DỊCH NGHĨA TỪNG TRANG TỪ PHẢ GỐC CỤ NGUYỄN TRUNG TRỰC

DỊCH NGHĨA TỪNG TRANG TỪ PHẢ GỐC CỤ NGUYỄN TRUNG TRỰC

(Người dịch: Nguyễn Tri Kiện)

LỜI MỞ ĐẦU

QUYỂN PHẢ CHI HỌ NGUYỄN PHÚ NGHĨA

Nhà có phổ cũng như nước có sử vậy. Tại sao ta không ghi để biết nguồn gốc ,sự nghiệp của tổ tiên. Các vị tổ họ ta từ 9 đời về trước gia phả bị thất lạc nên thế thứ sự nghiệp của tổ tiên không biết, 9 đời về sau con cháu ngày càng đông đúc, nhưng thế thứ nguồn gốc ta vẫn không biết rõ. Gặp lúc đầu xuân kính tế, phả hệ tổ tiên từng trải nhiều đời con cháu cũng không thể biết gặp ông Nguyễn Trí... bậc bá phụ han hỏi ông trả lời - ngày xưa bọn giặc từ phương bắc đến thường gọi là giặc Tàu Ô, thường vào quấy phá, dân chúng chạy tán loạn nên gia phả thất lạc. Đến đời Thành Thái ( 1889 - 1907) may gặp ông Trương San... (không rõ tên) ứng bút mà nói rằng:

Tổ tích tự QUỲNH ĐÔI do một ông tam trường hội thí (thi hội vào đên tam trường) tức là đậu Phó Bảng xuống lập nghiệp mà hình thành - quả đúng như vậy nhưng 9 đời đến nay đã lâu gia phả không còn, nguồn gốc tên tuổi thế thứ sự nghiệp không thể nhớ hết. Các con cháu có tri thức hiểu biết đã dày công tìm tòi nghiên cứu nhưng cũng vẫn bế tắc. Cuối cùng đã cùng các bậc bá phụ tìm tòi các bản gốc biên soạn hệ thống thành gia phả thiết lập sơ đồ tong mạch thế thứ các chi các đời soạn thành 3 bản lưu trong dòng họ trong con cháu để hằng ngày xem vào gia phổ, xem vào tông mạch sẽ biết được thế thứ nguồn gốc sự nghiệp của tổ tiên, ông bà cha mẹ chú bác, anh em trong dòng họ mình.

DỊCH NGHĨA

VẠN ĐẠI NHƯ KIẾN BÁCH THẾ BẤT THIÊN MUÔN ĐỜI CÒN THẤY 1QQ ĐỜI KHÔNG ĐỔI THAY. SÁNG VỀ TRƯỚC - TỎA VỀ SAU KẾ THỪA VÀ PHÁT HUY trong con cháu để hàng ngày xem vào tông đồ, tông mạch sẽ biết được thế thứ nguồn gốc

Ông Nguyễn Ngọc Chúc biên chép vào tháng 2 năm Nhâm Tuất (1922) triều Khải Định.

Nguyễn Tông Cửu Thế Tông Đồ thế thứ từ Ông Đạo An sinh 1 trai là Thanh Giác, ông Thanh Giác sinh 4 trai nhưng chỉ còn 1 (theo cụ Nguyễn Ngọc Chúc đời 16 truyền lại từ thời Tháp Đạo là 4 anh em nhưng do thất lạc nên không nhận anh em, nay truyền lại để con cháu biết. 4 người Hữu Đinh - Hữu Chi - Phúc Sinh - Phúc Triêm). Phúc Sinh sinh nhị nam trưởng Nguyễn Nguyên mất sớm thứ Chân Tính húy là Văn Tinh - Văn Tinh sinh 3 nam. Trưởng Chất Nhã sinh 1 trai - thứ là Nguyễn Thấu phạp - trai thứ 3 là Nguyễn Phú sinh 4 trai 3 gái, sau thành 3 chi.

