CỘI NGUỒN - THƯỢNG PHẢ NGUYỄN TRUNG TRỰC

CỘI NGUỒN - THƯỢNG PHẢ NGUYỄN TRUNG TRỰC

ĐỜI THỨ 1

Khai Quốc Công Thần Nguyễn Bặc(1) sinh năm 923 (đồng niên với Đinh Bộ Lĩnh), mất 979 thọ 56 tuổi ngài là khai quốc nhà Đinh, phù tá triều Đinh Tiên Hoàng (968 -979).'

Họ Nguyên Triêu Cơ khơi nguôn tư gôc Tê Tương Đinh Quôc Công Nguyên B ặc dòng họ ở làng Đại Hữu huyện Gia Viễn. Hội họ Nguyễn Việt Nam cũng đã chọn Định Quôc Công Nguyên B ặc làm Cao Tổ bởi vì cụ là người xuất sắc nhất có lịch sử rõ ràng. Tất nhiên trong giới sử học vẫn còn đôi điều tranh luận tôi nghĩ khoảng thời gian giữa các đời từ 20 đến 30 năm là phổ biến nhưng không hiếm ngoại lệ trên 70 tuổi vẫn sinh con nhất là các ông có gia thế lấy năm thê bảy thiếp.

Ngài Nguyễn Bặc con trai Nguyễn Thước(2), dòng Lạc tướng ở đất Phong Châu là một Nha Tướng của Tiết Độ Sứ Dương Đình Nghệ. Hiện nay còn di tích mộ phát tích của họ Nguyễn Bặc và họ Đinh Bộ Lĩnh gần núi Kỳ Lân, thuộc thôn Văn Hà, xã Gia Phương (Gia Viễn, Ninh Bình). Nguyễn Bặc đã cùng Đinh Bộ Lĩnh(3), “dẹp loạn 12 sứ quân được vua Đinh Tiên Hoàng phong làm “Thái Tể”, đứng đầu Nhà nước Đại Cồ Việt, ban tước Định Quốc Công. Việc Lê Hoàn(4) tự ý xưng làm Phó Vương có ý đồ thoán đoạt ngôi họ Đinh. Các trung thần Đinh Điền, Nguyễn Bặc, Phạm Hạp thấy rõ ý đồ đã khởi binh chống Lê Hoàn bảo vệ nhà Đinh và bị hại. Cuộc khởi binh thất bại các cụ bị Lê Hoàn cho hành quyết ngày 15 tháng 10 năm Kỷ Mão, tức ngày 7-11-979 ở Ngô Khê Thượng, ngoại thành Hoa Lư. Sau khi ngài Nguyễn Bặc bị hành quyết, gia thần của ngài được lượm xác, đưa xuống thuyền chở về an táng tại gò Con Cá Chép, xứ Đồng, vườn chùa Sách Bông quê nhà nay thuộc thôn Vĩnh Ninh làng Đại Hữu xã Gia Phương. Mộ và đền thờ của Định Quốc Công ở thôn Vĩnh Ninh được xây từ thời nhà Lý, ông được truy phong là Phúc thần.

Ngài Nguyễn Bặc sinh 2 con trai Nguyễn Đê và Nguyễn Đạt. Sau khi Nguyễn Bặc bị hai, sư Vạn Hạnh(5) đưa về nuôi sau làm quan triều Lê. Nguyễn Đê không nguôi mối thù của cha mình, có cơ hội nổi dậy cùng với Chi Hậu Đào Cam Mộc lật đổ Lê Ngọa Triều, phò Lý Công Uẩn(6) lên ngôi Hoàng đế. Con cháu ngài Nguyễn Bặc về sau đều là các bậc Tam công của các triều Lý - Trần - Lê - Nguyễn. Tính từ Cao tổ Nguyễn Bặc đến Thái Thủy tổ họ họ Nguyễn Triệu Cơ Quỳnh Đôi Nguyễn Thạc là 11 đời. Đúng như Di Huấn của họ Nguyễn Triệu Cơ do cụ Nguyễn Huy đời thứ 3 chép “từ tằng tổ (Nguyễn Bặc) đến cố (Nguyễn Bính đã bảy tám đời”.

ĐỜI THỨ 2

Hữu Thân Vệ triều Tiền Lê Nguyễn Đê con trai đầu Định Quốc Công Nguyễn Bặc là Khai Quốc công thần nhà Lý. Á Khanh Hầu Đô Kiểm Điểm Nguyễn Đê phù tá các triều Lý Thái tổ (1010 -1028) Lý Thái Tông (1028 - 1054) sinh 3 con trai. Con cả Thái Úy Nguyễn Quang Lợi phò tá triều Lý Thái Tông (1028 - 1054) có con là Tiến sỹ Đại Tư Đồ Nguyễn Quốc Dĩ(7) bị Đỗ Anh Vũ thanh trừng hãm hại. Con thứ 2 Tả Quốc Công Tham Tri Chính Sự Nguyễn Viễn phò tá các triều Lý Thái Tông (1028 - 1054) Lý Nhân tông (1072 - 1127) và Nguyễn Phúc Lịch. Các con cụ Nguyễn Đê hình thành 3 dòng họ. Con cháu Nguyễn Đê về sau rất phát đạt qua các triều đại, sinh ra những nhân vật lịch sử như Nguyễn Ứng Long, Nguyễn Trãi, Nguyễn Kim, Nguyễn Hoàng, đặc biệt là Nguyễn Hoàng con trai Nguyễn Kim là người khai sáng ra nhà Nguyễn sau này.

ĐỜI THỨ 3

Tả Quốc Công Tham Tri Chính Sự Nguyễn Viễn. Chưa biết cụ sinh năm nào chỉ biết cụ là con thứ 2 Nguyễn Đê em Nguyễn Quang Lợi, anh Nguyễn Phúc Lịch (1072 - 1127). Cụ Nguyễn Viễn làm quan triều Lý được giữ chức Tả Tướng Quốc Triều Lý Thánh Tông (1054 - 1072) Lý NhânTông (1072 - 1127), sau được phong Tả Quốc Công. Nguyễn Lợi làm quan dưới triều vua Lý Thái Tông cùng cháu Nguyễn Trường Nghĩa dưới triều Lý Nhân Tông (1072 - 1127). Nguyễn Viễn sinh Nguyễn Phụng.

Cuộc đời cụ Nguyễn Viễn trải qua những sự kiện quan trọng phò giá Lý Thánh Tông Nam chinh đánh Chăm Pa bắt được vua Chiêm là Chế Củ lấy được 3 châu: Bố Chánh, Mai Linh, Địa Lí. ). Nhà Tống đã sai người khiêu khích, gây khó dễ cho dân Giao Châu, cuối năm Ất Mão (1075) cụ Nguyễn Viễn cầm quân tham gia chiến dịch Ung Liêm do Thái Uý Lý Thường Kiệt(8) chỉ huy và lập công lớn. Tiếp đó Tháng 12 Bính Thìn (1076) quân nhà Tống sang địa hạt nước ta. Năm Đinh Tỵ (1077) Triều Lý sai Lý Thường Kiệt đem quân đi cự địch, chặn đánh quân nhà Tống ở sông Như Nguyệt. Cụ Nguyễn Viễn lại lập công lớn và chính trong chiến dịch này xuất hiện bài thơ Nam quốc sơn hà “Nam quốc sơn hà Nam quốc sơn hà Nam đế cư, Tiệt nhiên định phận tại thiên thư. Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm, Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư”.Bài thơ dân gian cho là của Lý Thừơng Kiệt như một bản tuyên ngôn độc lập hùng tráng của nước ta. Chức vụ cao nhất của cụ Nguyễn Viễn là Tả Tướng Quốc, sau giữ chức Tả Quốc Công Tham Tri Chính Sự. Phả cũ ghi năm Lý Nhân Tông (1072 - 1127) ông sinh Nguyễn Phụng.

