GỐC TÍCH HỌ NGUYỄN KHOAN

Họ Nguyễn chúng ta thuộc dòng Lạc tướng ở đất Phong Châu (tỉnh Vĩnh Phú). Tiếp đến Thái tể Đinh Quốc công Nguyễn Bặc, đã giúp Vua Đinh Tiên Hoàng giành lại Quốc thống, vì bảo vệ nhà Đinh mà bị hại. Hiện nay thờ ông ở Đình Trung Tự (Hà Nội), vào ngày 3/12/1995 con cháu trong cả nước và ở nước ngoài đã về làm lễ dâng hương. (Báo ĐĐK số 73 ngày 12/12/1995). Đến viên ngoại lang Nguyền Đạo Thành giúp Vua Lý Thái Tổ (Canh Tuất đến Kỷ Tỵ 1110 - 1028) dựng nên nghiệp lớn mãi về sau. Đến đời Nghiêm phụ ta là Nguyễn Khoan dưới Triều Lý Cao Tông (1176 - 1210). Thi đậu Tiến sĩ và làm chức Khâm sai Đô úy trấn thủ vùng biên giới phía Bắc thời Lý Duệ Tông (1211 - 1224). “Khoái hầu tục biên” tờ 22 do Nguyễn Quang Kỳ giữ).

I/ KHỞI TỔ NGUYỄN KHOAN

Là một vị quan thanh liêm trung nghĩa, trí dũng kiêm toàn. Nên suốt trong những năm dưới quyền quản thủ của Ông, ở các tỉnh thuộc vùng biên giới Việt Hoa dân vẫn an cư lạc nghiệp; Trái lại quanh đế đô Thăng Long thì luôn xảy ra bao vụ biến loạn buộc Lý Chiêu Hoàng nhường ngôi cho Trần Cảnh (do Trần Thủ Độ bày ra)... khiến Nguyễn Khoan phải ôm uất hận treo ấn từ quan về ẩn dật tại quê nhà ở Bình Lệ Nguyên (bờ Bắc sông Hồng.. thuộc vùng Vĩnh Yên - Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phú ngày nay) mà cùng vợ con “quán viên nhi thực lực” (tự lao dộng làm vườn mà sống).

Dù vậy, Nguyễn Khoan vẫn bị nhà Trần theo dõi giám sát chặt. Bởi sợ cái gương của Đoàn Thượng. Nguyễn Nộn nổi lên chống lại. Nên Ông cùng vợ và ba con là Nguyễn Khoái, Nguyễn Khả, Nguyễn Truyền, cùng những người xung quanh chuyên việc nông trang, săn bắn cung kiếm vui thú thanh nhàn mà thôi, nhưng vẫn theo dõi hành động của Vua Quan Nhà Trần.

 Tuy bất phục Nhà Trần về việc đối với ngoại tộc quá tàn ác, nhưng trước giặc xâm lăng thì lại rất kiên dũng. Đó là việc cha con nhà Trần, là Trần Thái Tông và Thái tử Trần Hoảng tự dấn thân ra trước trận đầu, đánh giặc Nguyên Mông, do tên Ngột Lương Hợp Đài chỉ huy vào ngày 12/12 năm Bính Thìn (1257), rồi rút bỏ đế đô làm “thành không nhà trống” để dụ giặc khiến ông vô cùng thán phục.

Nguyễn Khoan cùng ba con đốc thúc mọi người quanh vùng cũng làm “vườn không, nhà trống” để không cho giặc ăn cướp, đào hào hố, tổ chức nhiều đội kỵ sĩ, đoản binh (cảm tử quân) và xạ kích bằng tên thuốc… để giết giặc trên đường rút lui...

Mười hai ngày sau, Vua Trần cho quân ngược dòng sông lên tập kích vào trại giặc đóng dã ngoại ở Đông Bộ Đầu (Bắc thành Thăng Long) số còn sống sót. hoảng hốt rút chạy, lên tới trận địa phục kích của cha con Nguyễn Khoan bị diệt thêm một số và qua trại Quy Hoá cũng bị diệt thêm, bởi tù trưởng ngưòi dân bộc là Hà Bổng, khiến cho giặc Nguyên chẳng kịp cướp phá và nấu nướng mà ăn, nên người đương thời kêu chúng là “ Giặc Phật”. Trong trận đó nhà vườn của Nguyễn Khoan, nằm trên con đường rút chạy của giặc đã bị cháy sạch, cả ông cũng bị tử thương vào đêm 24 tháng 12 cùng năm Bính Thìn (1257).

