LỊCH SỬ HỌ NGUYỄN ĐẠI TÔNG LÀNG THƯỢNG CÁT

Nghiên cứu lịch sử Họ Nguyễn Đại Tông làng Thượng Cát là nhiệm vụ của nhóm nghiên cứu tìm hiểu lịch sử dòng họ. Nhóm được dòng họ giao nhiệm vụ từ nhiều năm nay, chúng tôi cũng đã cố gắng cùng nhau sưu tầm tài liệu trong họ và các dòng họ Nguyễn trên toàn quốc để làm sáng tỏ nhiều bí ẩn, nhiều giai đoạn bị gián đoạn trên gia phả còn để lại tại Đại tông đường và các nghành .

Qua nhiều lần chỉnh biên, lần này chúng tôi xin trình bày lại một cách có thể về lịch sử dòng họ ta. Chúng tôi rất mong sự đóng góp của bà con trong dòng họ, nhất là các cụ cao niên, con cháu nhà trưởng họ, cùng bà con cô bác xa gần, ban dại diện Họ Nguyễn toàn quốc, các nhà khoa học của Nhà nước như Viện Hán Nôm, Viện Sử Học…

Họ Nguyễn Đại Tông làng Thượng Cát, hiện nay còn lưu giữ:

- Biển phả bằng gỗ sơn son thiếp vàng, đây là tài sản vô giá chứa đựng nhiều thông tin cơ bản về dòng họ, chứa đựng giá trị về tài liệu cổ Hán học mang ý nghĩa lịch sử,  văn hóa cao về dòng họ và quốc gia.

- Một quyển phả sao lại từ một quyển phả cổ (đã mất).                  

- Hai bức hoành phi, hai câu đối cổ bằng chữ Hán.

- Toàn bộ ban thờ , đồ thờ cổ.

- Bản nhật ký ghi chép mọi hoạt động của dòng họ trong khoảng hai chục năm trở lại, như: Lễ giỗ tổ, giỗ cụ Bà, lễ dâng hương tại các nhà thờ Đại tông đường Nguyễn Bặc,  nhà thờ cụ Nguyễn Công Duẩn(Gia Miêu- Thanh Hóa), nhà thờ cụ Nguyễn Phúc Tâm tại Phú yên- Thọ Xuân –Thanh Hóa, Nhà thờ Cụ Nguyễn Phúc Tâm tại chi Đại Mỗ và chi Kim Lũ, cùng nhiều nhà thờ có liên quan. Các hoạt đông khuyến học, mừng thọ, tu sửa sắm mới các đồ thờ và các phụ kiện cần thiết cho lễ hội. Các hoạt động vinh danh các cá nhân có thành tích xuất xắc nổi trội trong học tập, làm việc, công tác xã hội. Các hoạt động trùng tu nhà thờ, mộ phần các cụ tổ. Hoạt động công đức , đóng góp tạo quỹ dòng họ.

- Hệ thống nhà thờ, Gia phả của các ngành dưới, chi dưới.

- Theo Cụ Nguyễn Xuân Từ(quyền trưởng họ)cho biết,  khi Cụ nhập ngũ (năm 1965) khi đó nhà thờ còn giữ được nhiều câu đối xung quanh tường,  có sắc phong đựng trong ống khuyển…Nhưng nay chỉ còn được như trên.

Nhờ tổ chức của Ban liên lạc Họ Nguyễn toàn quốc, UNECO dòng họ, trong đó có các ông: Nguyễn Thế Nguyên( đã mất), Nguyễn Cảnh Tú, Nguyễn Ngọc Ngạn, Nguyễn văn Sở, Nguyễn Duy Đô, Nguyễn Văn Thịnh…đã cung cấp cho chúng tôi một số tài liệu,  gia phả của dòng họ Nguyễn toàn quốc và các chi có liên quan đến họ Nguyễn toàn quốc.

Sau đây là phần sơ lược lịch sử của dòng họ Nguyễn Đại tông làng Thượng Cát.

Người khởi thủy dòng họ là cụ Tướng thần Nguyễn Khoan.

Trên biển phả (đã dẫn) bằng gỗ, được sơn son thiếp vàng được ghi lại mười Cụ.

Biển phả có tên: QUANG HIỂN NGUYỄN TÔNG GIA PHẢ.

Cụ thứ nhất Nguyễn Phúc Tâm đến cụ thứ tám Nguyễn Phúc Lương đều vinh danh là Cao cao tổ khảo. Cụ thứ chín và thứ mười được vinh danh là Cao tổ khảo. Không có cụ nào được vinh danh là Cụ Thủy Tổ của dòng họ.

Cuối cùng ghi:  Thiên Tử vạn vạn niên chi Tân Mùi(huyền bí- cao sang).

Cụ Nguyễn Khoan ở vị trí thứ ba. Cụ là người duy nhất được dùng tên húy(tên khai sinh, tên bố mẹ đặt ban đầu). Đặc biệt nữa là cả Cụ Ông và Cụ Bà đều được phong TƯỚNG THẦN(theo tiến sỹ Hán Nôm, Viện Hán Nôm,  Đinh Văn Minh)nhận xét: - Người có công với Đất Nước, có chức sắc mới được phong Tướng Thần.

