Mạc đưa quân đánh Vĩnh Phúc (tức Tây Đô Vĩnh Lộc - Thanh Hóa), Trịnh Kiểm tự mình chỉ huy đánh Mạc. cảnh Hoan bắt sống được tướng giặc. Năm Canh Ngọ (1570), Trịnh Kiểm qua đời. Nguyễn Cảnh Hoan phò Trịnh Tùng chống Trịnh Cối. Vì anh em Trịnh Tùng, Trịnh Cối giành ngôi nhau, quân Mạc đem quân chiếm Tống Sơn. Sau khi nắm được mọi quyền lực, Trịnh Tùng tiến hành phản công khôi phục lại Tống Sơn. Tháng 2 năm Bính Thìn (1556), bình công, cảnh Hoan được thăng chức Thiếu Phó.

Tháng 7 năm Bính Thìn (1556), binh thuyền Mạc tiến công xứ Nghệ ở phía Nam. Trịnh Tùng sai Nguyễn Cảnh Hoan và Phan Công Tích đem quân vào đánh lui được quân Mạc.

Tháng 7 năm Nhân Thân (1572), quân Mạc lại đưa binh thuyền đánh Nghệ An. Trịnh Tùng lại sai Lại Thế Khánh, Nguyễn Cảnh Hoan, Phan Công Tích đưa quân vào đánh lui.

Năm Quí Dậu (1573), nhân dịp Lê Thế Tông lẽn ngôi thăng cấp cho các tướng, cảnh Hoan được thăng: Hiệp Mưu Công Thần, Đặc Tiến Kim Tự Vinh Lộc Đại Phu, Binh Bộ Thượng Thư Thái Phó kiêm Hành Tướng Sự (nắm cán bộ quân sự).

Năm Giầp Tuất (1574), tướng Mạc Nguyễn Quyện đem quân đánh Nghệ An một lần nữa chiếm được đất, đuổi bắt sống tướng Nam triều là Hoành quận công ở châu Bố chánh. Tháng 7 năm ấy, Trịnh Tùng lại sai Lai Quận Công Phan Công Tích, Tấn Quận Công Trịnh Mô (tức Nguyễn Cảnh Hoan) đưa quân vào đánh Mạc ở Nghệ An trong mấy tháng liền. Quyện liệu sức không thể kéo dài nên lại rút binh thuyền ra Bắc.

Năm Ất Hợi (1575), lần thứ ba, Quyện lại đưa binh thuyền vào Nghệ An. Lần này ngoài việc phái hai tướng cũ là Lai Quận Công và Tấn Quận Công. Trịnh Tùng còn phái thêm Thái phó An Quận Công Lại Thế Khánh cùng vào chống Quyện. Vì đóng quân ở nơi tử địa Diễn Châu, Lai Quận Công Phan Công Tích bị Quyện bao vây tiêu diệt, Lai Quận Công bị bạt sống phải rút dao mổ bụng tự tử, quân của An Quận Công và Tấn Quận Công không kịp cứu viện mà phải tiếp tục quần nhau với quân Mạc rồi hãm quân của Quyện vào thế phải rút xuôi theo dòng sông Lam và bị thiệt hại nặng. Trong khi Quyện đánh xứ Nghệ, vua Mạc cho Khiêm Vương Mạc Kính Điển đem quân đánh xứ Thanh. Chúa Trịnh Tùng viết thư gọi Cảnh Hoan ra Thanh để bàn kế hoạch đối phó. Vì có nội phản báo cho Quyện biết, nên ông ta đã cho phục kích ở vùng Tĩnh Gia bắt sống được Tấn Quận Công Nguyễn Cảnh Hoan. Quyện tìm mọi cách dụ hàng nhưng cảnh Hoan thà chịu chết chứ nhất quyết không chịu hàng. Ông còn mắng nhiếc Quyện phản trắc ăn ở hai lòng, đã theo Lê rồi lại trở về với Mạc. Sau Quyện cho giết Cảnh Hoan và trả lại thi thể cho Nam quân đưa về quê chôn cất. Trịnh Tùng đã tìm cách đưa vàng để đổi lấy cảnh Hoan khi còn sống, nhưng Nguyễn Quyện không chịu đổi. Cảnh Hoan bị sát hại ngày 16 tháng 9 năm Bính Tý (1576). Tương truyền giữa Nguyễn Quyện và Nguyễn Cảnh Hoan (tức Trịnh Mô) có dùng chiết tự để châm chọc nhau.

Nguyễn Quyện nói: Ta nghe ở thôn quê có câu sấm “ Mô là cây của Mạc, nêu không được Mạc dùng thì ắt thành tro dưới mồ”. Đó là câu chơi chữ: chữ Mô () (tên của cảnh Hoan) là ghép chữ Mộc () là cây với chữ Mạc (): Mô mộc mạc dã AL!

Nguyễn Cảnh Hoan đáp: “Thủa bình sinh, khi sang nhà ông, ta thấy thân sinh ông bảo ông thông minh nhưng lười học nên mới đặt tên cho ông là Quyện, nhốt ông trong thư phòng và có câu răn rằng: Quyện là người của sách, vì quay lưng lại sách, quả nhiên bị cái nhục cầm tù.” cảnh Hoan cũng dùng cách chơi chữ để đả lại một cách sắc sảo. Chữ Quyện () tên của Thạch quận công là ghép Nhân bàng () với chữ Quyển (tức quyển sách) Quyện () là lười, mệt. Quả nhiên sau này Quyện bị quân Trịnh bắt sống rồi chết trong tù. Trước khi bị quân Mạc giết, Nguyễn Cảnh Hoan đã để lại bài thơ tuyệt mệnh như sau:

Nhân trung bẩm cương nghị Thế thượng đốc trung trinh Thiên địa quang chính khí Nhật nguyệt chiếu tâm tình Lăng lăng thanh bất hủ Lẫm lẫm tử do sinh Sát phạt chư man quỷ Tróc phược chúng tà tinh Túng hữu chân tâm đảo Lai lâm tự luật linh.

Tạm dịch:

Bản tính người cương nghị Cuộc đời rất trung trinh Thiên địa bừng chính khí Nhật nguyệt rọi tâm tình Long lanh danh bất hủ

Lẫm liệt thác như sinh Sát phạt bầy man quỷ Tróc nã lủ tà tinh Nếu thành tâm cầu khấn Đến nhanh tựa thần linh.

Ông được mấy lần gia phong. Lần cuối được phong là Tấn Quốc Công Hùng Nghị Khuông TếTrạch Dân Đại Vương. Mộ táng tại Trường Thọ (nay thuộc xã Thanh Phong, Thanh Chương, Nghệ An).

Ông sinh mười trai, tám gái. Mười trai là: Hải, Kiên, Bố, Thuận, Núi, Điển, Sơ, Đoan, Yên, Biền. Tám gái là: Ngọc Nhật, Ngọc Sử, Ngọc u, Ngọc Tây, Ngọc Bồng, Ngọc Điện, Ngọc Dương, Ngọc Sâm.

- Con gái đầu Ngọc Nhật lấy Chỉ Quận Công, sau tái giá lấy An Quận Công, sau lại tái giá lấy Hoài Quận Công.

- Con gái thứ hai Ngọc Sử lấy Trinh Quận Công, sau tái giá lấy Xuân Dương Hầu.

- Con gái thứ ba Ngọc ử lấy Phúc Trạch Hầu.

- Con gái thứ tư Ngọc Tây lấy Chân Quận Công, sau tái giá lấy Mỹ Tiết Hầu.

- Con gái thứ năm Ngọc Bồng lấy con tri huyện Văn Minh.

- Con gái thứ sáu Ngọc Điện (còn gọi là Ngọc Mô) lấy Hương Quận Công ờ làng Phúc Đồng (nay là xã Liên Sơn - Đô Lương).

- Con gái thứ bảy Ngọc Dương lấy Đại Lộc Hầu.

- Con gái thứ tám Ngọc Sâm lấy Hùng Xuyên Hầu.

Nguyễn Cảnh Hoan có hai con nuôi là Tráng Quận Công và Phù Quận Công.

Đời thứ hai mốt: NGUYỄN CẢNH HẢI

Ông là con cả của Nguyễn Cảnh Hoan và bà vợ họ- Nguyễn ở xã Đỗ Liêu huyện Thiên Lộc (Can Lộc - Hà Tĩnh). Ông giữ chức thị vệ, tước Thụy Trung Hầu.

Con thứ hai của Cảnh Hoan là cảnh Kiên sẽ ghi ở sau cùng.

Đời thứ hai mốt: NGUYỄN CẢNH BỐ

Ông là con thứ ba của Nguyễn Cảnh Hoan. Ông giữ chức Cẩm Y Vệ, tước Vũ Thắng Hầu.

Đời thứ hai mốt: NGUYỄN CẢNH THUẬN

Ông là con thứ tư của Nguyễn Cảnh Hoan. Ông giữ chức Đô Tổng Binh Sứ của đạo Hạ Nghệ An, tước Diên Phúc Hầu.

Đời thứ hai mốt: NGUYỄN CẢNH NÚI

Ông là con thứ năm của Nguyễn Cảnh Hoan và bà vợ ở thôn Chân Ngọc xã Đồng Luân. Ông giữ chức Thủ Vệ Sự, tước Mậu Lương Hầu.

Đời thứ hai mốt: NGUYỄN CANH ĐIÊN

Ông là con trai thứ sáu của Nguyễn Cảnh Hoan. Ông giữ chức Thủ Vệ Sự, tước Nghĩa Võ Hầu.

Đời thứ hai mốt: NGUYỄN CANH SƠ

Ông là con trai thứ bảy của Nguyễn Cảnh Hoan và bà vợ là Đỗ Thị Thuận người xã Mỗ La huyện Từ Liêm (Hà Nội). Ông giữ chức Thủ Vệ Sự, tước Hào Quận Công.

Đời thứ hai mốt: NGUYỄN CẢNH ĐOAN

Ông là con trai thứ tám của Nguyễn Cảnh Hoan và bà vợ quê xã Đại Đồng. Ông giữ chức Tham Đội Thần Vũ Tứ Vệ Quân Vụ Sự, tước Phúc Nghĩa Hầu.

Đời thứ hai mốt: NGUYỄN CẢNH YÊN

Ông là con thứ chín của Nguyễn Cảnh Hoan và bà Đỗ Thị Thuận. Ông được phong tước Vạn Lộc Hầu.

Đời thứ hai mốt: NGUYỄN CẢNH BIEN

Ông là con thứ mười của Nguyễn Cảnh Hoan và bà vợ họ Nguyễn người xã Đại Đồng. Ông được phong tước Thịnh Mỹ Hầu.

Ông là con thứ hai của Nguyễn Cảnh Hoan và bà vợ họ Nguyễn con gái Đỗ Liêu Phấn Vũ Hầu ở Thiên Lộc (tức Can Lộc, Hà Tình). Ông sinh ngày 21 tháng 8 năm Quý Sửu (1553), mới sinh đã có tướng mạo khôi ngô, trán rộng, mắt sáng, đầu vích, lưng rùa. Năm 22 tuổi đã làm tướng cùng cha đánh quân Mạc của Nguyễn Quyện ở Nghệ An tức vào năm Ât Hợi (1575). Ông đã được phong tước Nham Lĩnh Hầu lĩnh ấn tiên phong. Nguyễn Quyện đã dặn các tướng: “Cảnh Kiên đao mã cao cường, ra trận nếu gặp nên cẩn thận, không được khinh suất”. Sau khi cha bị bắt bị giết, cảnh Kiên được chúa Trịnh giao thêm quyền bính và đặt ông dưới quyền chỉ huy của Dương Quận Công Nguyễn Hữu Liêu.

Năm Bính Tý (1576), trong một trận đánh quân Nguyễn Quyện ở vùng Ninh Bình, cảnh Kiên dẫn quân tiên phong suýt bắt sống được Nguyễn Quyện. Bình công, ông được thưởng Kim bài và gia phong cẩm Y Vệ Sự Tín Quận Công.

Năm Tân Tị (1581), khi Mạc Đôn Nhượng đuà quân tiến công Thanh Hóa, đại tướng quân Hoàng Đình Ái chỉ huy ba đạo quân chặn đánh, lấy đạo quân của Nguyễn Hữư Liêu làm tiên phong. Tướng dưới quyền Liêu là Cảnh Kiên đã giết trên năm trăm quân Mạc buộc họ phải rút về Thăng Long. Từ đó quân Mạc không dám dòm ngó đến đất Thanh Hóa, Nghệ An. Bình công, cảnh Kiên được thăng chức.

