Kính gửi: Các ông trưởng trung chi của Đại Tôn Họ Nguyễn Triệu Cơ

Thành Phố  Hồ Chí Minh  ngày 28 tháng 03 năm 2018

Kính gửi: Các ông trưởng trung chi của Đại Tôn Họ Nguyễn Triệu Cơ, xã Quỳnh Đôi, H. Quỳnh Lưu, T. Nghệ An.

(Về nguồn gốc Tổ tiên của An Hòa Hầu Nguyễn Thạc)

Các thế hệ hậu duệ họ Nguyễn Triệu cơ đều biết An Hòa Hầu Nguyễn Thạc là Thủy Tổ họ Nguyễn làng Quỳnh Đôi, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An. Nhiều thế hệ con cháu đọc Di huấn do cụ Nguyễn Huy, đời thứ 3  phụng mệnh viết,  cũng đều biết: Cha của An Hòa Hầu Nguyễn Thạc là  Nguyễn Cảnh, Ông nội của An Hòa Hầu Nguyễn Thạc là  Nguyễn Bính. Một số đông con cháu, do sống phân tán trên mọi miền Tổ quốc, không có điều kiện tiếp xúc các tài liệu, thiếu thông tin, nên không biết được điều này. Đặc biệt, cố, can, tổ tiên của Nguyễn Thạc là ai, thì rất ít con cháu biết. Tiến sỹ Nguyễn Xuân Mạnh, đời thứ 19, chi phái họ Nguyễn Triệu cơ Bình Ngô, Thanh Giang, Thanh Chương, Nghệ An, đã nhiều năm trăn trở, tìm tòi nghiên cứu  về vấn đề này. Ông đã ra Hà Nội nhiều lần, về nhà thờ Hoài Đạo Vương Nguyễn Nộn (một bậc tiên tổ họ Nguyễn), vừa thắp hương bái Tổ, vừa tìm kiếm thông tin. May thay, như có tâm linh mách bảo, ngày 10 tháng 12 năm 2016, khi làm việc với  Ban liên lạc UNESCO họ Nguyễn Việt Nam ( UNESCO: Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hiệp quốc ), Tiến sỹ Nguyễn Xuân Mạnh đã được ông Nguyễn Cảnh Tú Tổng thư ký Ban liên lạc UNESCO họ Nguyễn Việt Nam cung cấp cuốn phả Nguyễn Tộc Thế Truyền do Hội đồng Nguyễn tộc phụng lập năm Ất hợi 1995;   TRÊN CƠ SỞ CUỐN “KhOÁI HẦU TỤC BIÊN”, do LIỆT HẦU- TƯỚNG QUÂN NGUYỄN KHOÁI KHỞI BIÊN.   Đây là cuốn phả cung cấp những thông tin  về các đời  Cha, Ông, Cố, Can của An Hòa Hầu Nguyễn Thạc. Tiến sỹ Nguyễn Xuân Mạnh cho biết, không có niềm vui nào tả xiết hơn niềm vui này, khi sau bao nhiêu năm nghiên cứu tìm kiếm, nay có được thông tin vô cùng quý hiếm và chính xác về các đời Tổ tiên của An Hòa Hầu Nguyễn Thạc, của tất cả các thế hệ con cháu họ Nguyễn Triệu cơ chúng ta. Với tấm lòng tôn kính Tổ tiên và hướng về cội nguồn, với trách nhiệm của mình, chúng tôi xin cung cấp cho các thế hệ con cháu chi tiết các  thông tin vừa nói ở trên:

          1/ Nguyễn Khoan

          Phả không ghi năm sinh, chỉ biết Nguyễn Khoan thi đậu Tiến sỹ dưới Triều Lý Cao Tông ( 1176-1210), và giữ chức Khâm sai Đô úy trấn thủ biên giới phía Bắc thời Lý Duệ Tông (1211- 1224). Ông là một vị quan thanh liêm, trung nghĩa, trí dũng song toàn. Dưới quyền quản thủ của ông, dân cư thuộc các tỉnh biên giới phía Bắc có cuộc sống  an cư lạc nghiệp. Sau khi tại Thăng Long, dưới sự sắp xếp của Trần Thủ Độ, Lý Chiêu Hoàng buộc phải nhường ngôi cho Trần Cảnh, Nguyễn Khoan đã treo ấn từ quan về ẩn dật tại quê nhà ở Bình Lệ Nguyên thuộc vùng Vĩnh yên,Tam Đảo tỉnh Vĩnh Phúc ngày nay. Tuy phò nhà Lý, không hợp tác với nhà Trần, nhưng trước nạn xâm lược của giặc Nguyên Mông, Nguyễn Khoan  cùng bà con đốc thúc mọi người trong vùng thực hiện chính sách vườn không nhà trống, đào hào hố, tổ chức nhiều đội kỵ sĩ, cảm tử quân, xạ kích bằng tên tẩm thuốc độc… để giết giặc. ủng hộ cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông của nhà Trần, đứng đầu là vua Trần Thái Tông. Trong cuộc chiến tranh đó, nhà vườn của Nguyễn Khoan đã bị cháy sạch, ông cũng bị tử thương vào đêm 24 tháng 12 năm Bính Tý (1257).