ĐỜI THỨ 4

Tả Đô Đốc Nguyễn Phụng con trưởng Tả Quốc Công Tham Tri Chính Sự Nguyễn Viễn.

Ngài làm quan chức Tả Đô Đốc dưới triều vua Lý Anh Tông (1138 - 1175). Cụ sinh ra Nguyễn Nộn. Vào năm Ất Sửu (1145) ngài dâng lên vua con rùa mắt có 6 ngươi, ức có 4 chữ “Vương dĩ công pháp” (Vua theo việc công). Về sau vì liên quan đến việc chống Đỗ Anh Vũ mà ngài bị sát hại cùng Nguyễn Quốc(9), Nguyễn Dương vào năm Canh Ngọ 1150. Nguyễn Quốc (? - 1150) là cháu Nguyễn Quang Lợi gọi Nguyễn Viễn bằng ông chú - Thần phả đền Phù Đổng ghi Nguyên Phung là con Nguy ễn Quốc cháu Nguyễn Nghĩa Tường dòng cả Nguyễn Quang Lợi anh Nguyễn Viễn, một phả ở Nghệ Tĩnh ghi Nguyễn Phụng là Thủy Tổ đại chi họ Nguyễn ở Chi Ngại ở trấn Kinh Bắc nay là huyện Chí Linh Hải Dương. Tôi ghi lại tích này đẻ bà con tìm hiểu thêm.

Đời thứ 5

Cụ Nguyễn Nộn(10) con Nguyễn Phụng sinh năm 1155 mất 1229 quê xã Phù Dực (huyện Tiên Du Bắc Ninh) vốn là cư sĩ ở hương Phù Đổng, Gia Lâm, Hà Nội. Về gia cảnh phả chỉ ghi vợ là công chúa Ngoạn Thiềm con gái của Phụ Quốc Thái Úy Trần Thủ Độ và là em gái của vua Trần Thái Tông. Mục đích Trần Thủ Độ gả cho Nguyễn Nộn để cầu hòa và thăm dò nội tình của vùng Nguyễn Nộn chiếm cứ. Trong thời kỳ loạn lạc giữa triều Lý với họ Trần Nguyễn Nộn tự xưng là Hoài Đạo Vương chống lại Trần Lý và tướng Trần Thủ Độ(11) và phù tá các triều Lý Cao Tông (1176 - 1210) Lý Huệ Tông (1211-1224) Tháng

2   năm 1229, Nguyễn Nộn tự xưng là Đại Thắng Vương, tuy nhiên, ông cũng tự lượng sức biết thế mình không thể cùng đối lập với nhà Trần, định đến tháng 10 sẽ vào chầu, song còn do dự chưa quyết. Cuối năm đó ông ốm nặng không bao lâu thì qua đời. Trước khi mất ông khuyên các con về với nhà Trần. Sau khi Nguyễn Nộn mất các con theo lời khuyên của cha đã về với nhà Trần. Nguyễn Nộn có 6 con trai Đô Kiểm Điềm Nguyễn Thế Tứ, Thái Phó Nguyễn Long, Chỉ Huy Sứ Nguyễn Hiến,

Đô Chỉ Huy Sứ Nguyễn Thức, Viên Ngoại Lang Nguyễn Diễn và Nguyễn Văn. Nguyễn Văn lánh ẩn ở Châu Ô Chiêm Thành - Diên Sanh, Hải Thọ, Hải Lăng, Quảng Trị. Các dòng Nguyễn Thức (trí sỹ ở huyện Phi Gia lộ Hồng ), Nguyễn Diễn (ở Thăng Long) bị thất truyền. Nguyễn Long không có người nối dõi. Hậu duệ của Hoài Đạo Vương Nguyễn Nộn nay còn có 3 dòng Nguyễn Thế Tứ, Chỉ Huy Sứ Cấm Vệ Nguyễn Hiến và Nguyễn Văn.

ĐỜI THỨ 6

Đô Kiểm Điểm Nguyễn Thế Tứ sinh thời Lý Anh Tông (1138 - 1175) khoảng năm Kỷ Hợi 1179 phù tá triều Lý Chiêu Hoàng (1225) Năm Kỷ Sưu - 1229 ở độ tuổi khoảng 40 - 50 cụ về với nhà Trần làm tướng dưới quyền Hưng Đạo Vương (1228 - 1300) triều Trần Thái Tông (1225 -1258)...Không rõ cụ mất năm nào Năm Quý Dậu (1209) cụ Nguyễn Nộn khoảng 54 tuổi dựng cờ đại nghĩa ở Bắc Giang chống lại thế lực tiếm quyền nhà Lý rồi tự phong Đại Thắng Vương dưới triều Lý Huệ Tôn (1211 - 1224) Cuộc đời cụ Nguyễn Thế Tứ trải qua thời biến loạn và kháng chiến chống giặc Nguyên xâm lược. Nguyễn Thế Tứ xuất hiện trong thời gian này lúc đó khoảng 30 tuổi đã có nhiều con - thời đó nữ thập tam nam thập lục đã lập gia đình - Năm 1228 Nguyễn Nộn giết được Đoàn

Thượng nên được Thái Tông Hoàng Đế nhà Trần phong chức Hoài Đạo Vương. Năm Kỷ Dậu 1229 Hoài Đạo Vương lâm bệnh mất, cụ Nguyễn Thế Tứ theo lời khuyên của cha đã về với nhà Trần làm tướng Đô Hiệu Điểm dưới quyền Bình Bắc Đại Nguyên Soái Trần Hưng Đạo (1228 - 1300) thời kỳ đang đánh giặc Chiêm Thành. Quân Nguyên tiến hành 3 cuộc xâm lược nước ta 1258, 1285, 1288 đều thất bại. Trong 3 lần kháng chiến chống quân Nguyên cụ Nguyễn Thế Tứ ở độ tuổi 70 đến 100 liệu cụ còn sống để đánh giặc Nguyên lần thứ 2 và lần thứ 3 hay không ? Theo phả cổ ghi Nguyễn Tứ sinh 9 con trai lưu truyền lại 2 người Nguyễn Nạp Hòa và Nguyễn Cảnh. Theo Di Huấn của Họ Nguyễn Triệu Cơ làng Quỳnh Đôi năm Quý Mão - 1303 thì Nguyễn Bính sinh Nguyễn Cảnh em Nguyễn Nạp Hòa. Giáo Sư Nguyễn Thế Nguyên có nhận xét rằng Nguyễn Nạp Hòa thuộc thế hệ chút chít của Nguyễn Thế Tứ. Và nhận định sau khi Trần Thủ Độ ép Lý Chiêu Hoàng nhường ngôi cho nhà Trần thì có một bộ phận con Nguyễn Thế Tứ đi ở ẩn trong đó có Nguyễn Khoan.