Tháng mười hai năm Tân Mão (1591), quân Trịnh theo đường núi tiến đánh Thăng Long. Đến năm Nhâm Thìn (1592), quân Trịnh đánh chiếm Thăng Long bắt sống được Nguyễn Quyện, cảnh Kiên có công lớn trong chiến cuộc này được thăng chức Đô đốc Thiêm Sự. Năm Canh Tý (1594), vua Lê Thế Tông trở về Thăng Long, phong thưởng các tướng lĩnh. Nguyễn Cảnh Kiên đã được giữ chức Đô Đốc Đồng Tri nay được gia phong: Hiệp Mưu Công Thần, Phụ Quốc Thượng Tướng Quân, Đô Đốc Phủ Tả Đô Đốc, rồi thăng lên Dương Vũ Ưy Dũng Công Thần Nam Quân Đô Đốc Phủ Tả Đô Đốc (tức Chánh Tư lệnh đạo Nam quân). Nguyễn Cảnh Kiên còn là một thầy thuốc giỏi, chữa được nhiều bệnh cho vua, chúa, các quan và cả cho thường dân, nên chúa Trịnh rất quí, gia phong ông kiêm giữ chức Thái Y Viện Chưởng Viện Sự, Tế Sinh Đường Sứ Thủ Quận Công. Vì thế đương thời còn gọi ông là Đức Thầy Thủ. Tương truyền, trong anh em cảnh Kiên có sự bất hòa nên khi Đoan Quốc Công vào Nam, một số anh em iàm tờ khải Chúa tố cáo ônq thông đồng với Đoan Quốc Công. Trịnh Tùng đã bác bổ cho đó là vu cáo. Khi Bình An Vương tổ chức tuyên thệ, cảnh Kiên là người đầu tiên lên thề trung thành đến cùng với vua Lê, chúa Trịnh.

Năm Tân Sửu (.1601), tướng Mạc, Nam quận công Nguyễn Nhậm đem binh thuyền chiếm vùng sông Hoàng Long rồi vùng Nam Xang (Lý Nhân). Dưới quyền thống suất của Bình An Vương Trịnh Tùng, quân Trịnh đã đánh tan quân Mạc. Thủ Quận Công Cảnh Kiên cùng các tướng trong đó có con trai ông là Cảnh Hà truy kích đuổi đến cổ Lệnh (tức Kẻ Lệnh nay là Yên Lệnh). Nguyễn Nhậm phải cứa cổ gieo mình xuống sông tự'vẫn. Tháng 3 cùng năm, cảnh Kiên và hai con Cảnh Đại, cảnh Hà lại làm tiên phong đánh Mạc ở Hải Dương, đuổi Mạc đến Kim Thành. Vua thăng cảnh Kiên lên chức Thiếu Bảo, phong cảnh Đại và cảnh Hà là Đặc Tiến Phụ Quốc Cẩm Y Vệ, Đô Chỉ Huy Sứ Đồng Tri Thị Vệ, phong cho anh tước Dương Nghĩa Hầu, em tước Quảng Phú Hầu.'Quảng Phú Hầu Nguyễn Cảnh Hà còn bắt sống vua Mạc Kiền Vương. Trịnh Tùng gả công chúa Trịnh Thị Ngọc Thanh cho cảnh Hà. Nguyễn Cảnh Kiên trở thành dâu gia với Trịnh Tùng.

Năm Mậu Ngọ (1618), Bình An Vương Trịnh Tùng cho quân lên Cao Bằng đánh Mạc Kính Khoan, gồm hai đạo, một đạo do Trịnh Tráng chỉ huy gồm nhiều tướng trong có Thủ Quận Công Nguyễn Cảnh Kiên và đặc biệt có Phụ Quận Công Nguyễn Hắc (cháu nội của Đoan Quốc Công), một-đạo do Trịnh Xuân em Trịnh Tráng chỉ huy.

Thủ Quận Công làm tiên phong đánh tan quân Mạc. Tiếp đó ông lại làm tiên phong đánh tan quân Mạc ở Phù Lỗ.

Ông qua đời giờ Thìn ngày Giáp Dần mồng 4 tháng 8 năm Kỷ Mùi (1619), thọ 67 tuổi. Ông được gia phong: Hiệp Mưu Dương Vũ Uy Dũng Dực Vận Tán Trị Công Thần Đặc Tiến Phụ Quốc Thượng Tướng Quân Nam Quân Đô Đốc Phủ Tả Đô Đốc Thủ Phủ Sự, Tri Thái Y Viện Chưởng Viện Sự Thiếu Phó Tả Tư Không Thủ Quận Công. Về sau được gia phong Mặc Tướng Hông Đồ, Thái Bảo. Mộ táng tại Mô Sơn thôn Cẩm Hoa Thượng xã Đô Lương (nay là xã Tràng Sơn, huyện Đô Lương tỉnh Nghệ An).

Ông sinh bốn trai, hai gái:

Bốn trai là: Đại, Hà, Cống, At. Hai gái là Ngọc và Quý.'

- Con gái cả Nguyễn Thị Ngọc hiệu là Nhất Nương lấy chồng là Uy (Đại) Lộc hầu.

- Con gái thứ hai là Ngọc Quỹ lấy chổng là...

Đời thứ hai hai: NGUYÊN CẢNH ĐẠI

Ông là con cả của Nguyễn Cảnh Kiên, ông sinh năm Kỷ Mão (1579). Năm Tân Sửu (1601), ông theo cha đi đông chinh dưới sự thống lĩnh của Bình An vương Trịnh Tùng. Trong trận đánh quân Mạc do Nguyễn Nhậm chỉ huy, khi truy kích đối phương, ông cùng em là cảnh Hà xông lên trước, đuổi giặc tới Cổ Lệnh, chém đến mấy trăm đầu giặc, đốt thuyền Mạc, buộc Nam Quận Công Nguyễn Nhậm phải tự tử. Tháng 3 năm ấy, trong trận đánh ở Hải Dương, ông cùng em xông ra trận tiền giết địch được ghi công khen thưởng. Thắng trận bình công, ông được phong Đặc Tiến Phụ Quốc Thượng Tướng Cẩm Y Vệ Đô Chỉ Huy Sứ Ty Đô Chí Huy Đồng Tri Thủ Vệ Sự, tước Dương Nghĩa Hầu.

Đời thứ hai hai: NGUYỄN CẢNH HÀ

Ông là con thứ hai của Nguyễn Cảnh Kiên và bà vợ là chắt gái của Nguyễn Đình Xí, người Thượng Xá huyện Chân Phúc (tức huyện Nghi Lộc, Nghệ An). Ông sinh năm Quý Mùi (1583). Năm Tân Sửu (1601), lúc ông 18 tuổi, ông đã theo cha đánh Mạc. Trong trận đánh Nguyễn Nhậm ở Nam Xang (Lý Nhân, Hà Nam), khi truy kích đối phương, ông cùng anh là Cảnh Đại xông lên trước đuổi địch đến cổ Lệnh (Yên Lệnh), chém đến mấy trăm đầu giặc, đốt thuyền Mạc, buộc Nam Quận Cồng Nguyễn Nhậm phải cắt cổ nhảy xuống sông tự vẫn. Trong trận đánh vùng Hải Dương tháng 3 năm ấy, ông cùng anh xông ra trận tiền giết nhiều địch. Khi bình công, ông được phong Đặc Tiến Phụ Quốc Thượng Tướng cẩm Y Vệ Đô Chỉ Huy Sứ Ty, Đô Chỉ Huy Đồng Tri, Thủ Vệ Sự, tước Quang Phú Hầu. Năm Tân Sửu (1601), ông theo cha và anh đánh Cao Bằng, tiếp đó đánh Hải Dương, ông luôn đi đầu trong các trận, mứu trí, dũng cảm giết nhiều giặc, được chúa ban tặng một Kim bài bốn mặt và thăng một trật. Mùa thu ông được lệnh vây quân Mạc, cải trang thành sư trong một ngôi chùa ở Phượng Nhãn (Chí Linh, Hải Dương) bắt được vua Mạc Kiền Vương giải về Kinh. Bình An Vương Trịnh Tùng hết sức khen ngợi và gả công chúa Trịnh Thị Ngọc Thanh cho ông và phong chức: “Dương Vũ Uy Dũng Công Thần, Đặc Tiến Phụ Quốc Thượng Tướng Quân, cẩm Y Vệ Đô Chỉ Huy Sứ, Thị Vệ Sự, Phò Mã Đô ủy Quảng Phú Hầu” sau được gia phong “Chưởng Vệ Sự Thắng Quận Công”.

Hồi ấy có sự tranh giành ngôi báu giũồ Trịnh Tráng, con cả và Trịnh Xuân, con thứ của Trịnh Tùng. Trịnh Xuân tập hợp phe cánh trong đó có Trấn thủ Nghệ An là Nhạc Quận Công. Trịnh Tùng đã sai Nguyễn Cảnh Hà vào trấn thủ Nghệ An thay Nhạc Quận Công. Nhạc Quận Công không dám phản kháng. Nguyễn Cảnh Hà được thăng chức Đô Đốc Thiêm Sự. Sau ông theo Thanh Đô Vương Trịnh Tráng đánh Mạc ở Cao Bằng, có công được thăng chức Đô Đốc Đổng Tri Vinh Phong Dực Vận Tán Trị Công Thần.

Năm 1626, cảnh Hà lại làm tiên phong đánh Cao Bằng, có công được thăng Tả đô đốc. Năm 1638, lại đánh Mạc ờ Chí Linh Đông Triều có công được thăng Thiếu bảo Tả tư mã và được ban quốc tính họ Trịnh của Chúa: “Trịnh Tông” được dự bàn chính sự.

Năm Quý Mùi (1643), ông tham gia đạo quân chúa Trịnh đánh chúa Nguyễn được thăng Thiếu Phó.

Ông mất ngày 6 tháng 9 năm Ât Dậu (1645) thọ 63 tuổi, an táng tại xứ Cồn Công, thôn Thượng Thọ.

Ông sinh mười một trai, tám gái. Mười một trai là: Quế, ích, Căn, Ỷ, Lâm, Thuyên, Nghị, Khuê, Đống, Cái, Thụ.

Tám con gái là:

1) Nguyễn Thị Ngọc Thơm, phi tần của Lê Thần Tông, sinh một hoàng tử, chết sớm.

2) Nguyễn Thị Ngọc Tài, lấy chồng là Nghĩa Quận Công.

3) Nguyễn Thị Ngọc Thuần (có phả ghi là Thoa) lấy chồng là Vân Nham Hầu.

4) Nguyễn Thị Ngọc Hựu (có phả ghi là Hữu) lấy chồng là Toàn Trung Hầu.

5) Nguyễn Thị Ngọc Hiên lấy chồng là Ân Vĩnh Hầu.

6) Nguyễn Thị Ngọc Triều lấy chồng là Chấn Quận Công.

7) Nguyễn Thị Ngọc Quế lấy chồng là Hòa Lương Hầu.

8) Nguyễn Thị Ngọc Giao lấy chồng người trong xã.

Ông là con cả của Nguyễn Cảnh Hà và bà vợ họ Phạm con gái của Lai Quận Công. Ông sinh năm Kỷ Hợi (1599). Ông cùng cha đi đánh giặc có công được phong là Phò Mã Đô ủy lấy công chúa Trịnh Thị Ngọc Loan, con gái Văn Tổ Nghị Vương. Khi đưa quân đánh chúa Nguyễn cũng như đánh Cao Bằng, ông đều đem quân theo chúa Trịnh có lập công, được thăng chức Tẳ Đô Đốc Phó Tướng, tước Liêu Quận Công.

Đời thứ hai ba: NGUYỄN CẢNH ÍCH

Ông là con trai thứ hai của Nguyễn Cảnh Hà, ông giữ chức Đề Đốc Gia Quận Công. Ông là Phò Mã Đô úy lấy công chúa Trịnh Thị Ngọc cẩn.

Đời thứ hai ba: NGUYỄN CẢNH CĂN

Có bản chép là cảnh Lương. Ông là con trai thứ ba của Nguyễn Cảnh Hà, ông giữ chức Tham đốc, tước Hán Dương Hầu.