          Nguyễn Khoan sinh được 3 con trai: Nguyễn Khoái, Nguyễn Khả và Nguyễn Truyền.

          Sau khi Nguyễn Khoan mất, Nguyễn Khoái đưa mẹ và 2 em đến quê ngoại Đông Triều , Hải Dương (ngày nay thuộc tỉnh Quảng Ninh), làm ăn sinh sống.

          Năm Kỷ Sửu ( 1289),  cuộc  kháng chiến chống Nguyên Mông toàn thắng, vua Trần Nhân Tông đã truy phong cho Nguyễn Khoan chức “ Trung Lương tướng Thượng đẳng thần”.

          Ngày nay, nhà thờ Nguyễn Khoan tại Phường Thượng Cát, Quận Bắc Từ Liêm, Hà Nội. Ngày giổ tổ : 22 tháng 12 âm lịch.

          2/ Nguyễn Khoái       

          Nguyễn Khoái là con trưởng của Nguyễn Khoan. Sau khi cha mất, Nguyễn Khoái đưa mẹ và hai em về Đông Triều làm ăn,  sinh sống, đồng thời tích cực văn ôn võ luyện. Nguyễn Khoái kết bạn với Trần Khánh Dư ( một tướng đời nhà Trần), bị triều đình đày xuống  làm nghề đốn củi, đốt than ở Đông Triều mà sinh sống.

          Theo Đại Việt sử ký toàn thư của Ngô Sỹ Liên, tập II, trang 53,63: Năm Ất Dậu (1285), trong trận tiêu diệt giặc Nguyên hai bên bờ sông Hồng, Tướng quân Nguyễn Khoái đem tập binh đón đánh giặc ở bến Tây Kết, nên được nhà Trần gia phong Nguyễn Khoái làm Liệt Hầu cho một quận than mộc, gọi là Khoái Lộ, nay là huyện Khoái Châu tỉnh Hưng Yên.

                   Nguyễn Khoái sinh con trai là Nguyễn Bính.

                   Phả không ghi ngày sinh và ngày mất của Nguyễn Khoái.

Như vậy, cuốn phả Nguyễn Tộc thế truyền và cuốn Đại Việt sử ký toàn thư đã cho ta các thông tin chính xác về Nguyễn Khoan và Nguyễn Khoái. Đây là hai nhân vật lịch sử, hai vị tổ dòng họ Nguyễn. Về quan hệ huyết thống, Nguyễn Khoái là con trưởng của Nguyễn Khoan. Tuy nhiên, có người còn nghi ngờ, viết trong các tài liệu lịch sử dòng họ, cho rằng Nguyễn Khoan và Nguyễn Khoái có thể là một. Sự suy đoán chủ quan, không dựa vào tộc phả và chứng cứ lịch sử, là sự nghi ngờ thiếu căn cứ khoa học. Đây là một sai lầm đáng tiếc. Mong rằng các thế hệ con cháu không nhầm lẫn,như vừa nói ở trên.

3/ Nguyễn Bính

           Nguyễn Bính học giỏi, thi đậu Tiến sỹ dưới Triều Trần Nhân Tông ( 1273- 1278). Sau đó nhà vua đã đặc phái cố đi sứ nhà Nguyên. Vua Trần Anh Tông đã nhận xét : “ Bính là cận thần của Thượng Hoàng, tính người trong sạch, thẳng thắn, năm trước đứng đầu thánh nhân sang sứ nhà Nguyên, trở về không mua thứ gì. Thượng Hoàng khen ngợi, đặc cách ban thưởng phong chức Nội thư hỏa chánh chương phụng ngự” ( Theo Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, quyển II, trang 101.)

           Tháng 11 năm Bính Thìn (1316), Trần Khánh Dư làm Chánh sứ, Nguyễn Bính làm phó vào duyệt Sở Binh ở Diễn Châu, Nghệ An. Khi trở về triều, dâng sớ bộ và tiền bổng, được Trần Anh Tông khen ngợi và ban thưởng.