ĐỜI THỨ 7

Cụ Nguyễn Khoan(12) sinh năm 1192 vào thời Lý Cao Tông 1176 - 1210. Phả cổ ghi Nguyễn Khoan hy sinh vào năm 1257 thọ 65 tuổi. Trong thời kỳ 1209 Nguyễn Nộn khởi nghĩa làm chủ cả vùng Bắc Giang có một bộ phận con Nguyễn Thế Tứ trong đó có Nguyễn Khoan vẫn đi ở ẩn. Dựa vào thế lực của Hoài Đạo Vương năm Giáp Tuất 1214 cụ Nguyễn Khoan nhậm chức Khâm Sai Đô Úy vùng biên Lạng Sơn. Theo cuốn Khoái Hầu tục biên thì cụ Nguyễn Khoan là một vị quan thanh liêm trung nghĩa, trí dũng song toàn, những năm dưới quyền của ông dân trong các tỉnh thuộc vùng biên giới Việt Hoa an cư lạc nghiệp. Khi Trần Thủ Độ ép buộc Lý Chiêu Hoàng nhường ngôi cho Trần Cảnh khiến cụ Nguyễn Khoan phải ôm uất hận treo ấn từ quan về ẩn dật tại quê nhà ở Bình Lệ Nguyên thuộc vùng Vĩnh Yên - Tam Đảo ngày nay. Cụ cùng vợ và ba con là Nguyễn Khoái, Nguyễn Khả, Nguyễn Truyền chuyên việc nông trang, săn bắn cung kiếm vui thú thanh nhàn và theo dõi hành động vua quan Nhà Trần. Trước sự xâm lăng của quân Mông Cổ cha con vua Trần Thái Tông và Thái tử Trần Hoảng tự dấn thân đối mặt với kẻ thù ở trận tiền khiến cụ vô cùng thán phục. Tuy không phải là tướng nhà Trần, cụ cùng 3 con Nguyễn Khoái, Nguyễn Khả Lập, Nguyễn Thế Truyền cùng gia nhân phối hợp với quân triều đình tập kích địch. Cụ bị tử thương vào năm Bính Thìn 1257 thọ 65 tuổi đươc vua Trần Nhân Tông truy phong Trung Lương Tướng Đẵng Thần. Cụ Nguyễn Khoan sinh ra Liệt hầu Nguyễn Khoái, tướng Nguyễn Khả Lập và Phương Liệt Bá Trung Đẳng Thần.

ĐỜI THỨ 8

Cụ Nguyễn Khoái con Trung Lương Tướng Đẵng Thần Nguyễn Khoan. Lịch sử không ghi cụ sinh mất năm nào. Cụ Nguyễn Khoan sinh 1192 nếu cụ lấy vợ sớm thì Nguyễn Khoái sinh vào khoảng năm 1218 đến năm 1220, chí ít phải như vậy vì đến năm 1257 Nguyễn Khoan cùng 3 con Nguyễn Khoái, Nguyễn Khả, Nguyễn Truyền cùng cha đánh giặc Nguyên Mông và Nguyễn Khoan hy sinh. Sau khi cha mất Nguyễn Khoái đưa mẹ cùng hai em về quê ngoại ở Đông Triều (Tỉnh Hải Hưng- Hải Dương & Hưng Yên) văn ôn võ luyện thi thố tài năng với đời. Trần Khánh Dư bị triều đình đày xuống Đông Triều đốn củi đốt than kiếm ăn gặp Nguyễn Khoái cùng kết bạn. Nguyễn Khả cùng Phạm Ngũ Lão hoạt động ở hai bên lưu vực vùng sông Hồng. Đến mùa Hạ tháng 4 năm Ất Dậu - 1285 tướng Nguyễn Khoái đi cùng Hoài Văn Hầu Trần Quốc Toản đem Tiệp Binh đón đánh giặc ở bến Tây Kết diệt được nhiều gặc. Năm Mậu Tý 1288 dưới sự chỉ huy của Hưng Đạo Vương tướng Nguyễn Khoái chỉ huy quân Thánh Dực dũng nghĩa đánh nhau bắt sống được Bình Chương Áo Lỗ Xích tướng của Thoát Hoan trên sông Bạch Đằng. Sau khi đánh thắng quân Nguyên, Nguyễn Khoái được vua ban thưởng làm Liệt Hầu và phong cho một quận than mộc, gọi là “Khoái Lộ” nay là huyện Khoái Châu, Hưng Yên (xem các trang 55,65 Đại Việt sử ký toàn thư, tập II Nhà xuất bản khoa học xã hội năm 1998).

Tương truyền, vào năm Ất Dậu 1285 quân Nguyên Mông sang xâm lược nước ta vợ chồng tướng quân Nguyễn Khoái trấn giữ mặt Nam Thanh Hóa chặn đánh giặc Toa Đô từ Chiêm Thành ra. Trong một trận kịch chiến, vợ Nguyễn Khoái đã anh dũng hy sinh. Tưởng nhớ công ơn người phụ nữ anh hùng nhân dân lập đền thờ Bà bên bờ Sông Mã đoạn chảy qua huyện Hoằng Hoá. Đền nay vẫn còn, tôi đã có dịp đến thắp hương. Theo phả cổ con Nguyễn Khoái là Nguyễn Bính.

Liệt Hầu Nguyễn Khoái có công lập ra cuốn “Khoái Hầu Tục biên” kể về gốc tích dòng họ Nguyễn Khoan. Cuốn gia phả này nay còn được con cháu lưu giữ ở Di Linh tỉnh Lâm Đồng.

ĐỜI THỨ 9

Cụ Nguyễn Bính(13) sinh khoảng năm 1240 con cụ Nguyễn Khoái. Theo Di Huấn của họ Nguyễn Triệu Cơ làng Quỳnh Đôi thì cụ xuất thân trong gia đình võ tướng nỗi tiếng từ tằng tổ đến cụ tổ đã bảy tám đời từng làm tướng giúp nhà Trần đánh quân Nguyên Mông. Cụ đậu tiến sỹ năm Ất Hợi 1275 đi sứ Nhà Nguyên năm 1275, làm quan chức Nội Thư Chính Chương phù tá các triều Trần Thánh Tông (1258 - 1278) đến Trần Minh Tông (1314 - 1329) năm Bính Thìn (1316) hiệu Đại Khánh năm thứ 3 cụ phò tá tướng Trần Khánh Dư đi thị sát quân ở Diễn Châu tỉnh Ngệ An. Vua Trần Minh Tông từng nói về cụ Nguyễn Bính “ Sai nhân Huệ Đại Vương Khánh Dư đi Diễn Châu duyệt sổ lính sổ dân lấy Nội Thư Chính Chưởng Phụng Ngự Nguyễn Bính làm phó. Xong việc về triều Bính đem tiền bỗng dâng nộp. Vua sai Hữu Ty nhận lấy. Có người hỏi Bính nộp tiền bổng mà bệ hạ nhận, thần chưa hiểu cớ làm sao? Vua đáp Bính nộp tiền bổng là thành thực, nếu trẫm không nhận, thì hàm Bính vào tội dối trá, cho nên nhận lấy để tỏ rõ Bính không nói dối. Bính là cận thần của Thượng Hoàng tính người trong sạch thẳng thắn, năm trước đứng đầu hành nhân sang sứ nước Nguyên, trở về không mua thứ gì, Thượng Hoàng khen ngợi đặc cách ban thưởng tước 2 tư. Theo lệ cũ những người đi sứ Nguyên về mỗi người được ban tước 2 tư, người đứng đầu hành nhân trở xuống mỗi người 1 tư. Bính là người trong sạch thẳng thắn nên được 2 tư” Trích từ các trang 101, 102 tập II Đại Việt Sử Ký Toàn Thư Nhà xuất bản khoa học xã hội năm 1998.