Đời thứ hai ba: NGUYỄN CẢNH Ỷ

Ông là con trai thứ tư của Nguyễn Cảnh Hà. Ông được phong tước cẩm Thụy Hầu.

Đời thứ hai ba: NGUYỄN CẢNH LÂM

Ông là con trai thứ năm của Nguyễn Cảnh Hà. Ông được phong tước Phú Thuận Hầu.

Đời thứ hai ba: NGUYỄN CẢNH THUYÊN

Ông là con trai thứ sáu của Nguyễn Cảnh Hà. Ông được phong là Đông An Hầu. Ông sinh ra Nguyễn Cảnh Huấn, có hậu duệ ở Yên Thành.

Đời thứ hai ba: NGUYỄN CẢNH NGHỊ

Ông là con thứ bảy của Nguyễn Cảnh Hà và bà vợ Hà Thị Sử con gái thứ hai của Hà Đào Nhân ở Đông Thành, được ấn phong là Á phu nhân. Ông giữ chức Chánh đội trưởng, tước Luân Nghĩa Hầu.

Đời thứ hai ba: NGUYỄN CẢNH KHUÊ

Ông là con trai thứ tám của Nguyễn Cảnh Hà. Ông được phong tước Dĩnh Xuyên Hầu.

Đời thứ hai ba: NGUYỄN CẢNH ĐỐNG

Ông là con trai thứ chín của Nguyễn Cảnh Hà, có bẳn chép là Cảnh Chu. Ông được phong tước Tuyên (Phúc) Nghĩa Hầu,

Có bản ghi là Hạp. Ông là con thứ mười của Nguyễn Cảnh Hà. Ong được phong tước Tri Nghĩa Hầu.

Ông thứ hai ba: NGUYỄN CẢNH THỤ

Ong là con trai thứ mười một của Nguyễn Cảnh Hà và bà Hà Thị Sử. Ông được phong là Thuận Nghĩa Hầu.

* * *

Dòng họ Nguyễn Cảnh ờ Nam Đường là một dòng họ rất đông đảo. ơ đây ghi theo cuốn Hoan châu kỷ của dòng họ Nguyễn Cảnh ở Nam Đường và cũng chỉ ghi những vị có chức tước, chỉ ghi trong 4 đời từ đời Nguyễn Cảnh Huy đến Nguyễn Cảnh Thụ tất cả 30 người đã có 10 tước quận công, 19 tước hầu. Tất nhiên còn có mấy trăm dân thường không được ghi. Cuốn Nguyễn Tộc thế phả do Nguyễn Hồng Sinh ờ Nha Trang ghi về dòng họ Nguyễn Cảnh lại ghi khác. Trong cuốn này, ngoài hai vị tổ Nguyễn Cảnh Huy và Nguyễn Cảnh Hoan là hai cha con trùng tên với phả Nguyễn Cảnh Nam Đường còn các vị khác thì không trùng tên. Trong số 21 người của 16 đời, phả này ghi có 5 tiến sĩ, 2 phó bảng, 6 cử nhân, tức là phần lớn là các nhà khoa bảng chứ không phải phần lớn là tướng võ như đã nêu trong Hoan châu kỷ. Ngay Tấn Quốc Công Nguyễn Cảnh Hoan cũng được ghi đỗ cử nhân, nếu sinh năm 1567, như vậy là không đúng. Trong Hoan châu kỷ ghi ông sinh năm Tân Tỵ (1521). Khi Mạc Đăng Dung cướp ngôi năm 1527, ông mới 6-7 tuổi. Cha con 

ông đều chống Mạc. Năm Bính Thân (1536), ông cùng cha lên Sầm Thượng gặp Nguyễn Cam. cả hai cha con đều được Lê Trang Tông phong tước hầu. Nếu ông sinh năm 1567 thì năm 1536 ông chưa thể cùng cha lên Sầm Thượng. Vì có những tư liệu khác nhau, nên các phả ghi khác nhau là việc thường gặp phải, ỏ đây ghi theo Hoan châu kỷ. Xin ghi một số đại chi chép theo phả Nha Trang.

ĐẠI CHI: NGUYỄN CẢNH GIAI

Đời thứ hai mươi: NGUYỄN CẢNH GIAI

Phả Nha Trang ghi ông là con Nguyễn Cảnh Hoan còn Hoan châu kỷ không ghi một người con nào của Nguyễn Cảnh Hoan có tên là cảnh Giai. Hoan châu kỷ có ghi một vị Nguyễn Văn Giai làm Thái phó tước Lễ Quận Công cùng lớp với Nguyễn Cảnh Kiên (con Nguyễn Cảnh Hoan).

Phả Nha Trang ghi Nguyễn Cảnh Giai sinh năm Mậu Tý (1588), đỗ tiến sĩ, giữ chức Thượng thư bộ lại, kiêm Đô Ngự Sử, cùng tước Lễ Quận Công. Nếu Nguyễn Cảnh Giai sinh năm Mậu Tý (1588) thì Nguyễn Cảnh Hoan bị sát hại Bính.Tý (1576) tức 12 năm trước khi Nguyễn Cảnh Giai sinh. Ông không thể là con của Nguyễn Cảnh Hoan, mà có thể là cháu của Nguyễn Cảnh Hoan. Ghi Nguyễn Cảnh Giai ở đời thứ hai mươi là để dễ đối chiếu. Các đời ghi tiếp sau đây cũng thế. Nguyễn Cảnh Giai sinh ra Nguyễn cẳnh Tùng.

Đời thứ hai mốt: NGUYỄN CẢNH TÙNG

Ông là con trai của Nguyễn Cảnh Giai. Ông sinh năm Quí Sửu (1613), đỗ tiến sĩ, làm Thị Lang Bộ Lễ. Về hưu dạy học. Ông sinh Nguyễn Cảnh Hồng.

Đời thứ hai hai: NGUYỄN CẢNH HỒNG

Ồng là con trai của Nguyễn Cảnh Tùng. Ông sinh năm Ât Mùi (1635), đỗ tiến sĩ, làm Lang Trung bộ Hộ dưới triều Lê Hiển Tông (1663-1671). Về hưu dạy học. Ông sinh Nguyễn Cảnh Phúc.

Đời thứ hai ba: NGUYỄN CẢNH PHÚC

Ông là con trai Nguyễn Cảnh Hồng. Năm Đinh Dậu (1657), ông đỗ cử nhân, làm tri huyện Thạch Hà (Hà Tĩnh). Về hưu dạy học. Ồng sinh Nguyễn Cảnh Vinh.

Đời thứ hai bốn: NGUYỄN CẢNH VINH

Ông là con trai Nguyễn Cảnh Phúc. Ông sinh năm Kỷ Sửu (1679) đỗ tiến sĩ, làm Thượng Thư bộ Hộ dưới triều Lê Dụ Tông (1705-1710). Về hưu dạy học. Ông sinh Nguyễn Cảnh Tường.

Đời thứ hai nhăm: NGUYỄN CẢNH TƯỜNG

Ồng là con trai của Nguyễn Cảnh Vinh. Ông sinh năm Mậu Thìn ’(1712), đỗ phó bảng, làm tri huyện Nông Cống (Thanh Hóa). Ông sinh Nguyễn Cảnh Thống, Nguyễn Viết Triệu.

Đời thứ hai sáu: NGUYỄN CẢNH THỐNG

Ông là con trai của Nguyễn Cảnh Tường. Ồng sinh năm Giáp Thìn (1724), (ghi không đúng vì cha sinh năm Mậu Thìn, sinh con,lúc 12-13 tuổi?). Ông đỗ tiến sĩ, làm thị lang bộ Hộ dưới triều Lê Hiển Tông (1740-1786). Sau theo Tây Sơn chống lại chúa Trịnh.

Đời thứ hai sáu: NGUYỄN VIẾT TRIỆU

Ông là con Nguyễn Cảnh Tường, đỗ cử nhân, trung thành với nhà Lê, mộ quân bảo vệ Lê Chiêu Thống, theo Chiêu Thống sang Trung Quốc rồi mất ở bên đó.

* * *

Phẳ Nha Trang ghi đại chi Nam Đường từ đời sau Nguyễn Cảnh Thống, dòng Nguyễn Cảnh đổi thành Nguyễn Xuân. Dòng Nguyễn Xuân thêm 6 đời, đời thứ 6 có Nguyễn Xuân Linh, nguyên bí thư tỉnh ủy Nghệ Tĩnh.

Bên cạnh việc ghi 16 đời của dòng họ Nguyễn Cảnh Nam Đường, phả Nha Trang còn ghi khá tỉ mỉ các chi phái của dòng họ này như các chi phái ở Tịnh Hiệp, Sơn Tịnh (Quảng Ngãi); ở Trà Ninh (Đức Phong, Mộ Đức, Quảng Ngãi); ở Hoài Ân (Bình Định); ờ Đức Phổ (Quảng Ngãi); ở nam Bình Định; ở Phú

Yên; ở Diên Khánh (Khánh Hòa); ở các tỉnh từ Bình Thuận đến Tiền Giang; và chi họ Nguyễn đổi thành họ Võ. Muốn hiểu tỉ mỉ xin xem cuốn Nguyễn tộc thế phả, ấn hành năm 1995 của dòng họ Nha Trang.

 

Mục 4

HẬU DUỆ CỦA PHÂN HỆ 8 NGUYỄN HỘI

(Thượng Xá)

Phân hệ Thượng Xá bắt đầu từ thủy tổ Nguyễn Đình Hợp. Nguyễn Đình Hợp sinh ra Nguyễn Đình Hội. Nguyễn Đình Hội sinh ra Nguyễn Đình Biện và Nguyễn Đình Xí. Nguyễn Đình Biện vô hậu. Nguyễn Đình Xí có 16 con trai, chết một còn mười lăm hỉnh thành mười lăm đại chi. Chưa có tư liệu cụ thể để ghi đủ mười lăm đại chi. vả lại việc ghi này xin nhường cho dòng họ Thượng Xá làm. ơ đây xin ghi một số nét về một đại chi trong đó có hậu duệ ià Nguyễn Du, đại thi hào dân tộc.

Trong cuốn Tộc phả Cương quốc công Nguyễn Xí, xuất bản năm 1993 của dòng họ Nguyễn Đình Thượng Xá có mục nói về quan hệ giữa Nguyễn Đình Xí với Nguyễn Du. Trong mục này có ghi Nguyễn Nghiễm (thân sinh Nguyễn Du) là hậu duệ đời thứ 13 của Nguyễn Đình Xí. Chúng ta lại có tư liệu Nguyễn Doãn Địch, là tổ đời thứ mười một của Nguyễn Nghiễm. Như vậy, Nguyễn Doãn Địch là cháu nội của Nguyễn Đình Xí. Nhưng chúci rõ Nguyễn Doãn Địch thuộc đại chi nào trong số 15 đại chi của dòng họ Nguyễn 'Đình. Tư liệu về

Nguyễn Doãn Địch cho biết ông đậu thám hoa năm 1481 dưới triều Lê Thánh Tông. Nếu ông đậu lúc 30 tuổi thì ông phải sinh vào năm 1451. ớ trên đã nói con đầu Nguyễn Sư Hồi đến con út Nguyễn Duy Tân của Nguyễn Đình Xí có thể hơn nhau quá 30 tuổi. Cho nên Nguyễn Doãn Địch có nhiều khả năng không phải là con trai của các vị con thứ cuối cùng tức thứ 10-15 của Nguyễn Đình Xí. Trong các vị con từ thứ 10 trở lên, phần lớn được phả có ghi rõ các con cháu có chức tước nhưng không ghi Nguyễn Doãn Địch, chỉ có một số là: Bá Kiệt, con thứ 4, Thúc Ngu - con thứ 7, Tôn Cao - con thứ 8, cảnh Thành - con thứ 9, Trọng Đạt - con thứ 10, Hữu Lượng - con thứ 12, Đồng Dần - con thứ 13 của Nguyễn Đình Xí là gia phả không ghi hậu duệ có chức tước. Như trên đã nói Nguyễn Doãn Địch đậu thám hoa năm 1481 (có thể sinh vào năm 1450) cho nên ông có thể hơn tuổi một số chú từ thứ 8 đến thứ 15, 16). Vậy chỉ còn khả năng Nguyễn Doãn Địch là con của Bá Kiệt, của Thúc Ngu hoặc của Tôn Cao những vị mà phả không ghi hậu duệ có chức tước. Tôn Cao làm Đô Tổng Binh Đồng Tri xứ Lạng Sơn, ít có khả năng về Canh Hoạch lập cơ nghiệp. Thúc Ngu giữ chức Đô Tổng Binh Đồng Tri cũng vậy. Cho nên có nhiều khả năng Bá Kiệt làm Đồng Tri Phấn Võ Vệ Tam Phủ Quân ở Thăng Long là về lập nghiệp ở Canh Hoạch và sinh ra Nguyễn Doãn Địch. Đó là phán đoán nhưng chufe khẳng định. Sở dĩ con cháu Nguyễn Doãn Địch sau này đều có chức tước nhưng trong gia phả không ghi tên là có lý do. Nguyễn Quyện và Nguyễn Miện làm tướng cho nhà Nhuận Mạc chống nhà Lê, cho nên theo quan điểm chính thống, các cụ viết phả dòng họ Nguyễn Đình Xí đã gạch tên các vị trong gia phả. Việc này cũng giống như

Nguyễn Phi Khanh và Nguyễn Trãi làm quan với Nhuận Hồ nên bị các cụ gạch tên khỏi gia phả. Sau Nguyễn Trãi trở thành Bình Ngô Khai Quốc Công Thần, có công lớn với nước hai cha con mới được ghi tên lại trong gia phả. Viết phả ngày nay tất nhiên phải ghi tên đầy đủ các vị vào phả. Nguyễn Đình Xí được xếp vào đời thứ 17, cho nên Nguyễn Doãn Địch, cháu của Nguyễn Đình Xí là đời thứ 19.