-   Thứ 2 Nguyễn Ngột tự Pháp Thực phạp - thứ 3 Nguyễn Thịnh tự Doãn Thực lấy Bùi Thị Viễn sinh 3 gái Thị Mỹ, Thị Đam, Thị Tam - thứ 4 Nguyễn Viên tự Minh Mẫn mất sớm - thứ 5 Nguyễn Quang tự Văn Khuê sinh 7 trai 3 gái - trưởng Nguyễn Nghị - thứ 2 Nguyễn Duệ mất sớm - Nguyễn Nghị sinh 3 nam đều chết sớm.

-   Thứ 3 - Nguyễn Trị sinh 3 trai 2 gái, trưởng Nguyễn Dũng, thứ 2 Nguyễn Túc, thứ 3 Nguyễn Túc. 4- Nguyễn Nguyên mất sớm. 5- Nguyễn Hanh sinh 2 trai l gái, trưởng Nguyễn Nghĩa, thứ Nguyễn Trong. 6- Nguyễn Duệ mất sớm. 7- Nguyễn Trinh sinh Nguyễn Nỗi mất sớm 2 gái Thị Yêm, Thị Kiệm.

Bát Đại - nhị thế - Thanh Giác sinh 4 nam Phúc Sinh - Phúc Lễ (phả ghi phạp và có trang ghi là Phúc Sinh làm tri huyện Nam Đàn con cháu đã về nhận họ). Ông Phúc Sinh sinh 2 trai trưởng Nguyễn Ngột mất sớm thứ nam Chân Tính sinh 3 nam.

-   Ông Thanh Giác là con ông Đạo An - thụy hiệu Nguyễn nhất Lang tự Thanh Giác, Nguyễn a nương hiệu từ Thuận, ngụ cư tại thôn Minh Cảo (tức xã Phú Thanh) chi trưởng cùng 2 - 3 chỉ còn một đinh - Nguyễn Tứ Lang tự Phúc Sinh bà Hồ nhị nương hiệu từ Thuận sinh 2 nam Nguyễn Ngột - Chân Tính

Thất đại - Tam Thế - Ông Phúc Sinh sinh nam trưởng Nguyễn Ngột mất sớm thư Chân Tính sinh 3 nam - trưởng Chất Nhã - thứ 2 Nguyễn Thấu (Thuật) - thứ 3 Nguyễn Phú.

TỨ THẾ - LỤC ĐẠI ÔNG CHÂN TÍNH

Sinh 3 trai 2 gái trưởng Chắt Nhã sinh 1 trai - Nguyễn Thấu F. - Nguyễn Phú sinh 4 trai trưởng Nguyễn Lương - Nguyễn Cảnh - Nguyễn Tinh - Nguyễn Bưu - Dẫn giải trưởng nam tên là Chất Nhã húy là Ninh lấy bà Lê Thị Mường tự Từ Hòa sinh l trai tên là Ba, 2 gái Thị Thanh, Thị Tường. Trai thứ 2 là Nguyễn Thấu. Trai thứ 3 là Nguyễn Phú. Thụy hiệu ông Chân Tính, Nguyễn nhị lang tự Chân Tính bà hiệu Nguyễn quý thị hiệu Liêm Cần ông bà lên làng Thạch Đông làm nghề nông sinh 3 trai 2 gái.

Tứ thế - Ngũ Đại - Ông Nguyễn Phú tự Hoành Tố húy là Binh sinh 4 nam 5 nữ. Con trưởng Nguyễn Lương sinh 5 nam 4 nữ trai thứ 2 Nguyễn Cảnh sinh 4 nam 7 gái trai thứ 3 Nguyễn Tinh sinh 4 nam, trai thứ 4 Nguyễn Bưu (có phả ghi là Phi). Con trưởng Nguyễn Lương sinh Nguyễn Đàm - Nguyễn Ngột - Nguyễn Thịnh - Nguyễn Viêm tự Minh Mần f - Nguyễn Quang tự Văn Khuê sinh 7 trai. 2 Nguyễn Cảnh Sinh; Nguyễn Vỹ - Nguyễn Duệ f - Nguyễn Diễn sinh 8 trai còn 1 là Nguyễn Điền - Nguyễn Minh tự Viết Thước sinh 2 trai còn 1: 3 - Nguyễn Tinh sinh: trai trưởng Nguyễn Trung Trực sinh 4 nam - thứ 2 Chân Thực - 3 Nguyễn Tuân sinh 4 nam 5 nữ - 4 Tài Năng f

-    Con ông Nguyễn Vỹ tên là Nguyễn Thúy tự tại thượng thôn tức khu đông thôn hậu cải vi quỳnh.... Con ông Nguyễn Minh là Nguyễn Sinh ra thôn Chí Linh xã Chính Linh, Hải Dương sinh Nguyễn Ba.