Sau khi Nguyền Khoan mất., Nguyễn Khoái đưa mẹ cùng hai em đến vùng Đông Triều quê ngoại mà làm ăn sinh sống.

 

Sau khi toàn thắng giặc Nguyền Mộng, vào năm Kỷ Sửu (1289), truy công tưởng lệ các công thần. Vua Trần Nhân Tông đã phong cho ông Nguyễn Khoan chức “ Trung Lương tướng thượng đẳng thần”.

Theo “ Nguyễn Gia Thế Truyền " do KHOÁI HẦU tục biên, tờ 22 có ghi:         

 " Đến đời nghiêm phụ ta, tuy chưa có công gì lớn với nhà Trần. Nhưng là nguời đi đầu giúp Trần Thái Tông trong trận đầu chiến thắng giặc Nguyên,..mà chết. Rất đáng để cho anh em ta cùng con cháu dòng họ Nguyễn về sau mãi mãi, noi gương sáng”  (“Nguyễn Gia văn tập ") do Tiến sĩ Nguyễn Văn Chương dịch ra chữ nôm; đến đời Tú tài Nguyễn Quang Dư dịch ra chữ Quốc ngữ; Nguyễn Quang Kỳ (con), ở tại chợ Võ Đắc ( Huyện Đức Linh, Tỉnh Bình Thuận .) cất giữ.

Như vậy,  kể từ Ông Nguyễn Khoan là KHỞI TỔ  HỌ NGUYỄN của chúng ta.

 

2/ THẾ TỔ

NGUYỄN KHOÁI

NGUYỄN TRUYỀN

(Con của Nguyền Khoan)

Vốn sinh trưởng trong một dòng họ văn thao, võ lược kiêm toàn ấy, lại về ở ẩn dật “quan viên nhi thực lực” ở quê nhà, nên ba chàng công tử này đuợc tiếng là : “hay văn, giỏi võ, thạo cày , cứu dân giữ nước, xứng trai anh hùng”.

Nguyễn Khoái đem mẹ về quê ngoại ở Đông Triền (Tỉnh Hải Hưng- Hải Dương& Hưng Yên) rồi cùng hai em chuyên việc văn ôn , võ luyện mà thi thố tài năng với đời.

Nguyễn Khoái kết bạn cùng với Trần Khánh Dư bị triều đình đày xuống làm nghề đốn củi , đốt than mà sống ở Đông Triều, Còn Nguyễn Khả cùng Phạm Ngũ Lão hoạt động ở hai bên lưu vực vùng sông Nhị Hà.

Đến năm Ất Dậu (1285) trong trận tiêu diệt giặc Nguyên hai bên bờ sông Hồng “Tướng quân Nguyễn Khoái đem tập binh đón đánh giặc ỏ bến Tây Kết; nên được nhà Trần gia phong “ Nguyễn Khoái làm Liệt Hầu và phong cho một quận than mộc, gọi là Khoái Lộ”( Đại Việt sử ký toàn thư, tập II, trang 53,63). Nay là auhuyện Khoái Châu, Hưng Yên.

   Cùng thời Nguyễn Khả Lập, Nguyễn Truyền, Trần Đình Toản, Trần Thông, do Thượng tướng Trần Quang Khải chỉ huy bao vây tiêu diệt giặc.

“ Nguyễn Khả Lạp cùng em là Nguyễn Truyền đem dân binh các lộ  đánh bại giặc ở các xứ kinh thành Chương Dương”( SĐD trang 54).

 Sau đó, Nguyễn Khả Lạp đã chiến đấu và hy sinh trong trận dìm giặc Nguyên ở Bạch Đằng Giang vào tháng 3 năm Mậu Tý ( 1288).

 Thế là, những vị anh hùng dòng họ Nguyễn còn lại  là Nguyễn Khoái và Nguyễn Truyền sinh ra bao thế hệ anh hùng dựng và giữ nước mãi về sau.