ĐẠI CHI CANH HOẠCH - TIÊN ĐIỀN

Đời thứ mười chín: NGUYỄN DOÃN ĐỊCH

Ông là cháu nội của Nguyễn Đình Xí. Ông vốn ở Ba Dương (Cao Dương, Thanh Oai) sau chuyển sang Canh Hoạch (Thanh Oai, Hà Tây). Là một người học giỏi nổi tiếng, ông đậu thám hoa năm 1481 đời Lê Thánh Tông. Ông làm quan đến chức Thị Lang. Ông sinh ra Nguyễn Toại.

Đời thứ hai mươi: NGUYỄN TOẠI

Ông là con của Nguyễn Doãn Địch, không rõ hành trạng. Ông sinh ra Nguyễn Thiến.

Đời thứ hai mốt: NGUYỄN THIẾN

Còn đọc là Thuyên, ông là con của Nguyễn Toại. Năm Nhâm Thìn (1532) ông đậu Trạng Nguyên lúc 38 tuổi dưới thời nhà Mạc. Dưới triều Mạc Phúc Nguyên ông giữ chức Đô Ngự Sử rồi Thượng Thư bộ Lại, tước Thủ Quận Công.

Năm Tân Hợi (1551), nhân việc vua Mạc Phúc Nguyên cả tin vào lời dèm pha của cha con Phạm Quỳnh, Phùng Quốc Công Lê Bá Lý cùng Nguyễn Thiến và hai con ông là Nguyễn Quyện và Nguyễn Miện bỏ nhà Mạc về với nhà Lê. Nhà Mạc đã nhờ Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm, vốn là thầy học của Nguyễn Thiến đi dụ ông trở lại với nhà Mạc, nhuhg ông nhất quyết không trở lại. Ông và Lê Bá Lý đã tham gia cuộc tiến công ra Bắc dưới sự thống lĩnh của Thái sư Trịnh Kiểm, chiếm Thăng Long, đánh lên Đông Bắc đuổi nhà Mạc đến Kinh Môn. Vì quân Mạc cho quân đánh vào Thanh Hóa, quân Trịnh phải rút khỏi Thăng Long năm Đinh Tỵ (1557). Cùng năm ấy Nguyễn Thiến qua đời.

Đời thứ hai hai: NGUYỄN QUYỆN

Ông là con cả của Nguyễn Thiến. Ông làm quan với nhà Mạc. Là một người có tài thao lược, thành thạo thiên văn địa lý. Năm Tân Hợi (1551), ông theo cha về với nhà Lê. Sau khi cha mất, năm Đinh Tỵ (1557), ông được chúa Trịnh giao nhiệm vụ ra trấn thủ Phủ Thiên Trường thuộc trấn Sơn Nam (tức trấn thủ vùng tỉnh Nam Định ngày nay). Nhà Mạc cho người mang hậu lễ tới dụ, Quyện cùng em là Miện quay lại với nhà Mạc. Vua Mạc gả hai công chúa cho hai anh em và phong Quyện là Văn Phái Hầu và Miện là Phù Hưng Hầu. Cuối mùa thu cùng năm, Thái Sư Trịnh Kiểm đem quân tiến công Sơn Nam, Nguyễn Quyện theo lệnh của vua Mạc đã chặn đánh kịch liệt quân Trịnh ở sông Giao Thủy, gây cho quân Trịnh nhũhg tổn thất nặng buộc họ phải rút về Thanh Hóa, ông được vua Mạc phong là Thạch Quận Công.

Năm Giáp Tuất (1574), ông được lệnh đuầ binh thuyền vượt biển vào chiếm đất Nghệ An. Ông đuổi và bắt sống được tướng của chúa Trịnh là Hoành Quận Công. Trịnh Tùng sai hai tướng Lai Quận Công Phan Công Tích và Tấn Quận Công Nguyễn Cảnh Hoan điía quân vào để khôi phục lại đất đai, đánh giằng co mấy tháng liền. Vì liệu sức không địch nổi, Nguyễn Quyện quyết định rút quân ra Bắc.

Năm Ất Hợi (1575), Thạch Quận Công Nguyễn Quyện lại đuầ quân đánh chiếm Nghệ An một lần nữa. Tiết chế Trưởng Quốc Công Trịnh Tùng lại sai Thái Phó Quận Công Lại Thế Khanh, Tấn Quận Công Nguyễn Cảnh Hoan và Lai Quận Công Phan Công Tích đưa quân vào đối phó, chia quân phòng ngự các nơi. Nguyễn Quyện phát hiện nơi Lai Quận Công Phan Công Tích chiếm giữ, khu vực Lèn Hai Vai (ở Diễn Châu), là một nơi tử địa, nên tập trung quân bao vây đánh tiêu diệt. Lai Quận Công Phan Công Tích phải mổ bụng tự tử.

Tuy thế, quân của Nam triều đánh giằng co với quân Bắc triều. Nhiều lần, Nguyễn Quyện bị Nguyễn Cảnh Hoan bám sát, đuổi đánh. Vì đánh lâu ngày, cạn lương, Quyện buộc phải theo bờ sông Lam để lui quân; bị đánh ở Võ Liệt, ờ Thái Lão, nhiều quân Bắc bị giết, hàng ngũ tan tác, ông lại phải cho quân rút bằng thuyền.

Năm Bính Tý (1576), ông đuầ quân đánh Nghệ An lần thứ ba, đồng thời Khiêm Vương Mạc Kính 'Điển đem quân đánh

Thanh Hóa. Trịnh Tùng cho gửi mật thư gọi Nguyễn Cảnh Hoan về Yên Trường để bàn kế hoạch. Biết được tin này, Nguyễn Quyện cho đặt phục binh ở Tình Gia và bắt sống được Nguyễn Cảnh Hoan rồi cho giết Nguyễn Cảnh Hoan. Nguyễn Quyện và Nguyễn Cảnh Hoan là người cùng một tổ. Nguyễn Quyện thuộc phân hệ Nguyễn Đình Thượng Xá (Nghi Lộc, Nghệ An), Nguyễn Cảnh Hoan thuộc phân hệ Nguyễn Cảnh (Nam Đường, Nghệ An).

Tương truyền có lần giáp chiến với Tấn Quận Công Nguyễn Cảnh Hoan, Thạch Quận Công Nguyễn Quyện đã làm thơ để khiêu khích như sau:

Hoan châu trước cước lộ thôi thôi Vạn ìỷ hành chinh tửu hạc lôi Tương thức dĩ hà phong trí Tấn Nam vô lưỡng tự Tấn như Lai.

Tạm dịch là:

Hoan châu đường sá bước rtgấp ngôi Muôn dặm hành quân rượu cạn rồi Nào biết /ấy gì phong ông Tấn Nam vô hai chữ Tấn Như Lai.

Câu cuối cùng có nghĩa đen là Nam vô hai chữ tiến lên đức Phật Như Lai nhưng có nghĩa bóng là Tấn Quận Công rồi cũng bị giết như Lai Quận Công Phan Công Tích.

Về sau, đúng như Nguyễn Quyện đã nói, Tấn Quận Công đã bị Quyện bắt sống rồi giết chết.

Nguyễn Quyện được phong là Thượng Quốc Công. Năm Đinh Hợi (1577), Thượng Quốc Công Nguyễn Quyện đưa 

quân vào Thanh đánh Nam Triều lần cuối cùng bị thua nặng ở Quảng Xương. Năm Nhâm Thìn (1592), ông làm Thống suất của quân Mạc giao chiến với quân Nam ở Thăng Long và bị bắt. Trịnh Tùng tìm cách phủ dụ. Thường Quốc Công Nguyễn Quyện nói: “Ta chịu ơn sâu của nhà Mạc, há có thể đổi dạ thay lòng được sao!” Nguyễn Quyện bị giam hai năm rồi mất trong tù vào năm Giáp Ngọ (1594).

Đời thứ hai hai: NGUYỄN MIỆN

Ông là con thứ hai của Nguyễn Thiến, là em của Nguyễn Quyện. Ông phò Mạc rồi theo cha và anh về với Nam Triều Lê, Trịnh. Khi cha chết, năm Đinh Tỵ (1577), ông cùng anh ruột trở về với nhà Mạc, được nhà Mạc gẳ công chúa và phong tước Phù Hưng Hầu cùng anh chỉ huy trong các trận đánh quân Trịnh. Năm Tân Mão (1591) ông cũng bị bắt và chết trong tù. Ông sinh ra Nguyễn Nhậm.

Đời thứ hai ba: NGUYỄN NHẬM

Ông là con của Nguyễn Miện. Ông làm tướng của quân Mạc theo cha đánh quân Trịnh được phong là Nam Dương Hầu. Khi cha bị bắt, ông vẫn kiên trì ý đồ khôi phục lại nhà Mạc. Năm Canh Tý (1600), ông đưa đại quân đánh Trịnh ở Hoàng Giang (thuộc Sông Hồng) không thành, bị truy đuổi rồi bị bắt ở Nam Xang (Lý Nhân, Hà Nam) ông tự mổ bụng chêt (có tư liệu ghi tự cứa cổ nhảy xuống sông chết) rồi bị chém bêu đầu ờ Yên Trường. Ông sinh ra Lệnh Thiện.

Vì Nguyễn Quyện, Nguyễn Miện, Nguyễn Nhậm theo nhà Nhuận Mạc, các bô lăo dòng họ Thượng Xá đã gạch tên cả chi họ này khỏi gia phả, và các con cháu ở Canh Hoạch phải mai danh ẩn tích.

Đời thứ hai bốn: NGUYỄN LỆNH THIỆN

Ông là con trai của Nguyễn Nhậm. Vì nhà Mạc bị diệt, vì cha bị họ Trịnh bêu đầu, ông phải trốn vào Tiên Điền, huyện Nghi Xuân, phủ Đức Quang, trấn Nghệ An (nay thuộc Hà Tĩnh) mai danh ẩn tích để tránh sự đàn áp của chúa Trịnh. Chi họ Tiên Điền, một nhánh của đại chi Canh Hoạch, thuộc phân hệ Thượng Xá bắt đầu hỉnh thành từ đấy (khoảng năm Canh Tý -1600). Ông sinh ra Đức Hạnh.

Đời thứ hai lăm: NGUYỄN ĐỨC HẠNH

Ong là con trai Nguyễn Lệnh Thiện, cùng ở ẩn với cha ở Tiên Điền. Vì chắt ông là Nguyễn Nghiễm làm tham tụng (tể tướng) ở phủ chúa, tước Xuân Quận Công nến năm Tân Tỵ (1761) ông được truy phong là Tham Đốc Phương Thạch Hầu. Ông sinh ra Nguyễn Bảo Lộc.