- Cũng theo ông Đinh Văn Minh, gia phả chưa xác minh ai là thủy tổ của dòng họ có thể người lập gia phả không nhớ được tuần tự vì các cụ đã ở giai đoạn trước đã quá xa, hoặc gia phả bị gián đoạn nhiều thời kỳ, nay gom lại đưa vào gia phả để truyền lại cho đời sau. Họ cần tìm hiểu cho kỹ vì đây còn chứa nhiều điều bí ẩn.

Theo gia phả họ Nguyễn tại Nha Trang(tài liệu do Cụ Nguyễn Cảnh Tú cung cấp). Cụ Nguyễn Khoan là thủy tổ dòng Họ Nguyễn tại Nha Trang. Tóm tắt cuộc đời cụ được ghi như sau: Là vị quan thanh liêm, trung nghĩa, trí dũng kiêm toàn. Suốt trong những năm dưới quyền quản thủ của Ông tại các tỉnh thuộc biên giới Việt Hoa dânvẫn an cư lạc nghiệp. Trái lại quanh đế đô Thăng Long thì luôn xảy ra các cuộc biến loạn buộc Lý Chiêu Hoàng nhường ngôi cho Trần Cảnh(do Trần Thủ Độ bày ra). Nguyễn Khoan phải ôm uất hận treo ấn từ quan về ẩn dật tại quê nhà. Dù vậy ông vẫn bị nhà Trần theo dõi, giám sát bởi lo sợ cái gương của Đoàn Thượng, Nguyễn Nộn. Ông cùng vợ và ba người con là: Nguyễn Khoái, Nguyễn Khả Lập, Nguyễn Thế Truyền cùng dân binh tập luyện binh nghiệp tại trang trại gia đình,  ông vẫn theo dõi chính sự quốc gia. Khi cha con Nhà Trần là: Vua Trần Thái Tông cùng Thái Tử Trần Hoảngdấn thân ra trước trận đầu đánh giặc Nguyên Mông do tướng giặc là Ngột Lương Hợp Đài chỉ huy vào ngày 12/12 năm Bính thìn(1257), rồi rút khỏi Đế Đô làm vườn không nhà trống để dụ giặc, khiến Ông vô cùng khâm phục. Ông cùng ba con chỉ huy mọi người trong vùng làm nhà không nhà trống, cùng toàn bộ chiến binh chặn giặc trên đường rút lui. Mười hai ngày sau, Vua cho quân ngược dòng sông Hồng tập kích trại giặc ở Đông Bộ Đầu(bắc thành Thăng Long), giặc thua rút chạy, tới trận phục kích của cha con Nguyễn Khoan, bị tiêu diệt một số, đến trại Quy Hóa bị quân của Hà Bồng tiếp tục truy quét, quân giặc bỏ chạy thoát thân. Trong trận đó trang trại, nhà cửa của Ông nằm trên đường thoát chạy của giặc, đã bị giặc tàn phá đốt sạch, bản thân Ông bị tử thương vào đêm 24/12 năm Bính Thìn(1257). Sau khi Nguyễn Khoan mất, Nguyễn Khoái đưa Mẹ cùng hai emđến vùng Đông Triều(quê ngoại)định cư.

Sau khi toàn thắng giặc Nguyên Mông, vào năm Kỷ Sửu 1289, truy công tưởng lệ các công thần, vua Trần Nhân Tông có phong cho cụ Nguyễn Khoan chức”Trung lương tướng thượng đẳng thần”.

Sau khi  tham khảo gia phả Nha Trang, theo số điện thoại cụ Cảnh Tú cho, tôi có liên lạc với cụ Tôn là thư ký dòng họ Nguyễn Nha trang, cụ Tôn cùng công nhận hiện họ cũng chưa biết quê cụ Nguyễn Khoan ở đâu?

Qua gia phả Nha Trang, chúng tôi nhận ra ngày mất của cụ Nguyễn Khoan lại chính là ngày giỗ cụ Nguyễn Phúc Tâm mà chúng ta hàng năm vẫn tổ chức tế lễ cụ thủy tổ của dòng họ. (theo lời nhận xét của tiến sỹ Đinh Văn Minh, ngày giỗ cụ Nguyễn Phúc Tâm ghi trên biển phả là ngày 25/12, sau đó các cụ đổi thành ngày 25/11 như hiện nay).

Cụ Nguyễn Khoan được vua Trần Nhân Tông phong chức: Trung lương tướng thượng đẳng thần. Biển phả của chúng ta ghi cụ Ông và cụ Bà đều là tướng thần là đúng như nhận xét của tiến sỹ Đinh Văn Minh: Người có công với đất nước, có chức sắc mới được phong Tướng Thần.

Cụ Nguyễn Khoan được vua phong tướng thần, nhưng hiện nay chúng ta không giữ được sắc phong? Có một chứng tích tôi còn giữ được là: Khi cụ Nguyễn văn Huân( chú ruột của tôi), sau khi nghỉ hưu có về làng và có tham gia viết gia phả dòng họ. Hiện nay tôi còn giữ một sơ đồ gia phả dòng họ do cụ sưu tầm(lâu ngày đã sờn rách). Đáng chú ý là dòng bên cạnh tướng thần Nguyễn Khoan, cụ Huân ghi: Được nhà vua tặng bảng vàng vì có công phát chẩn cho dân vào năm 1347. Như vậy cơ sở để cụ Huân nghi như vậy phải có sắc phong? Đáng tiếc các sắc phong như vậy đã không còn( như lời cụ Nguyễn Xuân Từ đã dẫn ở trên).