3/ NGUYỄN BÍNH

( CON CỦA NGUYỄN KHOÁI)

Học giỏi, đậu Tiến sĩ dưới Triều Trần Nhân Tông đã từng đi sứ sang nà Nguyên nên được Nhân Tông tin cẩn như lời của Trần Anh Tông: “ Bính là cận thần của Thượng Hoàng, tính người trong sạch, thẳng thắn, năm trước đứng đầu thành nhân sang sứ Nguyên, trở về không mua thứ gì, Thượng Hoàng khen ngợi; đặc cách ban thưởng  với chức danh quan “Nội Thư Hỏa Chánh Chương Phụng Ngự”.( Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, quyển II, trang 101).

 Do vậy, tháng 11, năm Bính Thìn(1316) Trần Khánh Dư làm Chánh Sứ, Bính làm Phó vào duyệt binh ở Diễn Châu( Nghệ An). Khi hồi triều dâng sớ bộ và tiền bổng, được Trần Nhân Tông khen ngợi và ban thưởng.

4/ NGUYỄN NẠP HÒA

(Con của Nguyễn Bính)

Học giỏi, thi đậu Tiến sĩ, được Nhà Trần phong làm Đại Tướng Quân, năm Đinh Tỵ (1377 ) tùng chinh với Vua Trần Duệ Tông đi dẹp loạn Chiêm Thành bị Chế Bồng Nga trá hàng dụ quân Trần tiến sâu vào Lâm Bình ( Bình Định ) nên cả Duệ Tông cùng các tướng sĩ, trong đó có Nguyễn Nạp Hoà đều tử trận.

Trong trận này. Hồ Quý Ly làm vận lương, -nghe tin thất trận bỏ trốn về. Từ đó sinh ra cái hoạ, quốc vận suy vi, kỷ cương điên đảo, dân tình ly loạn và sa vào tay của giặc Minh.

Và cũng từ đấy, con cháu của Nguyễn Nạp Hoà vào hẳn ở Nghệ An.

 

 

6/NGUYÊN ĐA PHƯƠNG

(con Nguyễn Nạp Hoà )

 Nguyễn Đa Phương nhiều lần đánh giặc Chế Bồng Nga kéo ra tàn phá đất nưốc ta, nên được phong làm “Kim Ngộ Vệ Đại Tướng Quân”. Nhưng bị Hồ Quý Ly ghen ghét, dèm pha với Trần Thuận Tông; bị giết vào tháng 11 năm Kỷ Tỵ (1389).

   Ông căm giận than rằng : “ Ta vì có tài nên được giàu sang, cũng vì có tài mà đến nổi chết. Chỉ hận là không được chết ở nơi chiến trận mà thôi ” (ĐVSKTT, qụyển I trang 179 đã ghi).

Với Nhân Huệ Vương Trần Khánh Dư kể từ năm Tân Tỵ (1281) khi ông này bị tội đày  bán than. Sau Trần Khánh Dư được phục chức cùng Nguyễn Khoái như hình với bóng, cùng đánh giặc Nguyên có công trạng lớn; thì sao cách 107 năm sau ( 1281 - 1388 ) lại còn có chuyện “ các tướng phủ ở các phủ, như tướng chỉ huy quân Thiết Liêm là Nguyễn Khoái, Nguyễn Văn Nhĩ...”( trang173 quyển VIII, SĐD); và trong suốt cuộc đời chiến đấu của Đa Phương , Hồ Quý Ly bởi hắn được Vua Trần giao cho chức tột đỉnh Triều Đình, Thủ Tướng và Nguyên Soái,

Nhưng Quý Ly lúc nào cũng chạy trốn giặc; mà trong quyển sử này chưa thấy chỗ nào ghi Đa Phương gian trá, sợ giặc, theo bè với Quý Ly .

Vậy mà sử thần Ngô Sĩ Liên lại bình rằng “Đa Phường vào bè với Quý Ly , có phải trời mượn cớ đó mà giết hắn chăng”  trang và SĐD trên) thì quả thật là lạ ? Không thể chấp nhận được.