Đời thứ hai sáu: NGUYỄN BẢO LỘC

Ông là con trai của Nguyễn Đức Hạnh. Vì đời cháu nội là Nguyễn Nghiễm giữ chức tham tụng, tước quận công nên ông được truy phong là Vinh Lộc Đông Các Điện Đại Học Sĩ, Hộ

Bộ Thượng Thư, tước Phú Quốc Công. Ông sinh ra Nguyễn Quýnh.

Đời thứ hai bảy: NGUYỄN QUÝNH

Ông là con Nguyễn Bảo Lộc. Ông có đi thi. Vì đi thi chỉ khai lý lịch tam đại cho nên triều đình chúa Trịnh không phát hiện ông là dòng dõi Nguyễn Quyện, Nguyễn Miện, Nguyễn Nhậm tức là nhữig người đã từhg chống Trịnh. Ông được phong chức Quận Công, vì có con làm đến tham tụng. Ông sinh 3 trai: Huệ, Vỹ và Nghiễm.

Đời thứ hai tám: NGUYỄN HUỆ

Ông là con cả của Nguyễn Quỹnh. Ông sinh năm Giáp Thân (1704), đỗ tam giáp đồng tiến sĩ năm Quí Sửu (1733). Đỗ xong rồi mất năm Quí Sửu (1733).

Đời thứ hai tám: NGUYỄN VỸ

Ông là con tnứ hai của Nguyễn Quýnh. Ông đỗ hương cống năm Tân Hợi (1731).

Đời thứ hai tám: NGUYỄN NGHIÊM

Ông là con thứ ba của Nguyễn Quýnh. Ông sinh năm Mậu Tý (1708), tự là Hi Tư, hiệu là Nghi Hiên, còn hiệu là Hồng

Ngư cư sĩ. Ông đỗ hoàng giáp, làm quan đến chức Tham Tụng.

Là một tướng giỏi, ông đã chỉ huy chiến cuộc Sầm Thượng (Sầm Nưa), làm phó cho Hoàng Đình ái trong chiến cuộc vượt lũy Thầy đánh chiếm Phú Xuân năm Giáp Ngọ (1774), được phong tước Xuân quận công. Ông là một nhà sử, một nhà thơ, tác giả của Nghi Hiên thi tập, của Lê triều Nguụễn tướng công gia huấn co. Ông có 8 vợ, 21 con trong đó có Nguyễn Khản, Nguyễn Du. Ông mất năm 1775, mộ táng tại Tiên Điền.

Đời thứ hai chín: NGUYỄN KHẢN

Ông là con trai của Nguyễn Nghiễm, ông sinh năm Quí Sửu (1733), đỗ tam giáp đồng tiến sĩ, làm đến chức tham tụng ở phủ chúa. Năm Giáp Thìn (1784) kiêu binh đã đến phá phủ của ông. Ông phải lẩn tránh. Ồng mất năm Bính Ngọ (1786).

Đời thứ hai chín: NGUYỄN NẺ

Ong là con của Nguyễn Nghiễm, ông đậu cử nhân làm quan với chúa Trịnh, khi Tây Sơn ra, ông làm quan với Tây Sơn.

Đời thứ hai chín: NGUYỄN QUỲNH

Ong là con của Nguyên Nghiễm, ông làm quan với chúa Trịnh, khi Tây Sơn ra, ông chống lại Tây Sơn và bị giết.

Ông là con của Nguyễn Nghiễm và bà vợ bé Trần Thị Tần. Ông sinh năm Bính Tuất (1766). Ông có tên tự là Tố Như, tên hiệu là Thanh Hiên, còn có hiệu là Hồng Sơn liệp hộ hoặc Nam Hải điếu đồ. Cha mất lúc ông mới 9 tuổi. Đến 12 tuổi thì mẹ mất. Ông ở với anh là Nguyễn Khản làm tham tụng ở phủ chúa Trịnh, Thăng Long. Năm 18 tuổi ông đỗ tam trường. Năm Giáp Thìn (1784), kiêu binh làm loạn, đốt nhà Nguyễn Khản, gia đình mỗi người chạy một ngả. Nguyễn Du chạy về ở nhà cha nuôi họ Hà giữ một chức quan võ nhỏ ở Thái Nguyên, Cha nuôi chết, ông được tập phong giữ chức cha. Năm Bính Ngọ (1786), Tây Sơn ra Bắc rồi năm Mậu Thân (1789), Nguyễn Huệ đánh bại Tôn Sĩ Nghị; Chiêu Thống chạy sang Trung Quốc, triều đại nhà Lê chấm dứt. Nguyễn Du chạy về quê vợ ở xã Hải An (Quỳnh Lôi, Thái Bình), sống mười năm khổ sở, không chịu ra làm quan với Tây Sơn, trong lúc anh ruột ông Nguyễn Nễ và anh vợ ông Đoàn Nguyễn Tuấn làm quan với Tây Sơn, còn một người anh khác Nguyễn Quỳnh lại chống Tây Sơn và bị giết. Năm Bính Thìn (1796), ông trở về quê hương Tiên Điền (Nghi Xuân, Hà Tĩnh) chuẩn bị vào Nam theo Nguyễn Ánh thì lộ bị bắt. Cũng may người bắt ông là Nguyễn Thân, một tướng Tây Sơn, bạn của Nguyễn Nề anh ruột ông, nên ông chỉ bị giam mấy tháng rồi được thả.

Năm 1802, Gia Long lên ngôi và gọi ông ra làm quan. Vì nghĩ mình không có sự đóng góp vào sự lập quốc của nhà Nguyễn, nên ông không muốn làm quan, nhưng tình thê không thể từ chối, ông buộc phải ra nhận chức tri huyện huyện Phù Dung, phủ Khoái Châu. Ba tháng sau được thăng chức tri phủ Thường Tín. Trong mười năm làm quan với Gia Long, ông đã ba lần xin cáo quan: lần thứ nhất vào mùa thu năm 1804, lần thứ hai vào mùa thu năm 1808 và lần thứ ba vào mùa thu năm 1812. cả ba lần, chỉ sau ít lâu, Gia Long đã có chỉ triệu ông vào Kinh, thăng chức cho ông: Lần thứ nhất 1806, thăng Đông Các Học Sĩ, lần thứ hai 1809, thăng Cai bạ (tức Bố chánh) Quảng Bình; lần thứ ba năm 1813 thăng Cần Chánh Điện Học Sĩ, sung chức Chánh Sứ sang Trung Quốc và năm 1814, khi đi sứ về thăng chức Tham Tri (thứ trưởng) bộ Lễ. Xem đó có thể thấy Gia Long rất trọng dụng ông, vì đã giao ông giữ chức mà người đậu tiến sĩ có khi cũng không được đảm nhiệm, mặc dù ông chỉ đậu tam trường. Năm 1820, sau khi lên ngôi, Minh Mạng lại cử ông đi sứ để cầu phong nhưng ông qua đời lúc mới 55 tuổi.

Ông là một đại thi hào của dân tộc ta. Ong là tác giả của Truyện Kiều nổi tiếng, một kiệt tác thơ quốc âm điêu luyện với lời thơ trau chuốt có một không hai trong lịch sử nước ta. Thơ văn ông được tập hợp trong Thanh Hiên thi tập và Bắc Hành tạp lục.

Ông là một người tuy làm quan nhưng sống thanh bạch như một học trồ nghèo. Qua thơ văn có thể thấy ông ca tụng những tấm gương anh dũng, tiết liệt, đả kích phường gian nịnh, bạo tàn; xót thương người nghèo khó, đặc biệt bênh vực và xói thương những phụ nữ tài hoa, bạc mệnh.

Cuộc đời ông là một cuộc đời bất đắc chí, không thiết tha với việc làm quan. Đại Nam chỉnh biên liệt truyện ghi: “Đối với nhà vua thì ông chỉ giữ hết bổn phận, chứ không hay nói năng điều gì”. Ông có để lại cho đời sau một câu bi đát về thân phận mình: "Không biết hơn ba trăm năm sau, thiên hạ có ai khóc Tố Như không?”.

Mộ ông táng tại Tiên Điền, nhà thờ ông cũng ở Tiên Điền. Ngôi mộ và nhà thờ ông đã được công nhận là di tích lịch sử và văn hóa và đã được trùng tu. Ông có ba vợ sinh 12 trai và 6 gái.

Đời thứ ba mươi: không rõ Đời thứ ba mốt: NGUYỄN MAI

Ông là cháu nội của Nguyễn Du, sinh năm 1876, đỗ tam giáp đồng tiến sĩ, mất năm 1956.

* * *

Chi họ Nguyễn Cảnh Hoạch Tiên Điền là một chi họ có đông đảo hậu duệ có nhiều người đậu đạt cao, giữ nhiều chức vụ quan trọng. Chỉ mới ghi 14 đời đã có 6 tiến sĩ trong đó có một trạng nguyên, một thám hoa, một hoàng giáp, ba tham tụng (tể tướng), 8 quận công, 10 tước hầu. Cho nên ở Tiên Điền có câu:

Bao giờ ngàn Hống hết cây

Sông Lam hết nước, họ này hết quan.

(ngàn Hông là núi Hồng Lĩnh)

Đời thứ NGUYỄN HOÀNH TỪ

Có tư liệu ghi ông là hậu duệ của Cương quốc công Nguyễn Đình Xí nhùhg không rõ thuộc đại chi nào trong số 15 con của Cương Quốc Công. Ông sinh năm 1536, mất năm 1599 (ông kém Đoan Quốc Công Nguyễn Hoàng 12 tuổi). Ông ờ xã Phật Não, huyện Thạch Hà (Hà Tĩnh). Ông được phong Tiết Nghĩa Quận Công. Ông có 4 con: Thống, Thắng, Lợi, Chanh.

Đời thứ... : NGUYỄN HOÀNH THốNG

Ong là con cả của Nguyễn Hoành Từ, ông được giữ chức Hàn Lâm Viện Học Sĩ.... Hậu duệ ộng thành một phân chi ở Phật Não, Thạch Bình (Thạch Hà, Hà Tĩnh).

Đời thứ... : NGUYỄN HOÀNH THANG

Ông là con thứ hai của Nguyễn Hoành Từ. Ông chuyển cư về Tiên Điền (vô khảo).

Đời thứ... : NGUYỄN HOÀNH LỢI

Ồng là con thứ ba của Nguyễn Hoành Từ. Ông chuyển cư về Hội Thống (Xuân Hội, Nghi Xuân, Hà Tĩnh) hình thành một chi ở đấy.

Ông là con thứ tư của Nguyễn Hoành Từ. Hậu duệ có một chi ờ Hương Duệ (Hương Khê, Hà Tĩnh), một chi ờ Lam Vĩ (Thiệu Hóa, Thanh Hóa), một chi ở Quán La (Từ Liêm, Hà Nội). Chi Quán La sau phát triển ra nhiều tỉnh Bắc bộ và cả ờ Thừa Thiên, chi Lam Vĩ sau đổi chữ lót là Nguyễn Quang, Nguyễn Trọng, Nguyễn Hắc.

ĐẠI CHI: NGUYỄN KHOA

Có tư liệu ghi chi Nguyễn Khoa bắt nguồn từ Nguyễn Đình Thân hậu duệ của Nguyễn Đình Xí. Nguyễn Đình Thân vào Nam cùng Đoan Quốc Công, đổi thành Nguyễn Khoa để tránh liên lụy đến bà con ờ Bắc.

 

Mục 5

HẬU DUỆ CỦA ĐẠI CHI NHỊ KHÊ TRONG THỜI KỲ II CỦA NHÀ LÊ

Sau đây chỉ ghi được hậu duệ của Nguyễn Anh Vũ, con trai của Nguyễn Trãi. Chắc chắn còn có hậu duệ khác của đại chi Chi Ngại và Nhị Khê chưa ghi được, bởi vì hiện nay ở nông trường Sao Đổ còn có nhiều hậu duệ Chi Ngại, ơ Nhị Khê, ở Phượng Vũ, ở Ngọc Sơn, ở Xuân Dực cũng có hậu duệ của Nguyễn Trãi và của nhiều vị gốc Chi Ngại không phải là hậu duệ Nguyễn Trãi. Mong các vị tự phát hiện để ghi vào phả.