Hiện nay tại chùa Kỳ Vũ, thuộc làng Thượng Cát còn lưu giữ một quả chuông đồng to, được các nhà hảo tâm đúc từ năm 1655. Xung quanh quả chuông được khắc toàn chữ hán, năm 2003, tiến sỹ Đinh Khắc Thuân(Viện Hán Nôm)dịch. Năm 2016 tôi có nhận được bản dịch này, đọc và nghiên cứu bản dịch, tôi có phát hiện dòng chữ: ”Quan viên tướng thần xã thôn trưởng hương lão lớn nhỏ trên dưới thôn Thị xã Thượng Cát huyện Từ Liêm phủ Quốc Oai là …có nhiều tên, trong đó có tên Nguyễn Khoái. ”

Theo tôi đây chính là cụ Nguyễn Khoái, con cả của cụ Nguyễn Khoan. Tôi khảng định như vậy bởi trước đó có dẫn chức danh của các cụ như: Quan viên, tướng thần…Lịch sử cổ đại của làng Thượng Cát không có nhân vật nào được vua phong tướng thần như cụ Nguyễn Khoan. Cụ Nguyễn Khóai là nhân vật lịch sử của Nhà Trần đã có công lớn giúp nhà trần đánh quân Nguyên Mông lần ba, năm 1288. Hiện nay tướng Nguyễn Khoái có tên phố tại Hà Nội, và Đại Việt sử ký toàn thư cũng đã nói rất rõ công trạng của ba người con cụ Nguyễn Khoan. Một số người trong họ ta còn thắc mắc : Quả chuông được đúc vào năm 1655, tại sao lại có tên một Nguyễn Khoái từ năm 1288? Theo hiểu biết của tôi: Trước dòng khắc về cụ Nguyễn Khoái, không nói đây là những người công đức đúc chuông? Tương tự dòng trước đó nói về một loạt các nhân vật có uy tín của triều đình lúc bấy giờ như: …trong đó có quận chúa Trịnh Thị Ngọc Trân xã Thịnh Phúc, quận chúa Trịnh Thị Ngọc Tương người xã Tam lư…cũng không nói công đức đúc chuông? Vậy những nhân vật này đã có công vào việc khác,  như các quận chúa đã có công kiến thiết phần hậu phật(cũng được nhắc đến tại bia đá chùa Kỳ Vũ). Như vậy dòng nói về tướng thần Nguyễn Khoái có thể là những người có công xây dựng chùa Cổ Giác có từ thời nhà Trần. Chùa Kỳ Vũ là ngôi chùa cổ, trước đó có tên Chùa Giác.

Như vậy, các tư liệu về cụ Nguyễn Khoan có được tại Thượng Cát là chính, đã có thể khảng định Cụ chính là cha của ba tướng quân đã có công diệt giặc Nguyên Mông thời nhà Trần. Cụ có quê tại Thượng Cát,  Cụ là người khai sinh ra dòng họ NGUYỄN ĐẠI TÔNG làng Thượng Cát và nhiều dòng họ Nguyễn tại nhiều địa phương trên cả nước, trong đó có họ Nguyễn tại Nha Trang. ( tôi cũng là người nhiều lần đặt câu hỏi với các nhà khoa học tại Viện Sử QG: bộ sử Đại Việt sử ký toàn thư ghi công lao của ba anh em Nguyễn Khoái , Nguyễn Khả Lập, Nguyễn Thế Truyền trong cuộc chiến chống Nguyên- Mông. Xin hỏi: quê của các vị và thân sinh của các vị ở đâu và là ai? nhưng đều không có đáp số).

Một dẫn chứng nữa, tại ngôi mộ cổ của Cụ Nguyễn Phúc Tâm tại Phú Yên, Thọ Xuân, Thanh Hóa. Ngôi mộ còn giữ được đôi câu đối cổ:

 

HỔ BẢNG DANH GIA TRUYỀN LỆNH ĐIỆP.

          MÃ HÌNH VƯỢNG ĐỊA THUẬT VÂN NHƯNG.

Dịch nghĩa:       LÀM TƯỚNG NHÀ CÓ TRUYỀN THỐNG CON CHÁU.

                         ĐẤT DÁNG NGỰA BAY VƯỢNG TỰA THANG MÂY.

Ông Nguyễn Đức Hùng(thành viên ban sử dòng họ) nói: Đây chính là câu đối nói về các đời tự cụ Nguyễn Khoan đến các Cụ tiếp theo(bảy đời)trên cụ Nguyễn Phúc Tâm. Điều đó hoàn toàn đúng, vì trước Cụ Tâm đến cụ Khoan đều là DANH TƯỚNG có tên trong Đại Việt trong Đại Việt sử ký toàn thư. Dòng dõi làm tướng gắn liền với mảnh đất của các Cụ tại Thượng Cát ngày nay.

Tôi nghĩ sẽ rất khó khăn, nếu ai đó muốn tìm hiểu về Cụ Nguyễn Khoan rõ ràng hơn những điều đã được trình bày trên. Rất mong các ý kiến khác của các quý vị.

Tiếp theo, chúng ta nói về Cụ NGUYỄN PHÚC TÂM.

