Khoa bảng tộc Nguyễn

HỌ NGUYỄN TRIỆU CƠ QUỲNH ĐÔI (từ năm 1425 - thời nhà Lê đến năm 1918, khoa thi cuối cùng thời vua Khải Định)

Trong lúc sưu tầm và biên tập lại cuốn phả của Họ, trong đó có cuốn "Khoa danh họ Nguyễn" do cụ Tú tài Nguyễn Năng Chính đời 14 bái viết, và Tiến sĩ Nguyễn Danh Đạt đời 18 lược dịch (tháng 10/1994) nhưng hiện nay bản lựợc dịch đã không còn, không hiểu thất lạc ở đâu?(1) Xét trong phả ký thì thấy chưa đủ, một số bút tích để lại của các bậc thúc phụ chỉ thấy số lượng thống kê. Nghiên cứu trong số tài liệu như: "Khoa danh Nghệ An'' của Đào Tam Tĩnh, "Quỳnh Đôi sự tích hương biên" của Hồ Phi Hội và cuốn "Học hành và khoa cử làng Quỳnh" của Phan Hữu Thịnh. Nói về khoa cử họ Nguyễn Triệu cơ thấy nhiều điều chưa được chính xác so với trong phả gốc, như tên tupi của các cụ, ngày tháng khoa đậu, thậm chí có trường hợp họ Nguyễn khác đưa sang họ Nguyễn Triệu cơ và ngược lại.

Chi tiết

Nguyễn Hữu Chỉnh

Nguyễn Hữu Chỉnh (1741 - 1787) là tướng thời Lê Trung Hưng và Tây Sơn, một nhân vật lịch sử có ảnh hưởng tới lịch sử Việt Nam trong thế kỷ 18 hiệu Bằng Lĩnh Hầu, quê làng Cổ Đan xã Đông Hải huyện Chân Phúc, nay là xã Phúc Thọ, huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An, là con trai trưởng của Phủ tả đô đốc Thái bảo Hải Quận Công - phú thương Nguyễn Mẫn, gia tư hàng vạn người. Theo gia phả Họ Nguyễn Triệu Cơ Quỳnh Đôi ông nội Nguyễn Hữu Chỉnh là Nguyễn Hữu Tượng (còn gọi là Tường); con trai là Nguyễn Hữu Duyên (còn gọi là Du).

Chi tiết

Chuyện về Thần Đồng Nguyễn Khắc Tiệp

Ông Nguyễn Khắc Tiệp ( đời thứ 6) con trai đầu của ông Nguyễn Tuyền (Nguyễn Khắc Bạt) cháu ông bà Nguyễn Duyên chắt ông Nguyễn Hồng. Cha mẹ mất sớm ông phải ở với bác. Lúc còn nhỏ đi chăn bò. Nhà bác có mời thầy dạy học cho con.Ông ngồi ở xó bếp nghe lỏm và tập viết chữ trên tro bếp. Nhờ tư chất thông minh nên ông thuộc hết từng câu chữ thầy dạy và còn bày vẽ thêm cho các anh con bác Ông ngồi ở bếp nghe lỏm và tập viết chữ trên tro bếp. Một hôm ở làng bên rầm rộ trống cờ ông hỏi bác, họ mần chi mà inh ỏi thế. Ông bác bảo rằng người ta đang rước ông sính đồ mới đỗ không ra mà coi cứ ngồi xó bếp mà trùi dam ( nướng cua đồng). Ông Tiệp cười diễu cợt rồi đáp tưởng là chi chứ đỗ sinh đồ có chi mô mà cờ trống nếu tôi được học tôi sẽ đỗ hương cống nay mai.

Chi tiết

Khoa Giáp Đường: Quốc Tử Giám họ Nguyễn Triệu Cơ Thanh Uyên, Sơn Bằng

Khoa Giáp Đường được xây dựng tính đến nay đã được 115 năm là một công trình văn hoá đặc sắc là nơi thờ các bậc hiền tài mà trong vùng chưa họ nào có. Khoa Giáp Đường được xây cất vào năm thứ 13 vua Thành Thái (1901), mặt tiền còn rõ dòng chữ Hán “阮氏  科甲堂” có nghĩa “Nguyễn Tộc Khoa Giáp Đường” và “成大十三 ” nghĩa là “ Hiệu vua Thành Thái năm thứ 13”. Về phong thuỷ theo cố Luyện một danh nho có tiếng về thuật phong thuỷ mô tả Khoa Giáp Đường toạ lạc có hình thế nối liền tám phương được núi sông che chởnằm trong thung nơi hội tụ long mạch trước mặt là núi Cự Sơn, hậu là núi Điểu Lĩnh nhìn hướng về Bắc Đông Bắc hướng về gốc Tổ họNguyễn Triệu Cơ Thanh Uyên Sơn Bằng (nói tắt là họ Nguyễn Sơn Bằng) là dòng họ nhiều đời phù các triều Đinh Lê, Lý Trần …. từ Thanh Hoá Nghệ An vào (năm 2012 thu hồi được phả cổ trong đó ghi Thuỷ Tổ từ phủ Nam Sách Hải Dương vào Nghệ An đến cháu đời thứ 3 Đức Khởi Tổ họ Nguyễn Sơn Bằng vào lánh nạn ở Sơn Bằng).