Một điểm đáng chú ý là, Nguyễn Trãi được minh oan, con ông đã về quê cũ. Vậy quê cũ là Chi Ngại hay Nhị Khê. Cũng có thể là Nhị Khê vỉ ở Nhị Khê ngày nay có nhà thờ Nguyễn Trãi. Nhưng có một điểm cần suy nghĩ là phần lớn các vị hậu duệ ghi được ở đây lại có mộ táng tại Đồng Trong, Đồng Cấm, Thiên Mã,'Đồng Chữ... tức là ở Chi Ngại. Việc này có thể có hai cách giải thích:

Một là Anh Vũ trở về quê cũ là Chi Ngại cho nên hậu duệ đều chôn ở Chi Ngại (có nhiều khả năng).

Hai là hậu duệ ờ các vùng khác (trong đó có Nhị Khê) nhưng sau khi mất được chôn hay cải táng về Chi Ngại.

Điều đó nói lên dù Nhị Khê có đền thờ nhưng đó chỉ là nơi trú quán mà thôi, còn chính quê gốc vẫn là Chi Ngại. Tuy nhiên, chắc chắn ở Nhị Khê có một chi họ được giao giữ gìn nhang khói của nhà thờ, còn mộ tổ Phi Khanh, Nguyễn Trãi thì lại ở Chi Ngại.

Sau đây xin ghi các vị tổ hậu duệ của Nguyễn Trãi.

Đời thứ mười tám: NGUYỄN ANH VŨ

Ong là con trai của Nguyễn Trãi và bà á thất Phạm Thị Mẫn. Khi Nguyễn Trãi bị oan bị tru di, bà đang đi chợ và đang có mang ba tháng. Bà vội chạy về quê cha ở Bối Khê (Thường Tín) để lánh nạn rồi sinh con, đặt tên là Anh Vũ và lấy họ mẹ

Phạm Anh Vũ. Được ít lâu, họ Nguyễn Đại Tông đưa mẹ con bà về Gia Miêu để lánh nạn từ năm Quí Hợi (1443) đến năm Giáp Thân (1464). Giòng họ Nhị Khê biết ơn Đại tộc Gia Miêu của Nguyễn Biện đã giữ được nòi giống của Nguyễn Trãi chính là vì thế.

Sau hơn hai mươi năm lánh nạn ở Gia Miêu ngoại trang, Nguyễn Anh Vũ được Lê Thánh Tông, sau khi đã minh oan cho Nguyễn Trãi, hạ chiếu cho tìm để lục dụng và cho lấy lại họ cha. Anh Vũ đi thi đậu tam trường, được bổ nhiệm làm tri huyện Tây Chân (Nam Trực, Nam Định) rồi quyền tri phủ. Ông có hiệu là cảnh Hiên tiên sinh, phả cũ ghi Tùng Hác tiên sinh, ông hay làm thơ, thọ 58 tuổi mất ngày 20 tháng 11, mộ táng tại xứ Đồng Chữ (Chi Ngại).

Tổ bà : LÊ THỊ ĐƯỜNG

Bà có tên hiệu là Từ Lược thọ 60 tuổi, giỗ ngày 13 tháng

3,       mộ táng tại xứ Đồng Chữ (Chi Ngại).

Ông bà sinh hai trai: 1) Giám (Tạc), 2) Kiên và 3 gái: 1) Xuân, 2) Thường, 3) Chức.

Đời thứ mười chín: NGUYỄN GIÁM (Tạc)

Ông là con đầu của Anh Vũ. Ông có tên hiệu là Phúc Đoan, được ấm thụ tước Hoằng Tín sứ, làm Thừa chính sứ An Bang (Quảng Ninh),,được cử đi sứ Trung Quốc; năm 62 tuổi bị rắn cắn chết, giỗ ngày 23 tháng 2, mộ táng tại xứ Đồng Cấm (Chi Ngại). Chi ông về giữ nhà thờ Nhị Khê.

Tổ bà: TRẦN THỊ TỪ CAN

Từ Cẩn là tên hiệu, thọ 52 tuổi, giỗ ngày 20 tháng 5 mộ táng tại xứ Đồng Cấm (Chi Ngại) sinh một gái là Nguyễn Thị Huệ lấy chồng xã Nguyệt Áng.

Tổ bà á thất: LÊ THỊ THỤC TƯỜNG

Thục Tường là tên hiệu, thọ 62 tuổi, giỗ ngày 29 tháng 4, mộ táng tại xứ Đồng Trong (Chi Ngại) sinh 3 trai: 1) Thành, 2) Khai, 3) Kết.

Đời thứ mười chín: NGUYỄN KIÊN

Ông là con thứ của Anh Vũ. Ông có hiệu là Xương Vĩnh, thi đỗ nho sinh, ấm thụ tước Mậu Lâm Lang, thọ 52 tuổi, giỗ ngày mồng 6 tháng giêng, mộ táng tại xứ Biên Đống (Chi Ngại).

TỔ bà: PHẠM THỊ TỪ ĐẠT

Từ Đạt là tên hiệu, thọ 64 tuổi, giỗ ngày 20 tháng 12, mộ táng tại xứ Đồng Trong (Chi Ngại).

Sinh 4 trai: 1) Đốc, 2) Trọng Tuyên, 3) Trọng Hải, 4) Trọng Lược; và 2 gái: 1) Thị Bình lấy chồng người xã; 2) Thị Khang lấy chồng người xã Khánh Vân.

Đời thứ hai mươi: NGUYỄN THÀNH

Ong là con cả của Nguyễn Giám, đỗ đồng tiến sĩ khoa Giáp Thìn (1544) làm giáo thụ huyện Yên Lạc, rồi tri huyện

Đông Anh. Ông có tên hiệu là Băng Thanh, thọ 51 tuổi, giỗ ngày 13 tháng 9, mộ táng tại xứ Thiên Mã (Chi Ngại).

Tổ bà: LÊ THỊ TỪ BÍNH

Từ Bính là tên hiệu, thọ 62 tuổi, giỗ ngày mồng 2 tháng 2, mộ táng tại xứ Thiên Mã (Chi Ngại).

Sinh 4 gái: 1) Thị Trung lấy chồng người xã; 2) Thị Tỉnh lấy chồng xã Nguyệt Áng; 3) Thị Liên lấy chồng người xã; 4) Thị Đạt cũng lấy chồng người xã.

Đời thứ hai mươi: NGUYỄN KHAI

Ông là con thứ hai của Nguyễn Giám, có tên hiệu là Đoan Trực, thi đỗ nho sinh, giỏi nghề thầy thuốc, thuở ấy gọi ông là “quốc thủ”. Giữ chức Kiểm Chính, thọ 72 tuổi mất ngày 20 tháng 8, mộ táng tại xứ Bên Miếu (Chi Ngại).

Tổ bà: TRẦN THỊ MAN

Bà thọ 40 tuổi, giỗ ngày mồng 7 tháng 3, mộ táng tại xứ Đồng Trong (Chi Ngại), sinh 2 gái: Thị Thoa, Thị Xuyến đều lấy chồng người xã.

Tổ bà á thất: LÊ Từ DIỆU

Từ Diệu là tên hiệu, thọ 62 tuổi, giỗ ngày 20 tháng 3, sinh 4 trai: 1) Tử Anh; 2) Tử Kính; 3) Vân Hòa; 4) Minh Quyết, 2 gái: Thị Trường; 2) Thị Trực đều lấy người làng.

Ồng là con thứ ba của Nguyễn Giám. Ông có tên hiệu là Vĩnh Lạc, không rõ ngày mất, sinh một gái.

Đời thứ hai mươi: NGUYỄN ĐỐC

Ông là con cả của Nguyễn Kiên, có hiệu Phúc Thân, làm nghề y, cứu chữa rất nhiều người, giỗ ngày 20 tháng 6 là ngày ra đi tòng chinh, mộ vọng tại xứ Bên Miếu (Chi Ngại). Ông tòng chinh sang Lào, hy sinh, không rõ ngày mất và nơi táng.

TỔ bà: LÊ TỪ LƯƠNG

Từ Lương là tên hiệu. Giỗ ngày mồng 10 tháng 11, mộ táng tại xứ Thiên Mã (Chi Ngại), sinh 2 trai: 1) Văn Đạt; 2) Đỉnh Mỹ; 4 gái: 1) Thị Thân; 2) Thị Khả đều lấy chồng người xã; 3) Thị Hoặc lấy chồng người xã Khánh Vân; 4) Thị Thanh lấy chồng người xã Văn Ngoại.

Đời thứ hai mươi: NGUYỄN TRỌNG TUYÊN

Ông là con thứ hai của Nguyễn Kiên, có tên tự là Nghĩa Phu, đỗ tạo sĩ (tiến sĩ võ) giữ chức Điện Tiền Vệ úy, thọ 69 tuổi, giỗ ngày 18 tháng 4, mộ táng tại xứ Kim Ngư (Chi Ngại).

TỔ bà: LÊ Từ LỢI

Từ Lợi là tên hiệu, thọ 64 tuổi, mất ngày 12 tháng 11, mộ táng tại xứ Đống Cao (Chi Ngại) sinh 2 trai: 1) Văn Hạch; 2) Văn Cận; 3 gái: 1) Thị Thái; 2) Thị Phong; 3) Thị Tư đểu lấy chồng người làng.

Ông là con thứ ba của Nguyễn Kiên. Tên hiệu là Minh Thanh tiên sinh, đỗ nho sinh, thọ 59 tuổi, giỗ ngày 20 tháng giêng, mộ táng tại xứ Đống Cao (Chi Ngại).

Tổ bà: TRẦN THỊ TỪ HẠNH

Từ Hạnh là tên hiệu, thọ 64 tuổi, giỗ ngày mồng 10 tháng 7, táng tại xứ Bên Miếu (Chi Ngại), sinh ba trai: 1) Quốc Thiện; 2) Quốc Bảo; 3) Quốc Trân; một gái: Thị Trâm lấy chồng người xã Khánh Vân.

Đời thứ hai mươi: NGUYỄN TRỌNG LƯỢC

Ong là con thư tư của Nguyễn Kiên, thi đỗ tam trường, thọ 54 tuổi, giỗ ngày mồng 9 tháng 8, mộ táng tại xứ Thiên Mã (Chi Ngại).

Tổ bà: NGUYỄN TỪ KHANG

Từ Khang là tên hiệu, thọ 65 tuổi, giỗ ngày mồng 2 tháng 9, mộ táng tại xứ Đống Cao (Chi Ngại), sinh 2 trai: 1) Đình Cúc; 2) Đình Hòe; ba gái: 1) Thị Đường lấy chồng làng Lưu Xá; 2) Thị Thưởng, 3) Thị Pháp đều lấy người xã.

Đời thứ hai mốt: NGUYỄN TỬ ANH

Ông là con cả Nguyễn Khai. Thi đỗ sinh đồ (tú tài) được giữ chức giáo thụ huyện Mô Độ (nay là huyện Yên Mô), thọ 65 tuổi, giỗ ngày 22 tháng 12, mộ táng tại xứ Thiên Mã (Chi Ngại).

To bà: LÊ TỪ KHAI

Từ Khai là tên hiệu, thọ 40 tuổi, giỗ ngày 26 tháng 3, sinh một gái: Thị Ngọc lấy chồng người xã.

TỔ bà kế thất: TRẦN Từ KÍNH

Từ Kính là tên hiệu, thọ 60 tuổi, giỗ ngày 6 tháng 10, mộ táng tại xứ Đống Cao (Chi Ngại), sinh 3 trai: 1) Hữu Thanh; 2) Hữu Tích; 3) Hữu Dụng; 2 gái: 1) Thị Bản; 2) Thị Bốn đều lấy chồng người xã.

Đời thứ hai mốt: NGUYỄN TỬ KÍNH

Ông là con thứ hai của Nguyễn Khai. Ông có tên hiệu là Phúc Lập, thọ 80 tuổi, giỗ ngày mồng 5 tháng 3 nhuận, mộ táng tại xứ Thiên Mã (Chi Ngại).

Tổ bà: PHẠM ĐOAN TRANG

'Đoan Trang là tên hiệu, thọ 50 tuổi, giỗ ngày 26 tháng 5, mộ táng tại Đống Cao (Chi Ngại), sinh hai trai: 1) Ngọc Trấn; 2) Ngọc Nhuận.