Cụ NGUYỄN PHÚC TÂM, theo QUYỂN PHẢ(quyển này được chép lại từ quyển phả gốc đã mất).

Theo lời dẫn của người chép lại theo nguyên văn bản gốc của biển gỗ. Nhưng có một thay đổi cơ bản là tôn Cụ Nguyễn Phúc Tâm là Thủy Tổ của dòng họ. Cũng theo tiến sỹ Đinh văn Minh giải thích: trong biển phả không có vị thủy tổ, nhưng thần phả lại có Cụ khởi thủy thượng tổ khảo thì đã rõ ràng là do người cháu thứ 12 thấy không còn ai cao hơn thì lập thần phả khởi thủy, chứ lịch sử phải do người chép phả thời trước xác định mới đúng, chứ cháu thứ 12 cách mấy trăm năm nhớ sao nổi. Tuy vậy việc lập thần phả không có gì sai, vì không biết ai cao hơn nữa, con cháu tất lập người cao nhất là khởi thủy mà thôi. Họ cũng nên tìm hiểu cháu đời thứ 12 là ai? sống thời nào?

          Như vậy, Cụ NGUYỄN PHÚC TÂM đã được đời sau suy tôn là Thủy tổ dòng họ ta.                                                                                                  

          Chúng ta cũng cần nhận thức: Gia phả hay các tài liệu còn lại của dòng họ không xác định được cụ sinh và mất năm nào? Biển phả chỉ ghi năm người lập biển phả là năm Tân Mùi.

          Tìm được thân thế, sự nghiệp của Cụ NGUYỄN PHÚC TÂM là tâm nguyện của cả dòng họ ta, Họ đã thành lập ban tìm hiểu lịch sử dòng họ vào năm 2008. Nhờ sự giúp đỡ của cụ Nguyễn Cảnh Tú(tổng thư ký UNECO dòng họ Nguyễn toàn quốc), chúng tôi nhận được cuốn: Nghiên cứu phần thượng phả họ Nguyễn toàn quốc do cụ Nguyễn Thế Nguyên( viện trưởng viện lịch sử quân đội, nay cụ đã mất) biên soạn rất công phu. Nhờ đó chúng tôi tìm được tại Phú Yên, Thọ Xuân, Thanh Hóa có một dòng họ mà cụ NGUYỄN PHÚC TÂM là Thủy Tổ. Chúng tôi đã về Phú Yên, được các cụ đón tiếp tại nhà thờ họ(ngôi nhà thờ cổ)và dẫn đến ngôi mộ cổ(đã được trùng tu vào năm 1980). Ngôi mộ cổ còn giữ cùng được đôi câu đối cổ(đã dẫn ở trên), bia mộ ghi THÁM HOA QUÁCH PHÚC TÂM, THI ĐỖ NĂM Quý Mùi. Các cụ cung cấp gia phả để chúng tôi nghiên cứu chắp nối.

            Theo gia phả Phú Yên, cụ Tâm mang họ Quách, họ có một lần đổi họ Hoàng( không rõ năm nào), sau đó vào năm Nhâm Dần đổi thành họ Đỗ. Lý do đổi họ, năm Nhâm Dần theo dương lịch là năm nào? Theo gia phả Phú Yên, từ cụ Tâm đến cụ Nguyễn Phúc An không ghi là tổ thứ mấy? Đến đời con cụ An lại ghi Thế tổ thứ tám Đỗ tướng công, giữ chức Dương Vũ Uy Dũng Công Thần. Như vậy đã rõ, năm Nhâm Dần đổi thành Họ Đỗ tính từ đời cụ thế tổ thứ tám Đô lễ hầu tự Phúc Nguyên(là con trưởng cụ Phúc An), cụ An có sáu người con. Họ cũng cần tìm hiểu tại sao đổi họ Đỗ? Chúng tôi đã xác minh được niên đại của các cụ Nguyễn Phúc Tâm, Nguyễn Phúc An, Nguyễn Phúc Nguyên. Đây là điều rất có ý nghĩa để xác định các đời từ cụ NGUYỄN PHÚC TÂM về sau. Cụ QUÁCH PHÚC TÂM thi đỗ thám hoa năm Quý Mùi, nhưng theo dương lịch là năm nào? Dựa vào quyển CÁC NHÀ KHOA BẢNG VIỆT NAM của GS Ngô Đức Thọ, năm Quý Mùi vào năm 1403, 1473, 1543…? Để xác định niên đại cụ Tâm, chúng tôi phải dựa vào niên đại cụ Nguyễn Phúc An? theo gia phả Phú Yên cụ Nguyễn Phúc An đỗ chế khoa tiến sỹ, tả thị lang, nhập thị Kinh Diên…Theo biển phả Thượng Cát, cụ Nguyễn Phúc An xếp thứ tư, không ghi năm sinh, năm mất? Nhưng chúng ta có cụ tiến sỹ Nguyễn Duy Trinh (1443…), đỗ năm 1481 ghi danh tại bia Văn Miếu Hà Nội. Cụ được Đại Việt sử ký toàn thư ghi: làm quan tả thị lang, năm 1500 đi sứ sang Trung Quốc. Như vậy cụ Nguyễn Phúc An, tên đi thi chính là Nguyễn Duy Trinh. Theo gia phả Phú Yên Cụ An là cháu cụ Tâm, cụ An sinh năm 1443, cụ Tâm sinh khoảng năm 1383( mỗi đời cách nhau khoảng 30 năm). Cụ QUÁCH PHÚC TÂM sinh năm 1383 nên đỗ thám hoa năm Quý mùi phải là năm 1403, khi cụ tròn 20 tuổi? Năm 1403,  theo Các nhà khoa bảng Việt nam của GS Ngô Đức Thọ, năm 1403, dưới thời nhà Hồ không tổ chức khoa thi,  Đại Việt có một số người tham gia khoa thi tại Trung Quốc, trong đó có: Triệu Thái, (người Lập Thạch, Vĩnh Phúc), như vậy cụ NGUYỄN PHÚC TÂM tham dự khoa thi năm 1403 tạiTrung Quốc là có cơ sở, nhưng tại sao trong quyển NHỮNG NHÀ KHOA BẢNG VIỆT NAM lại không có tên Thám hoa Nguyễn Phúc Tâm, dù bất kỳ khoa thi nào? Đây cũng là bí ẩn cần nghiên cứu thêm? Nhà thờ tại Thương Cát , theo các cụ kể lại, trước đây có đôi câu đối:

 

          TIỀN BẮC QUỐC TRẠNG NGUYÊN

          HẬU NAM TRIỀU TIẾN SỸ.

          Đây có thể là đôi câu đối viết về Cụ THÁM HOA NGUYỄN PHÚC TÂM.

          Hiện nay chúng ta đã chắp nối với một số nơi trên cả nước có Thủy Tổ là Cụ NGUYỄN PHÚC TÂM, đó là:

          - Phú Yên, Thọ Xuân, Thanh Hóa.

          - Đại Mỗ, Từ Liêm Hà Nội.

          - Đại Kim, Thanh Trì Hà Nội.

          Hậu duệ của Cụ phát huy truyền thống hiếu học, thông minh, liêm chính nên đã tạo nên nhiều nhà khoa bảng, danh nhân, danh tướng qua các triều đại như:

          Thượng Cát có: các tiến sỹ tả thị lang Nguyễn Duy Trinh(Đỗ năm 1481), tiến sỹ Thượng thư Nguyễn Cảnh(Đỗ năm 1541).

          Phú Yên, Thọ Xuân, Thanh Hóa có: tiến sỹ Nguyễn Phúc An(chính là Nguyễn Duy Trinh), tiến sỹ Đỗ Đình Thụy(đỗ năm 1715). Có bốn người con của Cụ Nguyễn Phúc An giữ chức Dương Vũ Uy Dũng Tán Trị Công thần và đều được phong tước Hầu dưới thời hậu Lê.

          Đại Mỗ, Từ Liêm, Hà Nội có:  thám hoa tể tướng Nguyễn Quý Đức(đỗ năm 1715), Tể tướng Nguyễn Quý Ân(ô là con trai cụ Đức), tiến sỹ thượng thư Nguyễn Quý Kính(ông là con trai cụ Ân). Ba Cụ được triều đình phong Đại Vương, nhà thờ Đại Mỗ là nơi còn giữ nguyên vẹn các di chỉ từ thời các Cụ và khuôn viên nhà thờ, nhà thờ có tên gọi Nhà Thờ Tam Vị Đại Vương.

          Đại Kim, Thanh Trì, Hà Nội có: Tiến sỹ Thái phó Nguyễn Công Thái(đỗ năm 1715), danh nhân văn hóa Nguyễn Văn Siêu(người có công xây dưng cụm văn hóa nổi tiếng Thăng Long văn hiến: Tháp Bút- cầu Thê Húc- đền Ngọc Sơn) và nhiều danh nhân khác.

          Đặc biệt hậu dụê của Cụ Tâm, vào năm 1715 đã có ba người tham gia khoa thi và đỗ Tiến sỹ, Thám hoa là Nguyễn Qúy Đức,  Nguyễn Công Thái, Đỗ Đình Thụy. Ba vị này đều có giai đoạn là giáo viên phụ trách tại Văn Miếu Hà Nội.

          Nghiên cứu về cuộc đời sự nghiệp của Cụ Nguyễn phúc Tâm, chúng ta thấy tài năng đức độ của Cụ rất vẻ vang, Nhưng thành đạt trên con đường công danh không có vai trò lớn trong triều đình đương đại. Chúng ta chỉ biết, vào năm 1412 nghe theo tiếng gọi tụ nghĩa của Lê Lợi, Cụ đã mang gia đình vào Thanh Hóa, Cụ mất tại Phú Yên- Thọ Xuân- Thanh Hóa, Cụ đã để lại một dòng con cháu tại Phú Yên- Thọ Xuân. Sau đó nhiều hậu duệ của Cụ đã rất thành công trên con đường học vấn và triều chính, cũng như các hoạt động về giáo dục nhân tài, xây dựng nền tảng văn hóa qua các triều đại phong kiến Việt Nam. Nhiều hậu duệ đã định cư trên nhiều miền quê của đất nước. Nhiều hậu duệ mang họ gốc cũng như sẽ còn nhiều dòng họ mang họ đã được đổi theo thời cuộc như : Họ Quách,  Họ Hoàng, Họ Đỗ.