Ngũ đại Hậu vi tam chi

Ông Nguyễn Phú là huyền tôn ông Đạo An.. Là anh em cùng cha với ông Chắt Nhã ông Nguyễn Thấu thụy hiệu; Tiền bản phủ hiệu hiệu sinh Nguyễn Quý công tự Hoành Tố húy Nhã. Nhà nghèo ham học bà mẹ hiệu liêm cần dụng tâm nuôi cho ông ăn học nghề đến năm 26 tuổi mới trở về quê nhà lấy bà Đinh Thị Hiệp Tiền Lê ông ứng thí trúng Sinh Đồ, ông chuyên nghề dạy học trò, đa số đều thành đạt. Ông bà sinh

4   trai 3 gái, con cái đều cho theo đòi học nghiệp bước đầu am thông văn tự. Nhưng cuối thời Lê mạt. Năm Bính Ngọ 1786 Tây Sơn gây loạn con cái đều phải bỏ học chuyển sang nghề nông.

Nguyễn Quang trưởng nam tiền Lê đã kinh qua thi cử trúng Sinh Đồ - Nguyễn Cảnh tên tự là. Nguyễn Tinh tức là Khang - Nguyễn Bưu tức là Thước f. 3 gái Thị Thuần - Thị Loan - Thị Đỗ.

Lục thế - Tứ đại - đệ nhất chi Nguyễn Lương sinh 5 trai 4 gái trưởng Nguyễn Đàm - Nguyễn Ngột - Nguyễn Thị - Nguyễn Viêm - Nguyễn Quang tự khuê sinh 7 nam 3 nữ. Ông Nguyễn Lương là cháu 6 đời ông Đạo An, Thụy hiệu tiền bản phủ hiệu hiệu sinh kiêm thị lão Nguyễn Mạnh Lang tự Thanh Lương thụy đoan chất - bà Nguyễn Công Chính thất trương trọng thị.

Đệ nhất chú đệ nhị thỉnh tường. Ông Nguyễn Thanh Lương trưởng nam Nguyễn Đàm lấy bà Nguyễn Thị Hợi sinh 1 gái Thị Đính - con trai thứ 2 Nguyễn Ngột tự phác thực f. Con trai thứ 3 Nguyễn Thịnh tự Doãn Thực lấy bà Hộ Bùi hiệu từ viễn sinh 3 gái. Con trai thứ 4 Nguyễn Viên tự Minh Mần. Con trai thứ 5 Nguyễn Quang tự Văn Khuê sinh 7 trai 3 gái - Thị Quan - Thị Khoản - Thị Lan - Thị Nguyên lấy ông Trần Văn Nghinh.

Lục Thế - Đệ nhị chi Nguyễn Cảnh tự Viết. Sinh 4 trai 7 gái. Trưởng Nguyễn Vỹ húy Xướng 2 - Nguyễn Duệ tự Thuần Hà f 3 - Nguyễn Diễn sinh 8 trai còn 1 và

5   gái. Trai là Nguyễn Điền sinh 2 trai Nguyễn Hậu - Nguyễn Tứ mất sớm. 4 - Nguyễn Minh sinh 2 nam trưởng Nguyễn Sinh - sinh 2 nam Nguyễn Diệu - Nguyễn Bồi cả 2 đều mất sớm. Thứ Nguyễn Thúy sinh 3 nam trưởng Nguyễn Tỉnh sinh 2 nam thứ Nguyễn Hiến f. Con Nguyễn Tỉnh: Nguyễn Thức f - Nguyễn Phi sinh Nguyễn Đông