Đời thứ hai mốt: NGUYỄN VẦN HÒA

Ong là con thứ ba của Nguyễn Khai, ông thi đỗ tạo sĩ (tiến sĩ võ), tên hiệu là Phúc Cung, giữ chức Chưởng cơ đề lĩnh quân vụ hai thành, thọ 72 tuổi, mất ngày 23 tháng 9 mộ táng tại xứ Đồng Cấm (Chi Ngại).

TỔ bà: LÊ Từ ÁI

Từ Ái là tên hiệu, giỗ ngày 18 tháng 8, sinh một trai (?), hai gái (?).

Đời thứ hai mốt: NGUYỄN MINH QUYẾT

Ông là con thứ tư của Nguyễn Khai, làm chánh tổng tổng nhà, thọ 62 tuổi, giỗ ngày 20 tháng 3, mộ táng tại Đống Cao (Chi Ngại).

Tổ bà: NGÔ TỪ TRINH

Từ Trinh là tên hiệu, bà thọ 67 tuổi, giỗ ngày 21 tháng 12, hợp táng với ông ở xứ Đống Cao (Chi Ngại), sinh 3 trai, 1 gái.

Đời thứ hai mốt: NGUYỄN VĂN ĐẠT

Ông là con cả của Nguyễn Đốc, hiệu Phúc Long, thọ 50 tuổi, giỗ 23 tháng 4, mộ táng tại xứ Đồng Bạch (Chi Ngại).

TỔ bà: TRẦN THỊ TỪ LIÊN

Từ Liên là tên hiệu, thọ 54 tuổi, giỗ ngày 14 tháng 5 sinh

3        trai, 2 gái.

Đời thứ hai mốt: NGUYỄN ĐÌNH MỸ

Ông là con thứ của Nguyễn Đốc, tên hiệu là Cương Quyết, thọ 67 tuổi, giỗ ngày 6 tháng 5, mộ táng tại xứ Đồng Cấm (Chi Ngại).

TỔ bà: LÊ THỊ TỪ HIẾN

Đời thứ hai mốt: NGUYỄN VĂN HẠT

Ông là con của Nguyễn Trọng Tuyên, hiệu Phúc Thâm, thọ 67 tuổi giỗ ngày 25 tháng 3, mộ táng tại xứ Đồng Cấm (Chi Ngại).

Tổ bà: LÊ THỊ TỪ Ý

Từ Ý là tên hiệu, thọ 60 tuổi, giỗ 10 tháng 5, sinh 4 trai.

Đời thứ hai mốt: NGUYỄN VĂN CẬN

Ông là con của Nguyễn Trọng Tuyên, ông có tên hiệu là Thanh Hiên, thi đỗ tam trường, thọ 67 tuổi, giỗ ngày mồng 6 tháng 10, mộ táng tại xứ Thiên Mã (Chi Ngại).

Tổ bà: THÁI THỊ TỪ ĐỨC

Từ Đức là tên hiệu, thọ 60 tuổi, giỗ ngày mồng 8 tháng 12, sinh 3 trai, 2 gái.

Đời thứ hai mốt: NGUYỄN QUỐC THIÊN

Ông là con của Nguyễn Trọng Hải, hiệu là Phúc Lập, làm chánh tổng tổng nhà, thọ 70 tuổi, giỗ ngày 12 tháng 5, mộ táng tại xứ Thiên Mã (Chi Ngại).

TỔ bà: TRẦN DIỆU HIỂN

Dòng họ Chi Ngại, Nhị Khê là một dòng họ đông đảo gồm 4 chi ở rải nhiều nơi. Trên đây mới ghi được một số vị tổ của một đại chi. Trong phả có ghi hậu duệ ở thôn Tuần Là, thôn Linh Quán, huyện Ngọc Sơn (Thanh Hóa), có chi ở xã Xuân Dục tỉnh Hải Dương, có chi có người đỗ cử nhân làm án sát Tuyên Quang đời Thiệu Trị, có chi ở huyện Tống Sơn (Thanh Hóa). Riêng ờ Hải Hậu, ở Quan Phương có một nhà thờ lớn thờ Nguyễn Trãi, trong số khoảng trên 40 chi hậu duệ của Nguyễn Bặc, ở đầy có 15 chi là hậu duệ của Nguyễn Anh Vũ.

 

MẤY LỜI KẾT

 

Việc nghiên cứu phần “Thượng phả” cho thấy dòng họ Nguyễn Bặc có những đặc điểm nổi bật sau đây:

Đây là một dòng họ ghi được gia phả lâu đời bậc nhất. Các dòng họ Việt Nam nói chung đều lâu đời, có viễn tổ từ thời Hùng Vương, nhưng có lẽ ít có dòng họ ghi được gia phả từ thế kỷ thứ mười như dòng họ Nguyễn với khởi tổ Nguyễn Bặc sinh năm Giáp Thân (924) đến nay gần 11 thế kỷ, gồm khoảng 40 đời hậu duệ.

Đây là một dòng họ có con cháu đông đảo bậc nhất. Tuy chưa đủ tư liệu để chắp nối được hết, trong hai đại hệ mới ghi được đại hệ một và trong đại hệ một gồm ba hệ, cũng mới có tư liệu nhiều về hệ I và hệ II, chủ yếu là hệ I. Tuy thế phả cũng đã ghi được 13 phân hệ và mấy chục đại chi. Nếu có đủ tư liệu thì số đời, số hệ, phân hệ, đại chi còn tăng lên gấp bội. Hiện nay hậu duệ dòng họ Nguyễn Bặc ở rải ra khắp Bắc Trung Nam và cả ở nước ngoài, có thể lên đến nhiều triệu người trong hàng nghìn chi họ. Riêng một huyện Hải Hậu (Nam Định) có khoảng 40 chi họ với 157 nhà thờ họ Nguyễn, còn ở Quảng Nam Đà Nẳng đã phát hiện hàng trăm chi họ.

Đây là một dòng họ có truyền thống yêu nước rất cao giống như các dòng họ Việt Nam khác. Truyền thống đó ngày xưa được thể hiện bằng tấm lòng trung quân ái quốc, dám hy sinh vì nước vì vua, bằng sự đóng góp công lao bảo vệ hoặc giải phóng đất nước, thống nhất non sông, xây dựng tổ quốc, giữ vững và mở mang bờ cõi....

Khởi tổ Nguyễn Bặc đã mở đầu cho truyền thống tốt đẹp đó. Ông đã tham gia khởi nghĩa Hoa Lư. Ông là vị tướng có công đầu giúp Đinh Tiên Hoàng dẹp yên 12 sứ quân, qui giang sơn về một mối, là vị thái tể giúp vào việc xây dựng nước Đại Cồ Việt hùng mạnh, tạo tiền đề để chiến thắng quân Tống xâm lược sau này. Việc ông khởi binh để giữ ngôi báu nhà Đinh không thành bị sát hại là một tấm gương trung liệt sáng ngời.

Nguyễn Đê đã góp công tôn phò Lỹ Thái Tổ lên ngôi, chấm dứt triều đại thối nát của Lê Ngọa Triều, lập nên một triều đại tiến bộ phù hợp với lòng dân.

Nguyễn Quang Lợi đã cùng Lê Phụng Hiểu dẹp yên loạn “tam vương", bảo vệ ngôi báu của Lý Thái Tông.

Nguyễn Viễn đã làm tướng tham gia các chiến cuộc đánh Tống dưới quyền thống lĩnh của Thái úy Lý Thường Kiệt và chiến cuộc đánh Champa do Lý Thánh Tông thân chinh cầm quân.

Nguyễn Phúc Lịch tham gia các chiến dịch Ung Liêm (1075), sông Như Nguyệt đánh Tống và chiến cuộc nam chinh (1104). Ông được gia phong Thái bảo.

Nguyễn Quốc, Nguyễn Dương đều chống quyền thần Đỗ Anh Vũ và đều hy sinh.

Nguyễn Nộn khởi binh để khôi phục cơ đồ nhà Lý. Khi thấy vận nhà Lý đã hết, vận nhà Trần đang lên thì di huấn cho con cháu về với nhà Trần để thống nhất đất nước, chấm dứt nạn binh đao để muôn dân hưởng thái bình.

Nguyễn Khoan ở ẩn, nhưng khi quân Nguyên Mông xâm lược, ông đã chủ động huy động con cháu, dân binh vùng Bình Lệ Nguyên đánh giặc phối hợp với quân triều đình, ông bị hy sinh, được Trần Thái Tông truy phong Trung Lương Thượng Đẳng Phúc Thần.

Nguyễn Long, chỉ huy quân cấm vệ đánh Nguyên Mông lập công được phong chức Thái Phó, tước Quận Công.

Nguyễn Hiến giữ chức chỉ huy sứ, tham gia đánh Nguyên Mông được phong tước hầu.

Nguyễn Thức chỉ huy vệ Thánh Dực tham gia trận quyết chiến sông Bạch Đằng rồi được phong chức Tả đô đốc.

Nguyễn Khoái tập kích địch ở Tây Kết thắng lợi được phong tước hầu và ban đất Thang Mộc ở Khoái Lộ (Khoái Châu, Hưng Yên).

Nguyễn Khả Lý đã tham gia đánh thắng trận Chương Dương rồi hy sinh trong trận Bạch Đằng.

Nguyễn Thế Truyền cũng tham gia đánh thắng địch ở Tây Kết và Hàm Tử.

Trong chiến cuộc đánh Chămpa năm 1377, Nguyễn Nạp Hòa đã hy sinh cùng vua Trần Duệ Tông trong trận Trà Bàn (Bình Định).

Cuối thế kỷ 14, Nguyễn Thành có công lớn chỉ huy đánh thắng quân Chămpa xâm lược Đại Việt và được phong Thái ủy Vinh Quốc Công.

Trong sự kiện cứu Đế Hiện không thành năm 1388, Nguyễn Công Sách, Nguyễn Minh Du đã bị Hồ Quý Ly sát hại.

Nguyễn Cảnh Chân, Nguyễn Súy, Nguyễn Cảnh Dĩ phò các vua Hậu Trần chống Minh, đều bị hy sinh Nguyễn Phong, Nguyễn Hô cũng hy sinh ở ngay trị sở ở Hưng Hóa và Thuận Hóa khi giặc Minh đánh chiếm.

Nguyễn Uyên, Nguyễn Sùng cũng đem quân đánh Minh. Khi Hậu Trần thất bại, hai ông phải đi ở ẩn.

Nguyễn Biện tích cực cung cấp lương thảo cho quân Hậu Trần và nghĩa quân của Lê Lợi.

Trong khởi nghĩa Lam Sơn, có khá nhiều hậu duệ Nguyễn Bặc là Bình Ngô Khai Quốc Công Thần và được vua Lê phong quốc tính.

Nguyễn Lý là một trong số 18 người tham gia “Hội thề Lũng Nhai do Lê Lợi đứng đầu. Trước sau ông chỉ huy đánh trên 50 trận, từ trận đầu ở Lạc Thủy đến trận quyết chiến cuối cùng à Xương Giang. Ông được truy phong Thái Phó Dụ Quốc Công.

Nguyễn Dã được mệnh danh là Sơn Đầu tướng quân. Sau thắng lợi được giữ chức Đô Đốc Thiêm Phủ Sự, sau được tiến phong Dũng Quốc Công.

Nguyên Trãi đã dâng Bình Ngô sách, hiến nhiều mưu hay kê gioi, đặc biệt đã đề ra chính sách tâm công, đánh vào lòng người phát động bốn phương nổi dậy như ong, viết nhiều bài văn dụ địch ra hàng có sức mạnh như đạo hùng binh mười vạn.

Nguyễn Công Duẩn có thể nói là vị chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần lo việc lương thảo từ đầu đến cuối cho nghĩa quân Lam Sơn.

Nguyễn Xí có công lớn đánh trận phá vây gian nan ở Khôi huyện, trận “sấm vang chớp giật” ở Bồ Đằng, trận “trúc chẻ tro bay” ờ Ninh Kiều Tốt Động.

Nguyễn Như Soạn cũng lập nhiều chiến công, được phong Á Khanh Hầu.

Năm 1470, Nguyễn Xí đã chủ xướng việc hạ bệ Nghi Dân, tôn phò Lê Thánh Tông lên ngôi. Ba anh em Nguyễn Đức Trung, Nguyễn Như Hiếu, Nguyễn Nhân Chính, chỉ huy quân cấm vệ đã diệt bọn nghịch tặc Đồn, Ban.