          Hiện nay, tại bốn địa điểm nói trên đều có mộ Cụ, nhà thờ, ngày giỗ khác nhau. Đây cũng là vấn đề chúng ta cùng nghiên cứu thêm.

          Theo tư liệu hiện có đã nêu tại Thượng Cát và các tư liệu có liên quan tới Họ nguyễn toàn quốc. Chúng ta khảng định cụ Nguyễn Phúc Tâm quê chính là Thượng Cát, Cụ là cháu đời thứ tám của Cụ Tướng Thần Nguyễn Khoan.

          Nghiên cứu lịch sử Họ NGUYỄN ĐẠI TÔNG làng Thượng cát, như trên chúng ta đã xác định rất rõ về nguồn gốc các vị Tổ từ cách đây gần 800 năm. Chúng ta khảng định Họ NGUYỄN ĐẠI TÔNG làng Thượng cát là dòng họ lâu đời, là dòng họ gốc cho nhiều dòng Họ trên cả nước. Đây là niềm vinh dự, niềm tự hào cho toàn dòng họ . Chúng ta cùng nhau động viên mọi thế hệ hôm nay và mai sau gìn giữ và phát huy truyền thống quý báu và vẻ vang của Dòng Họ.

          Sau phần nghiên cứu và đã có nhiều kết quả về thân thế và sự nghiệp hai vị Cao Cao Tổ Khảo trên biển phả. Chúng ta sẽ cùng nhau nói thêm về các Cụ có vai trò chính trong dòng họ trưởng và các Cụ tại các nghành, các chi tại Thượng cát

          Theo quyển phả viết tay.

NGÀNH TRƯỞNG. - ĐÔN HUỆ THỜ.

1. Tổ khảo nguyễn quý công húy Toản, tự Đức Hiền.

2. Tổ khảo Nguyễn quý công húy Vinh, tự Đức An.

3. Tổ khảo Mâu Lâm Thị lang Bắc Hà chi phủ Nguyễn quý công danh thọ giao đông tự Đôn Phát. Sinh trưởng nam Nguyễn Đôn Hiếu, thứ…Kỵ 10- 3 táng tại đồng Hạ Hội. Tổ tỷ Lê thị húy Thiêm hiệu Cung mẫn, kỵ 22- 1, mộ táng tại cánh đồng Hạ hội.

          Đến đây không được ghi tiếp về sau?

          Liên hệ với gia phả Phú Yên, chúng tôi phát hiện có chi tiết liên quan đến nghành trưởng Thượng Cát đó là:

          - Tứ thế tổ Quốc tử giám giám sinh Hội Ninh huyện Tri huyện tái tri thụ Cần sự lang Thái Bộc tự thừa Đỗ Quý công tự Phúc Tân( tên đi thi là Đỗ Đình Thụy đỗ tiến sỹ năm 1715), sịnh hạ nhất nam Xuân Khuê.

          - Tam thế tổ Đỗ quý công tự Quốc Khuê phủ quân( Xuân Khuê). Sinh ngũ nam;Viết Toản,  Viết Thức, Viết Thiệu, Viết Đính,  Viết- văn Học.

          Như vậy Cụ Viết Toản ở Phú Yên chính là Cụ Toản là trưởng của nghành 1 Đôn Huệ thờ.

          Gia phả Phú Yên cũng chỉ khảo cứu được đến cụ Viết Toản, tôi có hỏi các Cụ hiện còn sống tại Phú Yên cũng công nhận đến Cụ Toản đến nay bị gián đoạn.

          Theo tư liệu đã dẫn, chúng ta có thể khảng định,  từ khi Cụ Nguyễn Phúc Tâm vào Thanh Hóa đến đời cụ Viết Toản đã trở lại Thượng Cát, đã được hiện diện tại nghành một(nghành trưởng).

          Hai ngôi mộ táng tại cánh đồng Hạ Hội là Cụ Ông Đôn Hiếu và Cụ Bà. Đây là Cụ thứ tư nghành trưởng, đã được khảo cứu cuối cùng tại nghành trưởng.

          NGÀNH HAI- CÔNG PHƯƠNG THỜ.

Tổ tỷ kế thất Đinh thị hiệu Từ Quảng sinh nam tự Huyền Cảnh, kỵ17- …

1. Tổ khảo Nguyễn Quý công tự Cảnh.

2. Tổ khảo Nguyễn quý công tự Xuân Tính, húy Diễm.

3. Tổ khảo Nguyễn quý công, tự Phúc Chân húy Phương.

4. Tổ khảo thập lý hầu Nguyễn Quý công tự Phúc Tín húy Đề.

5. Hiển tổ khảo thập lý hầu Nguyễn Quý công tự Hữu Tân húy Tằng.

          NGÀNH BA DANH DỤC THỪA TỰ.

1. Tổ khảo thập lý hầu Nguyễn Quý Công  tự Thiện Tính húy Chấn.

2. Tổ khảo bản phủ tự sinh Nguyễn Quý công húy Thơm tự Danh Tướng hiệuKhoan Dục.

          NGÀNH BỐN.

