ĐỜI THỨ XIX: NGUYỄN HỮU CHỈNH

Nguyễn Hữu Chỉnh (1741-1787) là tướng thời Lê Trung Hưng và Tây Sơn, một nhân vật lịch sử có ảnh hưởng tới lịch sử Việt Nam trong thế kỷ 18, hiệu Bằng Lĩnh Hầu, quê làng Cổ Đan, xã Đông Hải, huyện Chân Phúc, nay là xã Phúc Thọ, huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An, là con trai trưởng của Phủ tả đô đốc Thái bảo Hải Quận Công - phú thương Nguyễn Mẫn, gia tư hàng vạn người.Theo gia phả Họ Nguyễn Triệu Cơ Quỳnh Đôi ông nội Nguyễn Hữu Chỉnh là Nguyễn Hữu Tượng (còn gọi là Tường); con trai là Nguyễn Hữu Duyên (còn gọi là Du).

Cuộc sống sung túc tạo cho Chỉnh hơn người. Học khắp các kinh sử, thi đỗ Hương cống lúc mới 16 tuổi, nên còn gọi là Cống Chỉnh. Chỉnh dung mạo tuấn tú lại có tài ứng đối, lên 9 tuổi đã ứng khẩu làm được bài thơ “Vịnh cái pháo”; hay Nôm (nghĩa là không chịu nho hóa), hào hiệp, giao du rộng rãi, ứng biến lanh lẹ, giỏi thủy chiến nên có danh hiệu “con cắt nước”, Chỉnh là một bộ mặt đặc biệt. Ông nổi tiếng ở kinh kỳ là người có tài ứng đối chữ nghĩa. Về võ, ông thi đỗ Tam  trường. Chỉnh ý thức được tài mình, cho nên không phải là quá huênh hoang khi ông nói với Nguyễn Huệ: “Nhân tài Bắc Hà có một mình Chỉnh, Chỉnh đi rồi ấy là cái nước trống không”. Mơ ước làm Chim Bằng tung cánh đến xưng tước là Bằng Lĩnh Hầu, Bằng Quận Công, Chỉnh có tầm mắt rộng rãi hơn bọn sĩ phu, võ quan đương thời. “Thiên hạ vạn nước, lo gì không chỗ đi”, đó là lời Chỉnh trả lời thái độ rụt rè của Trấn thủ Nghệ An, em rể Quận Việp, khi phải trốn cái vạ Quận Huy bị quân Tam phủ giết chết. Nguyễn Nhạc, Châu Văn Tiếp rồi bây giờ Nguyễn Hữu Chỉnh, những người khác xứ, lúc bạn lúc thù nhưng đều giống nhau ở chỗ xuất thân, đó là những bộ mặt làm khuấy đảo thêm dữ dội xã hội Đại Việt của thế kỷ XVIII vậy.

Sách “Khâm định Việt sử thông giám cương mục” chép: “Hữu Chỉnh, lúc trẻ tuổi đỗ hương tiến, là người hào phóng không bó buộc vào khuôn phép. Du lịch kinh sư, Hữu Chỉnh vào yết kiến Hoàng Ngũ Phúc. Ngũ Phúc khen là có tài khác thường, dùng làm gia khách. Khi Ngũ Phúc vào xâm lấn trong Nam, cho Hữu Chỉnh đi theo quân thứ, giữ công việc thư kí, rồi sai đến Tây Sơn khuyên Văn Nhạc (tức Nguyễn Nhạc) quy thuận với triều đình, được Văn Nhạc kính trọng”.

Nguyễn Hữu Chỉnh từng làm thuộc hạ của quận Việp Hoàng Ngũ Phúc ở Đàng Ngoài. Sau khi quận Việp mất, ông tiếp tục làm thủ hạ cho cháu quận Việp là quận Huy Hoàng Đình Bảo, người được giao làm phụ chính cho Điện Đô vương Trịnh Cán, con nhỏ của Tĩnh Đô vương Trịnh Sâm lên ngôi lúc mới 5 tuổi.

Năm 1782, phe người con lớn của Trịnh Sâm là Trịnh Tông làm binh biến lật đổ

Trịnh Cán, giết Hoàng Đình Bảo.