          Nguyễn Bính sinh 2 con trai: trưởng là Nguyễn Nạp Hòa, thứ là Nguyễn Cảnh.

          4/ Nguyễn Cảnh

          Nguyễn Cảnh là con thứ của Nguyễn Bính, sinh năm Quý Mão ( 1303), dưới triều Trần Anh Tông (1293- 1314), thi đậu cử nhân võ vào năm Quý Hợi (1323), được thăng chức Trấn thủ Kinh Bắc Tham tri chính sự. Sau đó được phong Thái Bảo Cảnh Quận Công.

          Nguyễn Cảnh  sinh năm con trai : Nguyễn Thành sinh năm Kỷ Sửu ( 1349), Nguyễn Thực sinh năm Tân Mão (1351), Nguyễn Thạc sinh năm Giáp Ngọ ( 1354), Nguyễn Khánh (hoặc Giang) và  1 con út không rõ tên.

          Như vậy, những nội dung trong Di huấn của cụ Nguyễn Huy, cháu nội An Hòa hầu Nguyễn Thạc, phù hợp với nôi dung cuốn phả Nguyễn  Tộc thế truyền, đồng thời phù hợp với Tông đồ Thượng phả Nguyễn Bặc. Những chứng cứ lịch sử đó, cho ta biết một phần nguồn gốc tổ tiên của Nguyễn Thạc:

Nguyễn Khoan sinh Nguyễn Khoái, Nguyễn Khả và Nguyễn Truyền.

          Nguyễn Khoái sinh Nguyễn Bính.

          Nguyễn Bính sinh Nguyễn Nạp Hòa và Nguyễn Cảnh.

Nguyễn Cảnh sinh Nguyễn Thành, Nguyễn Thực, Nguyễn Thạc, Nguyễn  Khánh ( Giang) và  1 con út không rõ tên.

 

Ghi chú:  Nguyễn Nạp Hòa là con trưởng của Nguyễn Bính, thi đậu cử nhân võ, dược phong  tước Tướng quân qua  các triều Trần Dụ Tông (1341- 1369), Trần Nghệ Tông ( 1370- 1372) và Trần Duệ Tông (1373- 1377). Nguyễn Nạp Hòa sinh hai con trai: trưởng là Nguyễn Luật, thứ là Nguyễn Đa Phương.

 Nguyễn Luật sinh  3 con trai: Nguyễn Sách, Nguyễn Hồ, Nguyễn Minh Du. Nguyễn Minh Du sinh ra Nguyễn Phi Khanh hay còn gọi là Nguyễn Ứng Long. Nguyễn Phi Khanh sinh ra Nguyễn Trãi (1380- 1442), là Anh hùng dân tộc, và được UNESCO công nhận là Danh nhân Văn hóa thế giới vào năm 1980, nhân kỷ niệm 600 năm ngày sinh của Người. Tên ông được đặt tên cho nhiều trường học, đường phố lớn tại Hà Nội, TP Hồ Chí Minh và nhiều TP khác.

Nguyễn Đa Phương sinh Nguyễn Cảnh Chân, Nguyễn Cảnh Chân sinh ra Nguyễn Cảnh Dị, Nguyễn Cảnh Dị sinh ra con trưởng là Nguyễn Tuấn Thiện, con thứ là Nguyễn Tuấn Kiệt ( còn có tên Nguyễn Xí). Đây là hai vị tướng tài nổi tiếng trong lịch sử dân tộc.

Nguyễn Tuấn Thiện sinh năm Đinh Hợi ( 1407). Sau khi ông cha hy sinh, ông cùng mẹ đến ở ẩn tại làng Phúc Đậu, nay là xã Sơn Phúc, huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh. Tại đây, vừa khai khẩn làm ăn, vừa lập đội quân đóng ở núi Cốc Sơn ( núi Hoa Bảy ngày nay: một ngọn núi nằm giữa hai xã Sơn Phúc và Sơn Bằng, huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh ) để đánh giặc Minh và trở thành một cánh quân lớn ở Hà Tĩnh, Nghệ An. Năm 1425, Nguyễn Tuấn Thiện hợp thành  nghĩa quân Lam Sơn của Lê Lợi. Ông chỉ huy chiến đấu tài giỏi, lập nhiều chiến công lớn, góp phần quan trọng đánh thắng giặc Minh, giải phóng đất nước, lập nên triều Hậu Lê do Lê Thái Tổ ( Lê Lợi) đứng đầu. Ông được xếp vào loại công thần của Nhà Lê.  Khi lên ngôi Hoàng Đế Lê Lợi mắc nhiều sai lầm, nhất là nghi ngờ và giết hại một số công thần mà trước đây đã gắn bó với Lê Lợi trong cuộc kháng chiến chống quân Minh. Ông bất bình từ quan, bỏ về quê. Ông mất ngày 24 tháng 2 năm 1445.