1. Tổ khảo Nguyễn Quý công tự Duy Bình hiệu Viết Khang.

 2. Tổ khảo Nguyễn Quý công tự Đình Cự.         

          Nghành bốn có liên quan đến hai Cụ có tên trên biển phả: - Cụ thứ bảy có tên hiệu Phúc Trung sinh trưởng nam Duy Linh, thứ Duy Bình. Như vậy cụ Duy Bình là tổ khảo nghành bốn chính là con thứ Cụ Phúc Trung trên biển phả, đây là cơ sở liên quan giữa biển phả và quyển phả tới nghành thứ bốn là liên tục. Chúng ta sẽ căn cứ để nghiên cứu tiếp về niên đại các Cụ.

          Khảo cứu những thông tin trên quyển phả, chúng ta nhận thấy, các Cụ tổ khảo của bốn nghành có niên đại cách xa nhau, chứng tỏ có những giai đoạn không liên tục giữa các thứ tự trong từng nghành. Đặc biệt nghành trưởng, Cụ Tổ khảo có tên húy là Toản là con trưởng cụ thế tổ thứ ba của gia phả Phú Yên, cách cụ thế tổ thứ tám (phả Phú Yên)Đỗ phúc Nguyên sáu đời. Trong khi đó Cụ Tổ khảo nghành bốn là con của cụ Nguyễn Phúc Trung. Trong khi đó Cụ Phúc Nguyên là con trưởng và Phúc Trung là con thứ của Cụ Nguyễn Phúc An. Như vậy Cụ Toản cách Cụ Duy Bình của nghành bốn năm đời(có thể là nhiều đời đã bị gián đoạn)nên tạm tính là năm đời. . Đây mới chỉ là phân tích các Cụ Tổ khảo của bốn nghành, còn phân tích gia phả của từng nghành, từng chi còn có sự gián đoạn nhiều hơn nữa. Điều đó chứng tỏ dòng họ Nguyễn Đại Tông làng Thượng Cát có từ rất sớm( khoảng 800 năm)và có nhiều giai đoạn bị gián đoạn. Người soạn quyển phả là người sống sau đời thứ ba(Cụ Đôn Hiếu) của nghành trưởng, khi viết đến cụ Đôn Hiếu thì dừng.

          Như vậy cũng rất đáng quý, bởi chúng ta đã có mối liên kết liên tục giữa biển phả và quyển phả. Chúng ta cũng có thể tính được niên đại CỤ Nguyễn Đôn Hiếu của nghành trưởng.

          Chúng ta biết Cụ Nguyễn Duy Trinh(tức Cụ Nguyễn Phúc An) sinh năm 1443 nên Cụ Nguyễn Đôn Hiếu cách Cụ AN chín đời (mỗi đời tạm tính 40 năm, khoảng cách này là dài, nên có thể thứ tự các đời ở đây đã bị gián đoạn)),  tức hai Cụ cách nhau khoảng 360  năm hoặc hơn nữa, như vậy Cụ Nguyễn Đôn Hiếu phải sinh khoảng năm 1803. Cũng có một cách tính khác là lấy mốc Cụ Đỗ Đình Thụy( phả Phú Yên) đi thi đỗ tiến sỹ năm 1715, Cụ sinh khoảng 1670, cụ Thụy là thế tổ thứ tư(tức Cụ Đỗ Trọng Tân), cách Cụ Đôn Hiếu năm đời( 150 năm) thì Cụ Đôn Hiếu sinh khoảng năm 1820. Thực ra cách tính như vậy chỉ tương đối, vì gia phả phú Yên tính từ Cụ An đến Cụ Khuê có thực liên tục không? nên chúng ta chọn mỗi đời cách nhau bình quân 30 hay 40 năm chỉ là ước tính. Cách tính này cũng là cơ sở cho chúng ta tính niên đại của tất cả các nghành khi chúng ta lập sơ đồ phả của toàn dòng họ.

          Nghành trưởng tiếp theo từ cụ Nguyễn Đôn Hiếu đến ông Nguyễn Xuân Thứ là năm đời(nếu tính Cụ Hiếu sinh năm 1820, ô Thứ sinh năm 1951, thì trung bình mỗi thời cách nhau 25 năm là hợp lý).

Cách tính niên đại và sắp xếp thứ tự các đời tại các nghành sẽ được tính và sắp xếp tương tự như nghành trưởng.

          Khảo cứu, nghiên cứu lịch sử dòng họ tiếp theo chúng ta cần làm rõ về Cụ Nguyễn Cảnh. Khi khảo cứu các tài liệu, các gia phả nói trên, chúng ta chưa phát hiện dấu tích nào về Cụ Nguyễn Cảnh, ngoài Cụ có tên trong biên niên của quyển CÁC NHÀ KHOA BẢNG VIỆT NAM của GS Ngô Đức Thọ,  biên niên của trung tâm Văn Miếu. Hai nơi này đều ghi Cụ Nguyễn Cảnh(1510- …)thi đỗ khoa thi Tân Sửu 1541(triều Mạc Phúc Hải), trước cụ làm quan nhà Mạc, sau vào Thanh Hóa phò nhà Lê, làm quan đến chức Tả Thị lang, khi mất được phong Thượng thư. Hiện nay tại chùa Quảng An còn có bia ghi công đức của Cụ.