Năm 1510, Nguyễn Văn Lang, Nguyễn Bá Lân đã khởi binh từ Tây Đô ra Thăng Long hạ bệ tên quỷ vương Lê Ưy Mục, người đã giết ngay bà nội mình.

Nguyễn Cam đã mở ra sự nghiệp trung hưng của nhà Lê.

Trong thời kỳ nội chiến Nam Bắc triều, một số tướng họ Nguyễn đứng ở hai phe đối lập đã trung thành với chúa mình.

Nguyễn Cảnh Hoan thà chết chứ không chịu bỏ Trịnh theo Mạc.

Ngược lại Nguyễn Quyện, Nguyễn Miện, Nguyễn Nhậm cũng thà chết chứ không chịu bỏ Mạc theo Trịnh.

Các chúa Nguyễn đã thành công lớn trong việc Nam tiến, di dân, xây dựng xứ Đàng Trong phồn thịnh.

Các vị tướng họ Nguyễn nói trên nói chung đểu có tài thao lược kiệt xuất.

Trong khi làm tướng giúp Đinh Tiên Hoàng dẹp loạn 12 sứ quân, Nguyễn Bặc đã vận dụng nhiều mưu kế sáng tạo: Khi thì bao vây uy hiếp bức hàng, khi thì bao vây hun khói dụ hàng, khi thì cho bộ phận luồn sâu, kết hợp nội công ngoại kích, khi thì điệu hổ ly sơn rồi đánh vào trại địch, khi thì vây hãm dài ngày và dùng nỏ bắn tỉa tướng giặc.

Nguyễn Nộn đã biết phao tin bắt được đao thần ngựa thần, nằm mộng thấy Đức Phù Đổng Thiên vương trao cho cờ nghĩa để cứu đời trị loạn nhằm mực đích tranh thủ quần chúng, tập hợp hiền tài, đã chịu đem quân đi dẹp giặc Quảng Oai chứ không chịu bó tay về Thăng Long, đã biết nắm thời cơ khi Đoàn Thượng phải đối phó với thảo.khấu vùng đông bắc mà bất ngờ tấn công đánh bại Đông Hải Đại Vương, cuối cùng đã biết người biết ta quay về với nhà Trần đúng lúc.

Các tướng Bình Ngô Khai Quốc Công Thần họ Nguyễn đều quán triệt tư tưởng quân sự của Lê Lợi: lấy ít địch nhiều thường dùng mai phục, lấy yếu chống mạnh thường đánh tập kích, phục kích, nhưng khi rất cần thiết cũng biết cách công thành.

Để hạ bệ Nghi Dân, Nguyễn Xí đã giả mù, đành lòng dẫm chêt đuố con út mới sinh của mình để đánh lừa bọn Phan Đồn, Phan Ban, rồi nhân một bữa tiệc chúng mời chúng nhờ ông sờ đầu sờ cổ để xem tướng, mà bất ngờ rút dao dấu trong hài ra cắt cổ tên tướng cầm đầu, đồng thời hô phục binh giết lũ nghịch tặc, nhờ vậy mới đưa được một vị anh quân là Lê Thánh Tông lên ngôi.

Nguyễn Văn Lang đã bí mật xây dựng lực lượng vũ trang trong một số năm rồi bất ngờ đưa quân ra hạ bệ Uy Mục. Nguyễn Cam cũng tích cực xây dựng lực lượng một thời gian ở Sầm Châu tranh thủ sự đồng tình của dân và cựu thần nhà Lê, lập Lê Trang Tông làm minh chủ rồi mới giải phóng đất Thanh Nghệ làm bàn đạp đánh ra Bắc.

Các chúa Nguyễn đã biết vỗ về dân, xây dựng Đàng Trong phồn thịnh, xây dựng quân đội, đắp các chiến lũy để ngăn chặn các cuộc tiến công của chúa Trịnh rồi tiếp tục Nam tiến.

Nguyễn Hữu cảnh đã tổ chức dân di chuyển vào lập thành doanh trấn, rồi nắm thời cơ nhanh chóng thọc sâu xuống miền Tây, thọc lên Nông Pênh, rồi rút về Châu Đốc để hình thành đất Nam bộ ngày nay.

Nói tóm, với tài thao lược của mình, các vị tướng họ Nguyễn đã lập nên nhiều chiến công rực rỡ.

Số người làm quan họ Nguyễn được ghi vào sử rất đông. Có khá đông người được phong chức cao nhất: Thái Sư, Thái Phó, Thái Bảo. Rất nhiều người được phong Quốc Công, Quận Công, nhiều đại chi có 15, 16 đời quận công, có hàng nghìn người được phong tước hầu. Một số người giữ chức Tê Tướng, Tham Tụng, Thái úy, Đại tư đồ, Đại tư mã.

Dòng họ Nguyễn Bặc là một dòng họ có truyền thống cần cù lao động. Tuy gia phả không ghi rõ điểm này, nhưng chắc chắn đông đảo con em họ Nguyễn đã làm nhiều nghề để kiếm sống và phục vụ cho xã hội, cho đất nước, đặc biệt là nghề nông. Nhiều vị tổ họ Nguyễn đã có công khai phá đất đai ở nhiều nơi.

Dòng họ Nguyễn Thuyên đã góp phần vào việc mở mang xứ Cao Bằng. Dòng họ Nguyễn Địch, đã khai phá vùng Lâm Thao, Hạ Hòa. Các dòng họ Nguyễn Trãi, Nguyễn Đức Trung, Nguyễn Nhân Chính, Nguyễn Anh Vũ góp phần quai đê lấn biển ờ Hải Hậu, Tiền Hải, Nghĩa Hưng, Diễn Châu, Nghi Lộc và khẩn hoang ở vùng núi đồi Thanh Nghệ Tĩnh. Từ đời Lê Thánh Tông, hậu duệ họ Nguyễn đã vào khai khẩn ở Quảng Nam. Từ khi Nghĩa Dũng Đoàn do Nguyễn Hoàng thành lập, gồm nhiều bà con họ hàng ở Gia Miêu, thì các dòng họ Nguyễn đã vào rải ra khai dân lập ấp ở khắp các tỉnh Đàng Trong góp phần xây dựng xứ Đàng Trong thành một miền trù phú.

Chính truyền thống cần cù lao động của hậu duệ Nguyễn Bặc đã góp phần quan trọng vào việc xây dựng đất nước qua các thời đại cùng trăm họ.

Dòng họ Nguyễn Bặc cũng có truyền thống hiếu học, có nhiều nhà khoa bảng cao, có khá đông nhân tài văn hóa. Trong tổng số hàng nghìn người đậu đại khoa, số người dòng họ Nguyễn Bặc chiếm một tỉ lệ khá cao.

Dòng họ Nguyễn Cảnh có 16 đời tiến sĩ chuà kể các quan nghè hiện đại.

Nguyễn Thuyên sáng tạo ra chữ Nôm, Nguyễn Sĩ Cố cũng góp phần vào việc này. Các ông đều là những nhà khoa học.

Nguyễn Trãi ngoài việc là một nhà chính trị lớn, một nhà quân sự lớn còn là một nhà văn hóa lớn, nhà thơ lớn. Bình Ngô đại cáo là một bản tổng kết chiến tranh bất hủ, một bẳn thiên cổ hùng văn. Thơ văn của ông toát lên tư tưởng nhân nghĩa là đầu, nhân dân là gốc. Ông là một danh nhân văn hóa thế giới được UNESCO công nhận.

Nguyễn Gia Thiều là một vị tướng đồng thời là một nhà thơ, ông là tác giả của Cung oán ngâm khúc.

Nguyễn Hữu Hào đã viết cuốn Song tinh bất dạ bằng thể thơ Nôm, gồm 2.396 câu thơ lục bát hồi đầu thế kỷ 18.

Nguyễn Nghiễm, phụ thân Nguyễn Du là một quan văn giữ chức tham tụng (tể tướng) đồng thời là một vị tướng. Ông cũng là một nhà thơ, một nhà sử.

Nguyễn Du đã viết nên Truyện Kiều bất hủ hồi thế kỷ 19.

Nguyễn Đình Chiểu nhà thơ mù là tác giả của cuốn Lục Vân Tiên.

Dòng họ Nguyễn Bặc còn có một danh nhân đặc biệt: đó là thầy địa lý Tả Ao Nguyễn Công Tạo.

Ngoài ra có rất nhiều thầy đồ dạy học nổi tiếng, một số người dạy vua, dạy chúa như Nguyễn Đình Tư của đại chi Linh Đường. Rất nhiều người làm nghề thầy thuốc. Có người làm tướng kiêm ngự y chữa bệnh cho vua chúa và cho cả thường dân như Quận Công Nguyễn Cảnh Kiên.

Trong gia phả có ghi một số tổ bà có địa vị lớn như Thái hậu Nguyễn Ngọc Hằng, quý phi của Lê Thánh Tông, mẹ của Lê Hiến Tống. Thái phi Nguyễn Ngọc Báu, mẹ cửa Trịnh Tùng. Quốc mẫu Nguyễn Ngọc Diễm (Khương), mẹ của chúa Trịnh Sâm. Nhờ có các bà, gia đình được phong chức tước cho ông tổ, bà tổ mấy đời và được hưởng nhiều ân huệ.

Truyền thống có đạo đức nhân nghĩa cũng rất nổi bật. Lê triều Nguỵễrt tướng công gio huân ca là cuốn sách Nguyễn Nghiễm viết để dậy các điều “hiếu đễ, tam tòng, tứ đức, nhân, nghĩa, lễ, trí, tín” cho con cháu.

Đức tính công bằng nhân đức của các vị tổ cũng là một truyền thống được ghi. ở phân hệ Đại Từ, Nguyễn Uông ngồi dạy học ở nhà quan Ngự sử, đã cự tuyệt gái lắng lơ sang chùng ghẹo để giữ mình trong trắng, ơ đại chi Linh Đường, có Nguyễn Trọng Viêm, làm quan tới nhất phẩm nhưng rất nhân đức, thương dân nghèo, bẳn thân cũng rất nghèo nhưng rất liêm khiết, khi chết vẫn còn mắc nợ, nhà không có của cải, không có quần áo sang trọng.

Các vị tổ nữ, gia phả đều có ghi phẩm hạnh tam tòng tứ đức của các bà. Phả đại chi Linh Đường có ghi khi vị tổ Nguyễn Trọng Diệu hy sinh trong trận Thủy Ái, bà vợ là Nguyễn Thị cẩn thương xót đã chết theo ông. Câu chuyện chết theo chồng hy sinh ở Thủy Ái là một tấm gương được ca tụng ngày xưa.

Truyền thống tốt đẹp của dòng họ Nguyễn Bặc được ghi trong thượng phả này có rất nhiều, ở đây nói chưa hết.

Vì cuốn Thượng phả này không phải là một cuốn viết theo một mâu mực nhât định, vì viêt về các vị tổ của hàng nghìn năm trước, vì chưa chắp nối được hết, thiếu quá nhiều tư liệu lại có nhiều phả viết ngày xưa và viết cả ngày nay có nhiều chỗ chắp nối khác nhau, viết về hành trạng của nhiều vị tổ cũng khác nhau, cho nên tìm cho được chỗ đúng, chỗ chưa đúng quả là một vấn đề rất lớn, mất rất nhiều công phu. Phải đọc hàng vạn trang phả cũ, sử, tư liệu khác nhau trong hàng chục năm, phải trải qua nghiên cứu phân tích để tìm được chỗ hợp lý, chỗ chưa hợp lý mới dám đặt bút viết.

Tuy thế, khi viết thì thấy rõ là có vị tổ viết được kỹ, có vị tổ viết còn đơn sơ, có hệ, phân hệ, đại chi viết được nhiều, có hệ, phân hệ, đại chi, viết được ít hoặc chưa viết được. Tập phả như có một sự không cân đối. Tuy biết thế, nhưng nếu câu nệ bỏ đi không viết thì sẽ bỏ mất tư liệu, bỏ mất kết quả nghiên cứu của hàng chục năm, một kết quả rất cần thiết cho hậu thế khi nghiên cứu bổ sung hoặc viết lại phả.

Mong bà con họ Nguyễn và các độc giả thông cảm cho tấm lòng thành đó của người viết.

Tất nhiên, trong việc viết này không tránh khỏi những thiếu sót. Mong được đóng góp ý kiến.

NGUYỄN THẾ NGUYÊN