 

 

PHỤ BẢN: Vua Việt chết thảm dưới tay Chế Bồng Nga vì ngông cuồng, bắt đại tướng mặc áo đàn bà

 


 

Không những không nghe lời can ngăn, Trần Duệ Tông còn ép đại tướng của mình mặc áo đàn bà để xỉ nhục, để rồi phải nhận cái kết bi thảm.Vua bỏ mạng vì khinh địch, xỉ nhục đại tướng.

Trần Duệ Tông tên thật là Trần Kính, còn có tên khác là Trần Canh, sinh ngày 2 tháng 6 năm Đinh Sửu (1337), là con trai thứ 11 của Trần Minh Tông, mẹ là Đôn Từ hoàng phi Lê Thị Khắc Viện. 

Ngày 9 tháng 11 năm Nhâm Tí (1372), ông được anh trai là vua Trần Nghệ Tông nhường ngôi cho trở thành hoàng đế thứ 10 của triều Trần.

Bấy giờ bên trong thì triều chính suy yếu, xã hội bất ổn; bên ngoài thì ở phía Bắc triều Minh lăm le xâm lấn, phía Nam thì Chiêm Thành liên tục quấy nhiễu. 

Trong bối cảnh đó, Trần Duệ Tông đã ban hành nhiều chính sách nhằm khắc phục những hạn chế, thiếu sót, vực dậy sức mạnh của vương triều. 

Một trong những sách lược mà vua chủ trương đó là tăng cường sức mạnh của quân đội bằng việc tuyển quân, luyện tập võ nghệ, sửa đóng chiến thuyền, tích trữ lương thảo... muốn dùng binh lực áp chế Chiêm Thành mãi mãi để rảnh lo đối phó với phương Bắc. Nhưng không ngờ đó lại là tai họa không chỉ với bản thân ông, mà còn khiến triều đại nhà Trần tiến gần đến bờ diệt vong.

Trước khi vua xuất quân, Hoàng phi Nguyễn Bích Châu đã dâng biểu cho rằng không nên dùng vũ lực mà "xin nghỉ binh cho dân chúng được yên hàn, trị cái rắn nên dùng cái mềm, lấy đức để thu phục người phương xa như vua Hạ (Vũ) chỉ gảy đàn mà chẵn 1 tháng rợ Hồ quy phục, đó là thượng sách" (Theo Truyền kỳ Tân phả).

Nhiều đại thần văn võ, tiêu biểu nhất là quan Ngự sử trung tán Lê Tích và Ngự sử đại phu Trương Đỗ 3 lần lên tiếng can ngăn nhưng Trần Duệ Tông không nghe, nhất quyết thân chinh đi đánh, lại nghe theo lời sàm tấu của Hành khiển Đỗ Tử Bình nói rằng Chiêm Thành vô lễ, cần phải diệt trừ.

Tháng 12 năm Bính Thìn (1376), Trần Duệ Tông dẫn 12 vạn quân ra trận, đến tháng giêng năm Đinh Tị (1377) khi đến cửa biển Thị Nại (nay thuộc Quy Nhơn, tỉnh Bình Định) thì đóng quân ở động Ỷ Mang. 

Vua Chiêm là Chế Bồng Nga cho người đến vờ xin hàng, Trần Duệ Tông liền thúc quân tiến vào kinh đô Chà Bàn.

Thấy vua quá chủ quan khinh địch, "đại tướng Đỗ Lễ can rằng: "Nó đã chịu hàng là muốn bảo toàn đất nước làm đầu. Quan quân vào sâu đánh phá thành giặc là việc bất đắc dĩ. 

Xin hãy sai một biện sĩ cầm mảnh thư đến hỏi tội, để xem tình hình hư thực của giặc, như kế sách của Hàn Tín phá nước Yên ngày trước, không phải khó nhọc mà thành công. Cổ nhân có nói: "Lòng giặc khó lường". Thần xin bệ hạ hãy xét kỹ lại".

Vua nói: "Ta mình mặc giáp cứng, tay mang gươm sắc, dãi gió dầm mưa, lội sông trèo núi, vào sâu trong đất giặc, không ai dám đương đầu với ta. Ấy là trời giúp cho ta đó. 

Huống chi nay chúa giặc nghe tin đã chạy trốn, không còn lòng dạ đánh nhau. Cổ nhân nói: "Dùng binh quý thần tốc". Nay nếu dừng lại không tiến thì thực là trời cho mà không lấy, để nó lại cơ mưu khác thì hối sao kịp. Ngươi chính là hạng đàn bà".