Cụ sinh được 2 người con trai Nguyễn Nạp Hòa và Nguyễn Cảnh.

ĐỜI THỨ THỨ 10

1.       Dòng trưởng Nguyễn Nạp Hòa(14) Theo Di Huấn của họ Nguyễn Triệu Cơ Quỳnh Đôi

thì cụ là con trưởng Nguyễn Bính đậu cử nhân giữ chức Ngự Tiền Thần Võ Quân triều Trần

Hiển Tông và tướng quân các triều Dụ Tông (1341 - 1369 Nghệ Tông (1370 - 131372 và Duệ tông (1372 -1377). Ngài hộ giá vua Trần Duệ Tông chinh chiến ở phương Nam bị tử tận cùng vua và 2 tướng Đỗ Lễ, Phạm huyền Lệnh vào tháng giêng năm Đinh Tỵ. Cụ có 5 con trai phả chỉ ghi 2 con là Nguyễn Công Luật( ) và Nguyễn Đa Nguyên (16). Nguyễn Nạp Hòa có các cháu là Du Cần vương Nguyễn Minh Du sinh ra Nguyễn Ứng Long tức Phi Khanh là cha Nguyễn Trãi

(1)                kế đến đời sau sinh ra An Thành hầu Nguyễn Kim mở đầu cho dòng họ đế vương Nguyễn Phúc Ánh, tức vua Gia Long lập nên triều Nguyễn.

2.       Dòng thứ Thái Bảo Cảnh Quận Công Nguyễn Cảnh. Ngài xuất thân cử nhân võ làm tướng các triều Trần làm Trấn Thủ xứ Kinh Bắc sau thăng chức Thái Phó, tước Vinh Quận công Tham Tri Chính Sự. Cụ Nguyễn Cảnh sinh 5 con trai Nguyễn Thành, Nguyễn Thực, Nguyễn Thạc, Nguyễn Khánh và con út chưa biết tên.

 

ĐỜI THỨ 11

1.    Cụ Nguyễn Thành sinh năm Kỷ Sửu -1349 con đầu Thái Bảo Cảnh Quận Công Nguyễn Cảnh đậu cử nhân võ có công lớn đánh chặn giặc Cham Pa được phong chức Thái Úy. Cụ phò vua giúp triều chấn chỉnh kỹ cương. Cụ đã viết cáo trạng vạch tội Quý Ly. Hồ Quý Ly căm ghét nhưng chẳng làm gì được vì ngài có uy tín lớn. Ngài cùng với các anh con bác ruột Nguyễn Luật, Nguyễn Sách, Nguyễn Hồ, Nguyễn Minh Du lập mưu cứu vua Nghiễn nhưng không thành bị Hồ Quý Ly truy bức. Cụ Nguyễn Thành qua qua đời vào năm Kỷ Mão 1399 năm thứ 2 hiệu Thiếu Đế Trần Án thọ 51 tuổi không có con lấy cháu Cương Quốc Công Nguyễn Lang kế tự có con là Thái phó Nguyễn Súy hoặc Soái.

2.    Cụ Nguyễn Thực sinh năm 1351 con thứ 2 Thái Bảo Cảnh Quận Công Nguyễn Cảnh dang bị thất truyền.

3.    An hòa hầu Nguyễn Thạc sinh năm 1354 con thứ 3 Thái Bảo Cảnh Quận Công Nguyễn Cảnh là Thủy tổ họ Nguyễn Triệu Cơ Quỳnh Đôi.

4.    Cụ Nguyễn Khánh hoặc Giang em trai Nguyễn Thạc ở xứ nào hiện chưa biết.

5.    Con út cụ Nguyễn Cảnh theo mẹ tản cư nghi là về hướng Gia Miêu.

1.2       Chú thích.

(1) Nguyễn Bặc

Ngài là một trong những nhân vật lịch sử xuất sắc của đất nước ta cuối thế kỷ thứ mười, là vị anh hùng dân tộc có công lớn trong sự nghiệp dẹp loạn 12 sứ quân, thống nhất đất nước, dựng nền chính thống Đại Cồ Việt. Có khá nhiều thơ văn, câu đối ca ngợi công đức của cụ. Từ đường họ Nguyễn tộc qua các triều đại Nguyễn ở thôn Vĩnh Ninh, xã Gia Phương (huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình) là quê hương của cụ, có bức đại tự rất đáng tự hào “Khởi nguyên đường” (khởi đầu dòng họ Nguyễn). Đền thờ cụ ở Ngô Hạ (Ninh Hòa, Hoa Lư, Ninh Bình) cũng có bức đại tự “Trung quán nhật nguyệt” (trong sáng như mặt trời, mặt trăng). Đền thờ họ Nguyễn ở Gia Miêu (Hà Trung, Thanh Hóa) có đôi câu đối rất hay, nói lên sự nối tiếp vẻ vang của dòng họ Nguyễn: “Duệ xuất Gia Miêu vương tích hiển Khánh lưu Đại Hữu tướng môn quang”. Được dịch là: Đất Gia Miêu con cháu kế vương bởi hào khí các tướng Đại Hữu chỉ đường. (Cửa tướng phúc dày làng Đại Hữu Dòng Vương nối ở đất Gia Miêu)

Về đền thờ, cụ được thờ ở nhiều nơi:

1.    Chính thức là ngôi từ đường Nguyễn Tộc tại thônVĩnh Ninh (Gia Viễn, Ninh Bình).

2.    Tại đền thờ vua Đinh Tiên Hoàng ở xã TrườngYên (Hoa Lư, Ninh Bình) dựng từ thế kỷ XI. Đền có 3 tòa: tòa ngoài là bái đường, tòa giữa gọi là Thiên Hương thờ tứ trụ triều đình của nhà Đinh: Đinh Điền, Nguyễn Bặc, Trịnh Tú, Lưu Cơ. Toà trong cùng là chính cung thờ Đinh Tiên Hoàng, Đinh Liễn, Đinh Toàn và Đinh Hạng Lang.

 

1.      Tại thôn Vân Hà làng Đại Hữu (Gia Viễn, Ninh Bình) có ngôi đền thờ 3 vị anh hùng đào viên kết nghĩa là Đinh Bộ Lĩnh, Nguyễn Bặc và Đinh Điền.

2.      Tại làng Cổ Điển thuộc xã Tứ Hiệp, huyện Thanh Trì, Hà Nội, có đình Ba Dân là đình chung của 3 làng: Cương Ngô, Cổ Diển, Đồng Trì thờ chung các ông Nguyễn Bặc, Nguyễn Bồ và Nguyễn Phục.

3.      Tại huyện Hoa Lư (Ninh Bình) có bốn thôn đều có đình thờ Nguyễn Bặc

làm thành hoàng, trong đó thôn Ngô Hạ thờ tượng sau   họ Nguyễn Đình rước

tượng ngài về thờ ở từ đường của chi họ (cùng thôn).

4.      Đền thờ Định Quốc Công Nguyễn Bặc tại làng Phú Cốc, xã Thanh Lợi, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định.