Nhà thờ Nguyễn Tuấn  Thiện nay tại xã Sơn Phúc, huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh.

Đền thờ Định Quốc Công Nguyễn Tuấn Thiện nay tại xã Sơn Ninh, huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh, là di tích văn hóa cấp tỉnh.

Nguyễn Tuấn Kiệt còn có tên Nguyễn Xí là con thứ của Nguyễn Cảnh Dị. Ông sinh năm Canh Dần (1410). Khi giặc Minh xâm lược, Nguyễn Tuấn Kiệt cùng anh là Nguyễn Tuấn Thiện vào ở ẩn trong rừng núi ở huyện Hương Sơn ( tỉnh Hà Tĩnh ngày nay), làm nương đốt rẫy, chuyên nuôi dạy chó để bảo vệ và săn thú rừng, mặt mày lem luốc , thân hình đen  đủi, nên người đương thời gọi ông là Nguyễn Xí. Ông vừa sản xuất, vừa tổ chức nghĩa quân, nuôi dạy, huấn luyện chó, sau này trở thành một đội quân  đặc biệt giúp Lê Lợi đánh thắng giặc Minh.

Ông được vua Lê Thái Tổ ( Lê Lợi) cho giữ chức Tham Tri Chính sự, đến Nhập Nô Đô Đốc. Nguyễn Xí còn có công dẹp loạn Nghi Dân, đưa Lê Tự Thành lên kế vị với Vương hiệu Lê Thánh Tông. Ông mất năm Ất Dậu (1465).

Nhà thờ ông  nay ở xã Nghĩa Xá, huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An, còn gọi là Đền Thượng Xá. Tên ông được đặt tên cho đường phố tại trung tâm Thủ Đô Hà Nội và nhiều TP khác.

Nhắc đến những nhân vật và các địa danh lịch sử, nhất là trên quê hương Nghệ An và Hà Tĩnh, để một lần nữa, khẳng định tính trung thực, khách quan chính xác của Di Huấn họ Nguyễn Triệu cơ và  Phả Nguyễn Tộc Thế Truyền, nơi cung cấp cho ta một phần lịch sử vẻ vang của họ Nguyễn. Đồng thời cho ta biết  được CHA, ÔNG, CỐ ,CAN của An Hòa Hầu Nguyễn Thạc.

Công việc nghiên cứu tìm kiếm nguồn gốc Tổ tiên đang được Tiến Sỹ Nguyễn Xuân Mạnh tiếp tục. Chúng tôi  sẽ thông báo cùng con cháu khi có những thông tin mới.

Nhóm nghiên cứu:

Kỹ sư,Tiến sỹ Nguyễn Xuân Mạnh chủ trì               THAY MẶT NHÓM NGHIÊN CỨU

Cử nhân, Đại Tá Nguyễn Tri Kiện                                          CHỦ TRÌ (đã ký)

Kỹ sư, Đại tá Nguyễn Tùng Mậu                             

 

                                                                                          Nguyễn Xuân Mạnh     

Lời bàn thêm:

Hỡi các ông trưởng chung chi            , các chức vị tộc trưởng là cha truyền con nối đời đời kiếp kiếp, trách nhiệm của các vị là bảo vệ gia phong truyền thống lịch sử của dòng họ của các trung chi. Ngoài các ông, không ai có thể thay thế được.

Ôi thôi, này nay sinh ra ban liên lạc dòng họ. Ban liên lạc làm thay tất cả các ông trưởng trung chi, tiểu chi, họ tự tung tự tác, coi thường trưởng chung chi, tiểu chi.

Vậy các ông nghĩ sao ? Các ông có trách nhiệm gì với tiên tổ ? 

Theo tôi, các vị hãy thành lâp hội đồng đại tôn với các thành viên là các trương trung chi và quán xuyến những công việc như đã nói ở trên, bởi đây là chức năng, quyền hạn, nhiệm vụ của các vị. Nếu các vị thấy năng lực chưa đảm bảo thì nên mời các nhân sĩ trí thức của dòng họ hỗ trợ tư vấn.

Còn ban liên lạc của đại tôn chỉ là đơn vị giúp việc cho hội đồng đại tôn.