Rồi sai lấy áo đàn bà mặc cho Lễ. Quân lính bèn nối gót nhau như xâu cá mà đi. Cánh quân đi trước và cánh quân ở sau hoàn toàn cách biệt. Giặc thừa thế xông ra đánh chặn" (Đại Việt sử ký toàn thư).

Bị phục binh quân Chiêm vây hãm, Trần Duệ Tông và nhiều quan tướng bị chết trong đám loạn quân, hôm đó là ngày 24 tháng 1 năm Đinh Tị (1377).

Sách Đại Nam quốc sử diễn ca có câu rằng:

Duệ Tông hăm hở phục thù,

Đánh Chiêm nào quản tri khu dặm trường.

Khinh mình vào động Ky Mang,

Tinh kỳ tan tác gió sương mịt mù.

Đánh giá về Trần Duệ Tông, sách Đại Việt sử ký toàn thư viết: "Vua là người ương bướng, tự theo ý mình, không nghe lời can, khinh thường quân giặc nên tai vạ đến mình chứ không phải là bất hạnh"

Còn sách Đại Việt sử ký tiền biên thì bình rằng: 

"Việc thích dùng binh, coi thường địch, chống lại lời can, làm theo điều sai trái, nhận sự đầu hàng nhưng không xét tình hình; vào nơi hiểm yếu mà không phòng bị thăm dò nghiêm ngặt, thúc ngựa nơi hiểm trở gập ghềnh...

...quân đi liên tiếp như xâu cá, cuối cùng sa vào mưu lừa dối của địch, không ai cứu khi bị đánh cắt ngang, ba quân sụp đổ, xe vua phải chở xác về, để lại sự chê cười ở rợ man, không nói được gì với Trung Quốc, sự thất bại ở Ỷ Mang há chẳng phải là tự mình chuốc lấy đó sao?".

Khi đã vào thành, Nhật Lễ vẫn cầm quân đánh lại, trách Duệ Tông là làm trái chiếu chỉ của Thái hậu, Duệ Tông tức giận chỉ huy các quân. Hỏa pháo đều bắn ra. Kinh thành lửa sáng rực trời, Nhật Lễ từ cửa Thanh Dương trốn ra, Duệ Tông bắt được…".

Nhờ có nhiều công trong việc dẹp loạn này mà Đỗ Lễ được triều đình thăng lên đến chức Đại tướng quân. 

Tướng Đỗ Lễ là ai?

Lại nói về Đỗ Lễ, vị đại tướng bị vua Trần bắt phải mặc váy áo đàn bà để làm nhục, sử sách không cho biết về thân thế của ông, tuy nhiên theo nguồn sử liệu dân gian, chúng ta biết thêm một số thông tin về ông. 

Trong bản Tông phả họ Đỗ do Hoàng giáp Đỗ Thiện Chính biên soạn vào đời vua Lê Thần Tông triều Lê Trung hưng cho biết: Đỗ Lễ thuộc dòng họ Đỗ quê gốc ở thôn Bồng Trung, xã Đông Biện (nay là xã Vĩnh Tân thuộc huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hóa), đây là dòng họ có nhiều người làm quan văn tướng võ dưới triều Lý, triều Trần…

Đỗ Lễ từ nhỏ đã là người có sức khỏe, khi trưởng thành có tiếng là giỏi võ nghệ, ham thích binh thư, rất dũng lược. Theo lệ tuyển binh của triều Trần, Đỗ Lễ tham gia quân đội, nhờ tài năng mà dần dần được thăng lên làm tướng quân. 

Ít ai biết rằng Đỗ Lễ là một trong những người có công lớn trong việc dẹp loạn Dương Nhật Lễ vào tháng 11 năm Canh Tuất (1370), giành lại ngai vàng cho họ Trần. 

Trong sách Đại Việt sử ký tiền biên có đoạn cho biết như sau: "Xét thấy ngoại kỷ chép: Trước đây Duệ Tông khởi nghĩa giết Nhật Lễ, có quan văn là Trần Thâm tính kế hoạch, có quan võ là Đỗ Lễ điều quân. 