Chi tiết

Khoa Giáp Đường Họ Nguyễn Triệu Cơ Thanh Uyên

Họ ta khoa sắc kế tiếp nhau, luôn luôn có nhà giàu và chức sắc trong làng. Đậu hương cống cũng có, nho sinh cũng có, sinh đồ 18 người, hiệu sinh 12 người, tri phủ, tri huyện cũng có đồng thời kế tiếp, người họ ta ở trong làng cũng vào loại thế gia cự tộc. Nhưng rồi đến một ngày có ông Khoa sắc là hương cống Nguyễn Khắc Tiệp làm tri huyện Chân Phúc về quê và đến làng Yên Nghĩa để dự lễ tế Thành Hoàng. Có một người nội thân làm chức hương mục (là giúp lý trưởng lo việc tuyền phòng canh gác trong xã) mọi năm trước làm chủ tế của làng nhưng năm ấy có quan huyện về, biết chắc chắn mình không được làm chủ tế nên đem lòng ghen tị và đã lập mưu làm hại quan huyện. Trong lúc ông Tiệp đang bận việc tế lễ Thành Hoàng thì ông hương mục đã lập mưu là sai người đầy tớ lấy miếng thịt thụ tộ lén bỏ vào tráp quan huyện (chữ thụ tộ chữ Hán) viết là  nghĩa là chịu phúc của thần, bởi vì miếng thịt mà người ta đặt tên cho nó, sau khi tế thần xong được biếu cho người chủ tế, miếng thụ tộ này được cắt trên lưng con vật tế thần bằng khoảng cái bao thuốc lá  và cắm vào một cái que to và dài hơn que tăm rồi để cạnh chỗ đã khoét ra (xin xem từ thụ tộ ở dòng 1) trang 673 quyển từ điển Hán Việt cổ đại và hiện đại do Trần Văn Thánh biên soạn và nhà xuất bản trẻ thành phố Hồ Chí Minh phát hành). 

Chi tiết

Nguyễn Thị Duệ - Nữ tiến sĩ đầu tiên trong lịch sử khoa bảng Việt Nam

Dưới thời phong kiến ở Việt Nam, tư tưởng “trọng nam khinh nữ” đã không cho giới nữ được bình đẳng với nam giới, kể cả việc học hành, thi cử. Vậy mà có một người con gái tài sắc, đức độ, trí tuệ trác việt đã vượt qua luật lệ khắt khe đó, đạt tới học vị tiến sĩ. Bà là Nguyễn Thị Duệ, được người dân ca tụng là “Bà Chúa Sao”, người phụ nữ đầu tiên và duy nhất đỗ tiến sĩ trong thời đại phong kiến nước nhà.

Chi tiết

Quốc triều khoa bảng lục - Thời Thiệu Trị

Dưới triều Thiệu Trị, có 05 khóa thi Đình, lấy được: 02 vị Đình nguyên là Thám hoa, 08 vị Hoàng giáp (03 vị Đình nguyên là Hoàng giáp), 37 vị Đệ tam giáp tiến sĩ xuất thân, tổng cộng 47 vị Tiến sĩ và 31 vị Phó bảng.

Chi tiết

Quốc triều khoa bảng lục - Thời Tự Đức

Mậu Thân – 1848: Nguyễn Khắc Cần, Nguyễn Đăng Hành, Nguyễn Hinh, Nguyễn Đức Tân Kỷ Dậu – 1849: Nguyễn Thái Đễ, Nguyễn Thành Doãn, Nguyễn Phùng Dực, Nguyễn Văn Hội, Nguyễn Ngạn Tân Hợi – 1851: Nguyễn Nguyên Thành, Nguyễn Thế Trâm, Nguyễn Quốc Thành, Nguyễn Trung Thành, Nguyễn Đình Tuân, Nguyễn Thái...

Chi tiết

Quốc triều khoa bảng lục - Thời Minh Mạng

Dưới triều Minh Mạng, có 06 khóa thi đình, lấy được: 11 vị Hoàng giáp (06 vị Đình nguyên là Hoàng giáp), 43 vị Đệ tam giáp tiến sĩ xuất thân, tổng cộng 54 vị Tiến sĩ và 20 vị Phó bảng.

Chi tiết

Quốc triều khoa bảng lục - Thời Kiến Phúc

Giáp Thân – 1884: Nguyễn Đức Quý, Nguyễn Thích, Nguyễn Phụ, Nguyễn Âu Chuyên

Chi tiết