5.      Tại kinh thành Phú Xuân (Huế) vua Minh Mạng cho xây miếu Lịch Đại

Đế Vương để thờ các vị vua và các danh tướng qua các triều đại trong đó có Nguyễn Bặc. Năm Đinh Dậu (1917) ông được vua Khải                               Định sắc phong là Hộ

Quốc Tướng Công Trác Võ Thượng Đẳng Phúc Thần.

6.      Tại trung tâm thành phố Ninh Bình xây dựng khu Quảng trường tượng đài Đinh Tiên Hoàng đế với 4 góc có tượng 4 vị quan đại thần Đinh Điền, Nguyễn Bặc, Trịnh Tú, Lưu Cơ cao 5m, có lính canh và ngựa bằng đá.

(1)  Nguyễn Thước trong thời Ngô vương

Trong cả thời kỳ dài Bắc thuộc là thời kỳ đấu tranh giàng độc lập.Từ cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng (năm 30 - 43), đến cuộc khởi nghĩa của bà Triệu Trinh Nương (248). Năm 542 Lý Bí (con Lý Toàn, trưởng bộ lạc đã lãnh đạo dân Giao Châu nỗi lên đánh đuổi Tiêu Tư Thứ sử Giao Châu của nhà Lương chiếm giữ thành Long Biên xưng là Nam Việt đặt quốc hiệu là Vạn Xuân. Sau khí Lý Nam đế mất, Triệu Quang Phục đã tiếm ngôi và lập nên nhà Triệu (549 - 571). Nhà Triệu bị Lý Phật Tử phế truất lập nên triều hậu Lý Nam Đế về sau đầu hàng giặc, nước ta lai bị nhà Tùy, Nhà Đường cai trị. Cho đến thời kỳ Nam Bắc Triều phân tranh con cháu họ Nguyễn mới tái xuất hiện trong quá trình khôi phục lại tổ quốc.Theo gia phả ghi, Nguyễn Thước là cha Định Quốc công Nguyễn Bặc và tướng Nguyễn Bồ phù tá Đinh Bộ Lĩnh. Nguyễn Thước quê ở xóm Văn Bồng, thôn Đại Hữu, châu Đại Hoàng nay là làng Đại Hữu, xã Gia Phương, huyện Gia Viễn tỉnh Ninh Bình. Ông là bạn đồng liêu với Đinh Công Trứ giữ chức Thứ Sử Hoan Châu. Nguyễn Thước và Ngô Quyền đều là nha tướng của Tiết Độ Sứ Dương Đình Nghệ trong thời kỳ Nam Bắc phân tranh. Năm 931 Dương Đình Nghệ nuôi 3 nghìn con nuôi mưu đồ khôi phục lại chế độ họ Khúc, vua Hán sai Thừa Chỉ Trần Bảo đem quân sang đánh. Dương Đình Nghệ và các nha tướng đánh chết Trần Bảo và tự xưng là Tiết Độ Sứ trông coi việc châu. Về sau Dương Đình Nghệ bị nha tướng Kiều Công Tiễn phản bội giết chết để thay chức. Năm 938 Ngô Quyền cùng với các nha tướng khác cất quân từ Ái Châu ra đánh và giết Kiều Công Tiễn. Lợi dụng lời xin cầu viện Nhà Hán sai Lưu Hoằng Thao đem chiến thuyền vào sông Bạch Đằng để đánh Ngô Quyền. Ngô Quyền cho quân đóng cọc nhọn ngầm dưới đáy sông khi nước triều rút cọc nhô lên mặt nước đâm thủng thuyền giặc và bắt được tướng Lưu Hằng Thao đem giết. Sau chiến thắng mùa xuân 939 Ngô Quyền bắt đầu xưng vương đóng đô ở Cổ Loa mở đầu Kỷ nhà Ngô. Tuy chưa xưng đế và đổi niên hiệu nhưng chính Ngô Hầu đã lập ra nước Việt phong Dương Thị làm Hoàng hậu, đặt trăm quan, chế định triều nghi phẩm phục với quy mô một đế vương. Giặc phương Bắc không dám xâm lược nữa. Ngài Nguyễn Thước vẫn được giữ chức quan cho đến khi qua đời. Ngài mất năm nào thì không rõ nhưng hiện nay gần núi Kỳ Lân, thuộc thôn Văn Hà, xã Gia Phương, huyện Gia Viễn Ninh Bình vấn còn di tích mộ của họ Nguyễn Bặc. Ngài Nguyễn Thước có 2 con trai là Nguyễn Bặc, Nguyễn Bồ. Hai cụ đều là tướng lĩnh của Đinh Bộ Lĩnh.

(2)   Đinh Bộ Lĩnh

Ngài tam đồng với Nguyễn Bặc, cùng sinh năm giáp Thân, cùng quê ở Sách Bồng (xóm Văn Bồng, thôn Đại Hữu, châu Đại Hoàng) nay là làng Đại Hữu, xã Gia Phương, huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình. Phụ thân hai ông đều là bạn đồng liêu thân thiết. Đinh Công Trứ giữ chức Thứ Sử Hoan Châu, còn Nguyễn Thước cũng là bộ tướng của Dương Đình Nghệ và Ngô Quyền. Thời thơ ấu, hai ông đã từng “cờ lau tập trận”. Có lần Nguyễn Bặc bắt trâu của chú để “khao quân”khi chú vác gươm đuổi chạy. Khi Nguyễn Bặc lội qua sông, chú không đuổi được đành cắm gươm bên bờ mà trở về. Hiện nay ở đó có một hòn núi, dân đặt tên cho là “Núi Cắm Gươm” ở xã Trường Yên, huyện Hoa Lư. Năm 944 Ngô Vương Quyền băng hà năm sau em vợ là Dương Tam Kha (con Dương Đình Nghệ) cướp ngôi, tự xưng là Dương Bình Vương. Thổ hào các nơi không phục, đua nhau nổi lên chiếm cứ quận ấp xưng sứ quân, Ngô Vương Xí chiếm Bình Kiều, Kiều Công Hãn chiếm phong Châu, Nguyễn Khoan chiếm Tam Dái, Ngô Nhật Khánh chiếm Đường Lâm, Đỗ Cảnh Thạc chiếm Đỗ Đông Giang, Trần Minh Công (Trần Lâm) chiếm Bồ Hải Khẩu gây ra loạn 12 sứ quân.

Đinh Bộ Lĩnh được sự phò tá của Nguyễn Bặc, Đinh Điền, Trịnh Tú, Lưu Cơ phất cờ khởi nghĩa ở động Hoa Lư (Gia Viễn, Ninh Bình) để dẹp loạn 12 sứ quân, thống nhất đất nước.

Nguyễn Bặc đã có mặt ngay từ buổi đầu dưới ngọn cờ đại nghĩa. Trong những năm tháng đánh dẹp các sứ quân, Nguyễn Bặc là vị tướng dũng lược tiên phong luôn luôn bên cạnh Vạn Thắng Vương. Theo thần phả đình Ba Dân ở Thanh Trì (Hà Nội), ngày 6-6-967 (Đinh Mão), Đinh Bộ Lĩnh điều một đạo quân do tướng Nguyễn Bồ chỉ huy tiến đánh sứ quân Nguyễn Siêu ở Tây Phù Liệt, một sứ quân mạnh nhất lúc bấy giờ, nhưng nhiều ngày vẫn không hạ được thành.