Tháng 11 Nhâm Dần (1782), Nguyễn Hữu Chỉnh không hợp tác với Trịnh Tông, bỏ trốn vào Nam theo Tây Sơn và được vua Thái Đức Nguyễn Nhạc rất tín nhiệm.

Chỉnh đi theo Tây Sơn, “ngày đêm vì giặc bày mưu thiết kế”. Sử quan nhà Nguyễn thấy rõ rằng Chỉnh “rốt lại thành mối lo cho Bắc Hà”. Nhưng vượt trên sự lo lắng cho cơ nghiệp một dòng họ, ta cũng thấy việc Chỉnh vào Quy Nhơn là quan trọng: đó là sự

 

tập trung, hợp tác của những năng lực làm gẫy đổ cơ cấu chính trị đương thời, đó là sự tiếp sức làm đổ vỡ nốt cái thế phân tranh cũ kéo dài hơn hai trăm năm rồi.

Năm 1786, biết quân Trịnh chểnh mảng, ông hiến kế cho vua Thái Đức đánh ra Phú Xuân. Vua Thái Đức nghe theo, sai Nguyễn Huệ, Nguyễn Lữ cùng Nguyễn Hữu Chỉnh mang quân bắc tiến.Hữu Chỉnh lập kế ly gián giữa chủ tướng thành Phú Xuân là Phạm Ngô Cầu và phó tướng là Hoàng Đình Thể. Kết cục Thể chết trận, Cầu đầu hàng quân Tây Sơn nhưng cũng bị giết.

Nguyễn Hữu Chỉnh hiến kế cho Nguyễn Huệ mang quân ra Bắc Hà diệt chúa Trịnh, lấy danh nghĩa “phù Lê”. Nguyễn Huệ cùng Chỉnh mang quân bắc tiến. Chỉnh làm tiên phong, đại quân Tây Sơn đánh như gió cuốn ra bắc. Quân Trịnh tan vỡ chạy. Sau một tháng, quân Tây Sơn tiến vào Thăng Long, Trịnh Tông bỏ chạy không thoát bèn tự sát.

Sau khi Nguyễn Huệ yết kiến vua Lê Hiển Tông, Nguyễn Hữu Chỉnh lại sắp đặt

Nguyễn Huệ lấy công chúa Lê Ngọc Hân, con gái thứ của vua Lê.

Vua Thái Đức (Nguyễn Nhạc) không muốn Nguyễn Huệ đánh ra Bắc Hà nên thân hành ra bắc gọi em về. Anh em Tây Sơn biết Nguyễn Hữu Chỉnh là người tài không muốn dùng, nên lập kế đột ngột rút quân về Nam.

Nguyễn Hữu Chỉnh biết người ở Bắc Hà ghét mình, sợ bị họ giết nên khi phát hiện quân Tây Sơn rút đi, ông vội vã chạy theo. Nguyễn Huệ thấy vậy liền sai ông trấn thủ Nghệ An là đất giáp ranh giữa Tây Sơn và đất nhà Lê.

Ở Bắc Hà sau khi Tây Sơn rút, các tướng ủng hộ họ Trịnh như Đinh Tích Nhưỡng, Hoàng Phùng Cơ, Dương Trọng Tế nổi dậy, dựng Trịnh Bồng làm chúa mới, tức là Án Đô vương, lại lấn át vua Lê mới là Chiêu Thống (cháu nội Hiển Tông).Vua Lê sai người vào Nghệ An mời Nguyễn Hữu Chỉnh dẹp họ Trịnh. Được danh chính là lời gọi của vua Lê, ông chiêu tập hơn 1 vạn quân, bắc tiến như chẻ tre. Quân Trịnh do Lê Trung Nghĩa, Phan Huy Ích được cử đi đánh bị bại, Nghĩa bị giết, Ích bị Chỉnh bắt sống. Sau đó quân Chỉnh đánh thốc ra Thăng Long, các tướng Trịnh thua trận bỏ chạy, Án Đô vương Trịnh Bồng bỏ đi mất tích. Chiêu Thống sai đốt phủ chúa. Họ Trịnh từ đó không quay lại ngôi vị được nữa.

Dẹp được chúa Trịnh, Nguyễn Hữu Chỉnh được vua Chiêu Thống phong là Bình

Chương Quân Quốc Trọng Sự, Ðại Tư Ðồ, Bằng Trung công.