          Cụ Nguyễn Cảnh, khi bỏ nhà Mạc vào Thanh Hóa giúp vua Lê khôi phục nhà Lê. Lịch sử ghi lại sự kiện truy quét trả thù dã man của nhà Mạc đối với các gia tộc của các tướng lĩnh khi bỏ nhà Mạc vào theo nhà Lê. Gia tộc của Cụ Nguyễn Đĩnh, người làng Hoàng Xá, xã Liên Mạc(cách làng Thượng Cát khoảng 3 km) đã bị nhà Mạc giết hại gần như cả dòng họ, một số người sống sót phải chạy đi nơi khác để lánh nạn, hiện nay còn một bộ phận tại Quốc Oai. Cụ Nguyễn Đĩnh cùng thi đỗ tiến sỹ năm 1541 như Cụ Nguyễn Cảnh của họ chúng ta. , khi sống giữ chức Thượng thư, khi mất được phong hàm tể tướng. (theo Cụ Nguyễn Ngọc Ngạn phả Phú Yên cũng có tên Cụ Phúc Đĩnh, nhưng không khảo cứu tại chi nào? ). Trong diễn biến triều đình nhà Mạc như vậy chắn chắn Cụ Nguyễn Cảnh là người vừa có học thức vừa đang làm quan triều đình nhà Mạc, Cụ phải tính cho việc bảo vệ dòng tộc trước khi quyết định bỏ nhà Mạc? Việc lập biển phả có nhiều bí ẩn nhưng rất cao sang để gửi lại cho đời sau là rất có ý nghĩa. Nếu xét về niên đại, cụ Nguyễn Cảnh phải là đời sau Cụ Nguyễn Phúc Trung và Cụ Nguyễn Phúc Lương(thứ bảy và thứ tám trên biển phả), hai cụ đều là con của Cụ Nguyễn Phúc An(1443. . ), Cụ An sinh năm 1443, Cụ Cảnh sinh năm 1510, cách nhau 67 năm, Cụ Cảnh chỉ là vai cháu Cụ An, vai con Cụ Trung và cụ Lương, cụ có tuổi tương đương hai Cụ hiển cao tổ Nguyễn Phúc Thanhvà Nguyễn Phúc Khánh. Như vậy, Biển Phả ghi THIÊN TỬ VẠN NIÊN CHI TÂN MÙI là năm nào dương lịch? Năm Tân Mùi rất có thể là năm 1571, bởi rất phù hợp với hoàn cảnh của Cụ Nguyễn Cảnh, năm đó Cụ Cảnh đã 61 tuổi, sắp bỏ nhà Mạc vào Thanh Hóa, Cụ có thể dựa vào tài liệu nào đó của cha ông để lại, nhưng không hệ thống nên gom lại trên biển phả để truyền lại cho đời sau. Cụ Nguyễn Cảnh là tác giả của Biển Phả là rất xứng đáng.

          HỌ NGUYỄN ĐẠI TÔNG LÀNG THƯỢNG CÁT, thực sự là dòng họ Nguyễn lâu đời và có truyền thống rất vẻ vang, như đã được thể hiện trên bức hoành phi cổ QUANG TIỀN THÙY HẬU (đời trước rạng rỡ truyền lại cho đời sau). Chúng ta là hậu duệ nhiều đời của các Cụ, qua những năm tháng của giai đoạn kháng chiến giành độc lập và thống nhất Đất nước, con cháu của dòng họ đã cống hiến nhiều công lao, nhiều liệt sỹ đã hy sinh để góp phần giải phóng thống nhất Đất nước. Nhiều người phấn đấu rèn luyện trở thành lãnh đạo trong hệ thống chính trị của Đảng, Nhà nước,  Quân đội. Nhiều thế hệ nối tiếp bước ông cha trên sự nghiệp trồng người đạt học vị cao như giáo sư, tiến sỹ, bác sỹ, kỹ sư…truyền ý thức cho các cháu phấn đấu trong học tập khi còn trên ghế nhà trường. Phong trào khuyến học của dòng họ đã duy trì thường xuyên 20 năm nay, động viên kịp thời cho sự nghiệp trồng người trong dòng họ. Nhiều gia đình phát huy truyền thống làm giàu cho bản thânvà xã hội đã nỗ lực thành công trong lĩnh vực phát trển kinh tế. Chúng ta tự hào về ÔNG BÀ TỔ TIÊN, càng đoàn kết cùng nhau phấn đấu xứng danh với con cháu HỌ NGUYỄN ĐẠI TÔNG LÀNG THƯỢNG CÁT.

          Nội dung về lịch sử dòng họ, chúng tôi trong ban tìm hiểu lịch sử dòng họ cố gắng sưu tầm, chắp nối, với nội dung như trên. chúng tôi chân thành cám ơn sự giúp đỡ của các cụ, các ông và toàn thể thành viêntrong dòng họ. Chân thành cám ơn các ban lãnh đạo họ Nguyễn toàn quốc, cám ơn các cụ, các ông trong các dòng họ nguyễn tại Khánh Hòa,  Phú Yên, Đại Mỗ, Đại Kim. Chân thành cám ơn các nhà khoa học Viện Hán Nôm, Viện Lịch Sử Việt Nam, các ban quản lý di tích Đình , chùa làng Thượng Cát. Chân thành cám ơn các cấp chính quyền địa phương, quận, thành phố Hà Nội.

Thượng Cát, ngày     tháng      năm 2017

Ban lịch sử dòng họ:

Nguyễn Xuân Từ.

Nguyễn Đức Hùng

Nguyễn Hoàng

Nguyễn Quyết Thắng - chủ biên.