-    Nguyễn Thu (nay con cháu chi Phú Nghĩa), thứ 3 Nguyễn Thúy Nguyễn Năng f

Nguyễn Sanh (Sinh) sau ra Hải Dương sinh Nguyễn Ba rồi ở lại Hải

Nguyễn Cảnh cháu thứ tôn ông Chân Tính là con thứ 2 ông Nguyễn Phú là anh em cùng cha với các ông Nguyễn Lương - Nguyễn Tinh - Nguyễn Bưu. Thụy hiệu Tổ khảo tiền sách quân hậu dinh tráng vũ vệ thư lại, thăng thụ Tri Bạ mông đắc hưu trí linh thụ ân ban thượng thượng mạo thọ tự Hoa Vinh thụy trung hậu. Bà Phan Thị Hang nhất hiệu từ chính. Ông Cảnh vốn học vấn thông minh triều Lê gặp loạn Tây Sơn phải bỏ học lấy nghề nông sinh sống 23 tuổi lấy bà Phan Thị Tần sinh 2 trai 5 gái trưởng là Nguyễn Xương húy Vỹ thứ nam là lương tên thật là Duệ Thụy Thuận Hà f. Triều Tây Sơn ngày 12/2/1799 ông Nguyễn Phú mất (cha ông Cảnh). Tiếp ông Nguyễn Cảnh tháng 6/1799 ông tham dự vào việc binh, năm Nhâm Tuất 1802 đầu triều Nguyễn ông trung tuyển vào bộ binh sung vào đội Thần Sách quân hậu dinh tráng võ vệ nhất đội, thư lại lịch thụ văn sai, làm nội vệ tiện nghi tri bạ thư lại văn sai bảo chiếu, làm thư lại Thủ Hợp. Năm Canh Thìn 1820 đến năm Tân Tỵ 1821 thăng lên văn sai nội vệ tiện nghi tri bạ. Năm Mậu Tý 1828 vâng chiếu thực thụ Tri Bạ - Minh Mệnh thứ 19 năm Mậu Tuất (1838) tuổi 70 Vua cho nghỉ hưu. Vợ con: Năm Đinh Hợi bà họ Phạm mất, năm Canh Dần (1830) ông lấy bà họ Hồ sinh 2 nam 2 nữ trai đầu Nguyễn Hưng tự là Điền sinh 8 trai còn 1 - Nguyễn Điền sinh 2 trai mất sớm trai thứ Nguyễn Minh sinh 2 trai còn 1 là Nguyễn Sinh sinh Nguyễn Ba ở lại Chí Linh, Hải Dương.

Đệ Tam Chi - Lục Thế ông Nguyễn Tinh tự là Khang sinh 4 con trai. Trưởng là Trung Trực, thứ Chân Thực húy Thụy - Nguyễn Tuân - Nguyễn Tài năng f, Nguyễn Trung Trực sinh 2 nam 3 nữ, tông đồ chi ghi được một người là Nguyễn Đạt húy Đạo. 2- Chân Thực sinh sinh 2 trai mất sớm - 3 Nguyễn Tuân sinh 4 nam còn 1 và 5 gái.

Con ông Nguyễn Tuân là Nguyễn Giai sinh sinh 3 trai trưởng Nguyễn Biền sinh 3 nam, thứ Nguyễn Bình sinh 5 trai thứ 3 Nguyễn Đường f.

Bát Thế Ông Nguyễn Trị là con thứ 3 ông Nguyễn Quang, cháu ông Nguyễn Lương, chắt ông Nguyễn Phú, huyền tôn ông Chân Tính, cao tôn ông Phúc Sinh là cháu 6 đời ông Thanh Giác là cháu 7 đời ông Đạo Yên. Anh em cùng cha với ông Nguyễn Nghị - Nguyên - Hanh - Trinh. Chung long cố với các ông: Nguyễn Thúy - Điền-Sinh - Hùng - Giai. Ông Nguyễn Trị thông minh ham học gặp triều tự Đức việc binh cần hơn ông phải bỏ học theo việc binh đao năm thứ 36 Tự Đức (1883) kết thúc thất thủ ông trở về quê nhà cảnh nhà đói kém lấy buôn bán làm nghề sinh sống. Thụy hiệu: Tiền thủy sư trúng thủy vệ lục đội, lãnh binh kiêm ngũ trưởng, niên đăng ngải thọ Nguyễn Trọng Công tự Văn Thành thụy cương trực bà Tạ Thị Ngân sinh 3 trai 5 gái. Trưởng nam Nguyễn Cung lấy Thị Đặng sinh 5 trai 2 gái.