Các tướng họ Trịnh cũ vẫn hoạt động chống lại nhà Lê. Nguyễn Hữu Chỉnh một tay đánh dẹp lần lượt đánh bại và giết cả Đinh Tích Nhưỡng, Dương Trọng Tế và Hoàng Phùng Cơ. Cả Bắc Hà khi đó không còn đối thủ.

Vì vợ con ông còn ở lại bên Tây Sơn, nên muốn liệu chiều để đi đến chỗ nghị hòa, nhưng còn do dự, chưa quyết định. Ông không hề có ý đồ chống Tây Sơn Nguyễn Huệ, nên không phòng thủ biên giới. Khi quân Tây Sơn do Vũ Văn Nhậm chỉ huy tiến ra Bắc Hà, Ông bị rơi vào thế bị đông, bị đánh bại, bị Nhậm bắt, bị hành hình!

Ông bị Nhậm kể tội, nhưng Ông không thèn van nài, vẫn giọng hách dịch đáp: “Chỉ vì cái thế như vậy”.

Không chỉ là một nhà quân sự thao lược, Nguyễn Hữu Chỉnh còn là một văn tài xứ

Nghệ được giới sỹ phu Bắc Hà đương thời nể phục.

Nguyễn Hữu Chỉnh thuộc lớp nho sỹ khoác áo quan trường tích cực nhập thế, định hướng vào hoạt động chính trị, hy vọng và tin tưởng vào thiên chức cứu thế của mình. Nhưng ông không thể nhận ra rằng mình chỉ là công cụ của giai cấp thống trị đang buổi suy vi, ở đó chế độ sủng thần từng ký sinh trong cung Vua phủ Chúa qua các vương triều, đục nước béo cò tác oai tác quái. Giữa bối cảnh ấy, việc ông nung nấu ý chí hoài bão, muốn khẳng định tài năng cống hiến cho dân cho nước, khác nào tự biến mình thành cái “gai” trong mắt những sủng thần.

Vì sao trong khi không ít nhà Nho thực hiện lời dạy của thầy Khổng Tử:..Nước đang nguy thì không nhập, nước đang loạn thì chớ ở. Thiên hạ có Đạo thì xuất hiện, không có Đạo thì tránh đi. Ở nước có Đạo mà mình nghèo và hèn thật đáng xấu hổ. Ở nước vô Đạo mà mình giàu sang cũng xấu hổ..., và số đông nho sỹ tạm lui về cuộc sống ẩn sỹ, âm thầm gửi chí hướng hoài bão vào thơ ca, vào đất, trời, sông, núi... thì Nguyễn Hữu Chỉnh lại xông ra đối diện với thực tại của xã hội đầy sóng gió bão tố ấy?

Nguyễn Hữu Chỉnh giỏi về Quốc văn, trên nhiều thể như thơ, ca, nhạc khúc, phú... Tương truyền ông là người hào hoa, phóng túng và giao du rộng; vừa có tài hùng biện của một thuyết khách vừa có cái vẻ phong lưu của một nhà thơ. Sáng tác của Nguyễn Hữu Chỉnh gồm có Ngôn ẩn thi tập, Cung oán thi, các bài phú Quách Tử Nghi, Trương Lưu hầu, Văn tế Cả Cống, Văn tế chị, bài Tần cung nữ oán Bái công, các bài ca Lưu Nguyễn nhập Thiên Thai, Ngũ luân vãn... nhưng ngày nay đã thất thoát một phần.

Cuộc đời Nguyễn Hữu Chỉnh lắm thăng trầm, nhiều gian truân, và dường như văn thơ ông cũng theo những thăng trầm ấy mà thể hiện tâm sự khác nhau.Nguyễn Hữu Chỉnh qua văn chương có khả năng đưa ra những dự cảm quan trọng về số phận của chính mình. Có thể kiểm chứng thêm nhận định này qua bài Cái pháo:

Xác không vốn những cậy tay người

Khôn khéo làm sao đất cũng rời

Kêu lắm lại càng tan tác lắm

Thế nào cũng một tiếng mà thôi.

Văn chương Nguyễn Hữu Chỉnh thể hiện những khát vọng dữ dội. Ông luôn ôm ấp hoài bão vươn đến đỉnh cao nhất của công lao, danh vọng. Ông mong được lấy bản thân làm thước đo cho cả thời đại, đó là một ý tưởng táo bạo và ngang tàng.