Tướng Nguyễn Bồ (là em ruột Nguyễn Bặc) và ba tướng khác, cùng rất nhiều binh lính đều tử trận. Đinh Bộ Lĩnh cả giận, thống lĩnh toàn quân, cử Nguyễn Bặc làm Đại tướng tiên phong, đánh một trận phá tan sứ quân Nguyễn Siêu vào ngày 15-7-967 (Đinh Mão). Đến nay, bốn làng Tây Phù Liệt còn đền thờ các tướng Nguyễn Bặc và Nguyễn Bồ làm Thành hoàng. Chiến thắng Tây Phù Liệt, phá tan sứ quân Nguyễn Siêu, có ý nghĩa quyết định trong việc kết thúc thắng lợi công cuộc dẹp loạn 12 sứ quân. Tháng 11 năm Kỉ Dậu (969), Đinh Bộ Lĩnh đã dẹp được loạn 12 sứ quân, thống nhất đất nước. Đinh Bộ Lĩnh được lên làm Vạn thắng Vương, Nguyễn Bặc được phong làm Thập Đạo Tướng Quân đầu tiên. Nguyễn Bặc trưởng thành nhanh chóng, trở thành vị tướng tài ba bậc nhất của Vạn Thắng Vương. Sau khi lời khuyên của Nguyễn Bặc, Đinh Bộ Lĩnh tự xưng Hoàng đế.

(3)   Lê Hoàn.

Lê Hoàn sinh năm 941 ở Xuân Lập Thọ Xuân Thanh Hóa trong một gia đình nghèo khó. Nên phải làm con nuôi cho một vị quan nhỏ người cùng họ. Lớn lên đi theo Nam Việt Vương Đin Liễn dẹp 12 sứ quân. Làm lính nhưng trí dũng khác thườn được cha con Đinh Bộ Lĩnh yêu mến giaop trông coi 2000 binh sỹ sau được phong là Thập đạo tướng công. Tháng 10 năm Kỷ Mão cha con Đinh Tiên Hoàng bị giết hại Dinh Toàn 6 tuổ lên ngôi, Lê Hoàn làm nhiếp chính. Các đại thần như Nguyễn Bặc, Đinh Điền, Phạm Hạp biết rõ âm mưu bọn Lê Hoàn chiếm đoạt ngôi vua đã nỗi loạn bị Lê Hoàn dẹp tan và giết chết. Sau khi Đinh Toàn bị ám hại, tháng 7 năm 980, bọn Phạm Cự Lượng tôn Lê Hoàn lên ngôi vua Lê Đại Hành (980 - 1005). Sau khi lên ngôi làm vua, Đại Hành sai sứ đưa thư sang nhà Tống nói dối là thư của Đinh Tuệ (Phế Đế) xin phong, có ý để nhà Tống hoãn binh lại. Nhà Tống không nghe, sai sứ sang trách Đại Hành sao được xưng đế và lại nói rằng: “nhà Đinh truyền tộc đã 3 đời, vậy cho Đinh Tuệ làm thống soái, Lê Hoàn làm phó, nhược bằng Đinh Tuệ còn trẻ tuổi không làm được, thì Lê Hoàn phải bắt mẹ con Đinh Tuệ sang chầu Bắc Triều, rồi sẽ phong quan tước cho Lê Hoàn”. Đại Hành biết mưu nhà Tống bèn không chịu và sửa sang việc phòng bị.

Tháng 3 năm Tân Tỵ (981), quân Tống chia hai đường thủy bộ sang đánh nước ta. Nhà Tống sai tướng Hầu Nhân Bảo và Tôn Toàn Hưng tiến quân sang mặt Lạng Sơn, Lưu Trừng đem thủy quân sang mặt Bạch Đằng Giang. Vua Đại Hành đem binh thuyền ra chống giặc ở Bạch Đằng Giang. Quân nhà Tống thế mạnh lắm, quan quân phải lùi. Bấy giờ lục quân của Hầu Nhân Bảo tiến đến Chi Lăng, vua Đại Hành sai người trá hàng dụ đến chổ hiểm bắt chém Hầu Nhân Bảo, đuổi đánh quân nhà Tống, chém giết được quá nửa và bắt được hai bộ tướng. Bọn Lưu Trừng thấy Lục quân đã tan vỡ vội vàng đem thu quân rút về. Lê Đại Hành đã đánh thắng được quân nhà Tống, trả lại 2 viên tướng đã bắt được và xin theo lệ triều cống. Năm 993 nhà Tống sắc phong cho vua Đại Hành là Nam Bình Vương. Năm 982 sau khi chiến thắng quân Tống, Lê Hoàn lập Dương Vân Nga làm Đại Thắng Minh hoàng hậu. Sau khi phá được quân nhà Tống, Lê Đại Hành sang đánh Chiêm Thành vì nước này đã bắt giữ 2 sứ thần của Lê Đại Hành và đã chiếm được kinh thành nước Chiêm và bắt họ triều cống. Năm Tân Mão 901 trong dịp cùng vua Lê đi dẹp loạn ở Cử Long Thanh Hóa, Vệ vương 

Đinh Toàn bị trúng tên hy sinh trên chiến thuyền lúc mới 17 tuổi. Một cái chết đầy nghi vấn. (Theo Khâm định Việt sử Thông giám Cương mục).

Như vậy kể từ khi vua Đinh bị ầu độc chết đến lúc quân Tống gây hấn là một năm rưỡi, và trong thư dụ hàng cũng kể rằng, cái chết của Giao Chỉ Quận Vương Đinh Tiên Hoàng và Nam Việt Vương Đinh Liễn là một trong những lý do khiến quân Tống khởi phạt chiến tranh. Dù sao đó chỉ là ngụy tạo lý do biện minh cho âm mưu xâm lược nước ta. Việc Lê Hoàn thành công trong cuộc kháng chiến chống Tống đó khiến cho nhân dân tha thứ cho ông. Thái độ của sử gia xưa và nay:“Chu Công là người vương thất rất thân, giúp vua nhỏ tuổi còn không tránh khỏi những lời dèm pha phao truyền. Lê Hoàn là đại thần khác họ, nắm giữ binh quyền, làm công việc như Chu Công, thường tình còn ngờ vực, huống là Nguyễn Bặc ở chức phụ chính đại thần và Đinh Điền là đại thần cùng họ hay sao? Bọn họ khởi binh không phải làm loạn, mà là một lòng phù tá nhà Đinh, vì giết Hoàn không được mà phải chết, ấy là chết đúng chỗ. Nay xem lời Đại Hành kể tội Nguyễn Bặc tựa như vạch tội mình. Khi Bặc chết ắt phải có nói lấy một lời để bày tỏ chính nghĩa nhưng không thấy sử chép, thế là bỏ sót...“Đạo vợ chồng là đầu của nhân luân, dây mối của vương hóa. Hạ kinh của Kinh Dịch nêu quẻ Hàm và quẻ Hằng lên đầu, là để tỏ cái ý lấy đàn bà tất phải chính đáng. Đại Hành thông dâm với vợ vua, đến chỗ nghiễm nhiên lập làm hoàng hậu, mất cả lòng biết hổ thẹn. Đem cái thói ấy truyền cho đời sau, con mình bắt chước mà dâm dật đến nỗi mất nước, há chẳng phải là mở đầu mối họa đó sao?”.