Khi đã vào thành, Nhật Lễ vẫn cầm quân đánh lại, trách Duệ Tông là làm trái chiếu chỉ của Thái hậu, Duệ Tông tức giận chỉ huy các quân. Hỏa pháo đều bắn ra. Kinh thành lửa sáng rực trời, Nhật Lễ từ cửa Thanh Dương trốn ra, Duệ Tông bắt được…".

Nhờ có nhiều công trong việc dẹp loạn này mà Đỗ Lễ được triều đình thăng lên đến chức Đại tướng quân. 

Trong cuộc Nam chinh cuối năm Bính Thìn (1376) đầu năm Đinh Tị (1377) do Trần Duệ Tông chủ trương, thấy vua coi thường đối phương, Đỗ Lễ đã cẩn trọng khuyên vua đề phòng, nhưng vua không nghe còn chê ông là nhút nhát, bắt phải mặc áo đàn bà để sỉ nhục. 

Sử chép rằng vì mắc mưu trá hàng của quân Chiêm, quân Trần bị thua to, "giờ Tỵ (khoáng từ 9 đến 11 giờ trưa) quan quân tan vỡ. Vua bị hãm trong trận mà chết, bọn Đại tướng Đỗ Lễ, Nguyễn Nạp Hòa, Hành khiển Phạm Huyền Linh đều chết cả" (Đại Việt sử ký toàn thư).

Theo dã sử, vua Trần Duệ Tông bị trúng tên tử trận, bấy giờ Đại tướng Đỗ Lễ cầm cây thương thúc ngựa xông lên đánh với vua Chiêm là Chế Bồng Nga để cho đội ngự binh cướp xác vua rút lui. 

Quân Trần bấy giờ hoàn toàn tan vỡ, không còn ra một đội hình nào cả nên Đỗ Lễ sức cùng lực kiệt bị quân Chiêm xúm lại dùng giáo đâm xối xả khiến vị đại tướng cả người, cả ngựa gục xuống trên chiến trường.

Khi viết về sự kiện bi thương này của vua quan nhà Trần, tác giả sách Việt sử giai thoại có lời bàn rằng: "Đánh giặc cũng như đánh cờ, có khi trước phải tạm nhường mấy nước miễn sau cùng giành phần thắng thì thôi. 

Đại tướng Đỗ Lễ cẩn trọng, ấy cũng là phép xử thường của kẻ quen xông pha trận mạc. Duệ Tông bất chấp lời can ngăn, lại còn coi khinh mà hạ nhục, bắt Đại tướng phải mặc áo đàn bà trước mặt ba quân, chủ quan háo thắng mà vô mưu đến thế, bảo không thảm bại làm sao được. 

Cổ nhân dạy rằng, dụng binh mà khinh tướng, ấy là nguy. Duệ Tông hạ nhục Đại tướng Đỗ Lễ, có biết đâu là đã tự hạ nhục mình, mà xem ra, cái nhục của Duệ Tông mới thực là nỗi nhục lớn hơn cả".

Câu chuyện về Trần Duệ Tông là một bài học sâu sắc của các bậc quân chủ giữ vai trò lãnh đạo quốc gia; với những việc quân sự quan trọng phải có sự tính toán, cân nhắc lợi hại, thiệt hơn; phải biết sức mình và lực người chứ không dựa trên sự nóng nảy, kiêu ngạo nhất thời sẽ dẫn đến thất bại, thậm chí có kết cục bi thảm.

Lê Thái Dũng -Theo Trí Thức Trẻ


 

Tài liệu tham khảo:

1. Đại Nam quốc sử diễn ca (Lê Ngô Cát, Phạm Đình Toái) – NXB Giáo dục, 2007

2. Đại Việt sử ký tiền biên (Các sử thần triều Lê)- NXB Văn hóa thông tin, 2011

3. Đại Việt sử ký tục biên (Các sử thần triều Lê)- NXB Văn hóa thông tin, 2011

4. Khâm định Việt sử thông giám cương mục (Quốc sử quán triều Nguyễn)- NXB Giáo dục, 1998

5. Việt sử giai thoại (Nguyễn Khắc Thuần)- NXB Giáo dục, 1999

6. Việt sử tiêu án (Ngô Thì Sĩ) – NXB Thanh niên, 2001