(Đại Việt Sử ký Toàn thư - Ngô Sĩ Liên) “...Dân chúng đã lập đền thờ các vua Đinh, Lê trên nền tảng cung điện Hoa Lư mà không quên bà Dương Hậu, không những thế mà còn tự hợp hai tượng vua ngồi chung một tòa với Dương Hậu ở giữa. Nhưng đến đầu đời Lê Thái Tổ cho là trái đạo và bỏ đi. Tuy vậy các nho gia phê bình cũng không ai trách bà mà chỉ trách Lê Hoàn”(Hoàng Xuân Hãn tuyển tập). Sau được thờ chung với vua Đinh, nhưng sau lại được chuyển sang thờ với vua Lê.

(1)   Sư Vạn Hanh

Theo Thiền Uyển Tập và theo sách Phật học phổ thông xuất bản ở Sài Gòn thì Vạn Hạnh là người họ Nguyễn. Ông là con Nguyễn Minh Không, quê ở Điền Giang, châu Đại Hoàng cho nên ở Gia Viễn có câu: “Đại Hữu sinh Vương” (Vua Đinh), “Điền Dương sinh thánh” (Nguyễn Minh Không). Cả 2 anh em Nguyễn Vạn Hạnh và Nguyễn Khánh Vân đều thọ giới sư Đinh Huệ ở chùa Cổ Pháp (Đình Bảng) tức chùa Tiêu và chùa Rặn. Do không có cha nên Lý Công Uẩn được thiền sư Nguyễn Khánh Vân nhận làm con nuôi khi lên 7 tuổi thiền sư Nguyễn Khánh Vân gửi sang chùa Lục Tổ cho anh là thiền sư Vạn Hạnh rèn dạy.

Vì Minh Không và Nguyễn Bặc là anh em bà con cùng họ nên khi Nguyễn Bặc bị hại, Nguyễn Vạn Hạnh đưa 2 con ông là Nguyễn Đê và Nguyễn Đạt lên Bắc Ninh lánh nạn. Nhà sư Vạn Hạnh, có uy tín lớn đối với Triều Lê nên Nguyễn

Đê được nhập quân nhà Lê. Nguyễn Đê không nguôi mối thù của cha mình, có cơ hội nổi dậy cùng với Chi Hậu Đào Cam Mộc lật đổ Lê Ngọa Triều, phò Lý Công Uẩn lên ngôi Hoàng đế. Sau Lý Công Uẩn lên ngôi tức vua Lý Thái Tổ (1010 - 1028) sắc phong cho Nguyễn Đê làm Quốc Công, Đào Cam Mộc làm Nghĩa Tín Hầu. Nguyễn Đê là khai quốc công thần nhà Lý được vua phong là Á Khanh Hầu. Tương truyền nhà sư Vạn Hạnh, có uy tín lớn có công làm sấm ký, khuông phò nên được Lý Thái Tổ phong Quốc sư.

(2)   Lý Công Uẩn

Lý Công Uẩn (974 - 1028) người làng Cổ Pháp, thuộc huyện Đông Ngạn, phủ Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh (ở làng Đình Bảng có lăng và nhà thờ nhà Lý và chùa Rặn). Mẹ Lý Thái Tổ là bà Phạm Thị Tiên con gái ông Phạm Long và Bà Đặng Thị Quang, quê ở làng Hoa Lâm, huyện Đông Ngàn (nay là Mai Lâm, Đông Anh). Bà sinh con ở gần cổng Tam Quan chùa Tiêu - chùa Rặn - dưới gốc cây Mận (Mận là chữ Lý) Có thuyết cho rằng Lý Công Uản là con Vạn Hạnh tên họ của ngài do các sư đặt để dấu thân phận. Thiền sư Nguyễn Khánh Vân nhận ngài làm con nuôi lên 7 tuổi sư gửi sang cho anh là thiền sư Nguyễn Vạn Hạnh ở chùa Lục Tổ rèn dạy. Theo sử của Trần Trọng Kim viết thì Lý Công Uẩn không có cha, mẹ là Phạm Thị đi chơi ở chùa Tiêu Sơn nằm mộng thấy đi lại với Thần Nhân rồi về có thai đẻ ra con trai. Lên 3 tuổi đem cho người Sư ở chùa Cổ Pháp tên là Lý Khánh Vân làm con nuôi rồi mới đặt tên là Lý Công Uẩn. Một thông tin khác là ở chùa Tiêu (Cảm ưng thiên tâm) có một phiến đá ghi 4 chữ: “Lý gia linh thạch”. Gần đây nhân bệ thờ bị nứt phải trùng tu phiến đá được lật ra, thấy mặt trong là một bộ bài minh ghi rõ: “bà Phạm Mẫu đến ở chùa Tiêu do nhà Sư Vạn Hạnh trụ trì, hằng ngày đèn nhang và được một thần hầu (khỉ thần) yêu đưa lên núi ái ân trên phiến đá này có mang, sinh ra Lý Công Uẩn, sau làm vua nên phiến đá trở thành linh thiêng đối với nhà Lý. Vị thần hầu ấy chính là nhà Sư Vạn Hạnh. Nguyễn Đê được nhà Sư Vạn Hạnh che giấu nên đã vào triều Lê Hoàn làm Hữu Thân Vệ rồi kết thân với Lý Công Uẩn. Sau khi Lê Đại Hành mất Lê Cung Việt lên ngôi được 3 ngày thì bị em là Lê Long Đĩnh sai người vào cung giết đi lên ngôi hiệu là Lê Long Đĩnh (1005 - 1009). Lê Long Đĩnh là người bạo ngược, lấy việc giết người làm trò chơi như Kiệt Trụ ngày xưa. Sống dâm dục, buổi chầu cứ nằm nên gọi là vua Ngoạ Triều. Lê Long Đĩnh mất, con còn bé, Nguyễn Đê lại là chỗ tâm phúc, tâm giao với Lý Công Uẩn, lúc này đang giữ chức Tả Thân Vệ Điện Tiền Chỉ Huy Sứ và ngầm liên kết với quan Chi Hậu Đào Cam Mộc để lật đổ Lê Ngọa Triều, phò Lý Công Uẩn lên ngôi Hoàng đế. Đại Việt Sử ký ghi lại rằng: Khi Lê Ngọa Triều (Lê Long Đĩnh) băng hà, vua nối (chỉ Lê Xạ, con Lê Long Đĩnh) còn bé, Lý Công Uẩn cùng với Hữu Điện Tiền Chỉ Huy Sứ là Nguyễn Đê, mỗi người được đem 500 quân tùy tùng canh giữ, Đào Cam Mộc là quan Chi Hậu đã gặp quan Thân Vệ là Lý Công Uẩn, phân tích thời thế, lòng người và khuyên Lý Công Uẩn: “Nhân lúc này, vận dụng mưu cao, quyết đoán sáng suốt, xa thì xem dấu cũ Thang Vũ, gần thì xem việc làm của Đinh - Lê, trên thuận lòng trời, dưới theo lòng dân” để lên ngôi Hoàng đế, thay nhà Lê đã đổ nát. Nguyễn Đê đã cùng Đào Cam Mộc dìu Lý Công Uẩn lên chính điện, lập làm vua. “Trăm quan đều lạy rạp ở dưới sân, trong ngoài đều hô “vạn tuế”, vang dậy cả trong triều”. Sau Lý Công Uẩn lên ngôi tức vua Lý Thái Tổ. Lý Thái Tổ (1010 - 1028) sắc phong cho Nguyễn Đê làm Quốc Công tước Á Khanh Hầu, Đào Cam Mộc làm Nghĩa Tín Hầu. Tương truyền Lý Thái Tổ đã phong sư Vạn Hạnh là Quốc sư.

Lý Thái Tổ thấy đất Hoa Lư chật hẹp không mở mang được bèn dời đô về La Thành. Tháng 7 năm Thuận thiên nguyên niên (1010) thì khởi sự dời đô đến La Thành. Theo điềm mộng thấy Rồng Vàng hiện bay trên đồi La Thành nên vua đổi tên La Thành thành Thăng Long (nay là Thủ đô Hà Nội). Thái Tổ trị vì được 19 năm thì mất, thọ 55 tuổi.

(3)   Tiến sĩ Đại Tư Đồ Nguyễn Quốc Dĩ

Trong cuốn Lịch sử chế độ phong kiến Việt Nam ghi là Nguyễn Quốc Dĩ,Việt Nam sử lược ghi là Nguyễn Quốc và nhiều gia phả ghi là Nguyễn Quốc. Ông là con trai Nguyễn Quang Lợi bác ruột Nguyễn Phụng. Nguyễn Quang Lợi cùng tướng Lê Phụng Hiểu dẹp yên biến loạn năm Mậu Thìn được phong chức lớn Thái Úy- Hòa Quốc Công. Hòa Quốc Công có con trai là Viên Ngoại Lang Nguyễn Nghĩa Tường và Viên Ngoại Lang Nguyễn Quốc (- 1158). Nguyễn Quốc sinh được 9 con trai. Con trưởng Nguyễn Giới đỗ Tiến sỹ triều Trần Thái Tông (1226 - 1258) làm thượng thư năm Kỷ Mùi (1259). Nguyễn Quốc Dĩ, Nguyễn Công Giới hậu duệ đời thứ tư Thái Tể Nguyễn Bặc vốn người có tài, từng nhận mệnh vua Lý Anh Tông (1138 - 1175) đi sứ sang nhà Tống lại chết một cách tức tưởi vào năm Mậu Dần (1158). Sách Đại Việt Sử Lược (quyển 3, trang 6-a) chép rằng: “Viên tạ ti Nguyễn Quốc Dĩ đi sứ nhà Tống về tâu với nhà vua: - Thần đến nước Tống, thấy ở giữa sân (triều đình) có cái hòm bằng đồng để thu nạp những tờ sớ của bốn phương. Thần xin bệ hạ phỏng theo cách đó (mà làm) để thấu rõ được dân tình. Vua lấy làm phải, sai làm hòm để ở trước triều đình và lệnh rằng: Ai muốn nói việc gì thì làm giấy bỏ vào hòm đó. Khoảng chừng một tháng, các thư sớ đã đầy hòm, trong đó có một tờ sớ nặc danh, bỏ trộm vào hòm, viết rằng:“Thái úy Đỗ Anh Vũ định đem binh vào cung làm loạn”. Kẻ nhận thư bèn đưa cho Anh Vũ. Anh Vũ nói: Ông hãy vì ta mà tâu vua xin xét việc đó. Đến khá lâu sau vẫn không tìm ra kẻ viết thư, Anh Vũ bèn tâu vua rằng:

-   Thư ấy tất do người đề xướng việc làm hòm viết ra. Vua lấy làm phải, sai bắt Quốc Dĩ và em gái là Nghi giao cho quan xét xử, bày đặt buộc tội cho Quốc Dĩ rồi đày Quốc Dĩ lên trại Quy Hóa. Được ít lâu, vua tính triệu Quốc Dĩ về, Anh Vũ sai người đem thuốc độc cho Quốc.

Dĩ và nói:

-   Uống thuốc này thì có thể tránh được chướng khí.

Quốc Dĩ biết rằng không thể thoát được, bèn uống thuốc độc mà chết”.

(1)   Nguyễn Nộn

Nguyễn Nộn (P^®) sinh khoảng 1179 mất năm 1229) vợ là công chúa Ngoạn Thiềm, là con gái của Phụ Quốc Thái Úy Trần Thủ Độ và là em gái của vua Trần Thái Tông. Trần Thủ Độ gả bà cho Nguyễn Nộn với mục đích cầu hòa và thăm dò nội tình vùng Nguyễn Nộn chiếm cứ. Nguyễn Nộn có 4 con trai Nguyễn Thế Tứ, Nguyễn Long, Nguyễn Thức, Nguyễn Hiến, Nguyễn Diễn. Theo Đại Việt sử lược, Nguyễn Nộn là thủ lĩnh một sứ quân nổi dậy chống lại triều đình vào cuối thời Nhà Lý, đầu thời Nhà Trần trong lịch sử Việt Nam. Nguyễn Nộn người xã Phù Dực (huyện Tiên Du) Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục thì ông vốn là cư sĩ ở hương Phù Đổng, Gia Lâm, Hà Nội, Việt Nam.

Thân thế sự nghiệp Nguyễn Nộn sử sách ghi chép không thống nhất. Theo các sách Việt Sử Tiêu Án, Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục, ông vốn là cư sĩ ở hương Phù Đổng. Tháng 8 năm 1218, ông bắt được vàng và ngọc mà không đem dâng vua Lý Huệ Tông, do đó triều đình xuống chiếu bắt giam ông. Quyền thần Trần Tự Khánh thấy Nguyễn Nộn có tài, bèn tâu vua Huệ Tông xin tha cho ông. Vua Huệ Tông bằng lòng cho đi theo quân đánh giặc để chuộc tội. Tháng 10 năm đó, Tự Khánh sai Nguyễn Nộn đem quân đi đánh người Man ở Quảng Oai. Tháng 3 năm 1220, Nguyễn Nộn nhân cầm quân trong tay không trở về triều, giữ hương Nghệ An, tự xưng là Hoài Đạo Vương, dâng biểu xưng thần, xin đi dẹp loạn để chuộc tội. Vua Huệ Tông sai người đem sắc thư đến tuyên dụ. Họ Trần cũng đang mưu tính lấy ngôi nhà Lý nên chưa tính tới Nguyễn Nộn.

Theo Đại Việt Sử Lược thì năm 1213, Trần Tự Khánh sai người sang Bắc Giang lừa mời ông về. Nguyễn Nộn về đến nơi, Trần Tự Khánh dùng dây thép trói lại năm vòng, giam cầm ông. Tuy nhiên, chưa rõ vì lý do gì mà Nguyễn Nộn bị Tự Khánh bắt giam. Tháng 9, Trần Tự Khánh mở trói dây thép cho Nguyễn Nộn. Tuy ở trong cảnh ngục tù mà Nguyễn Nộn thần sắc vẫn tự nhiên. Khi thấy bọn dũng sĩ nhảy, đối lại, ông mang theo cả cái dây xích sắt mà nhảy, nhưng lại nhảy hơn bọn dũng sĩ. Trần Tự Khánh trông thấy, lấy làm lạ, bèn thả ông ra lại cho làm tướng và đem người con gái của bà dì gả cho. Sau đó Tự Khánh lại trao cho ông hai ấp là Trần Khê và Cả Lũ .

Năm 1213, Nguyễn Nộn cầm một cánh quân họ Trần chống lại quân triều đình do đích thân Lý Huệ Tông và Thái sư Đàm Dĩ Mông chỉ huy. Ông cùng các tướng họ Trần đánh bại quân nhà Lý. Em họ Trần Tự Khánh là Trần Thủ Độ cùng Trần Hiến Sâm ở tả ngạn tiến đánh thắng quân triều đình. Nguyễn Nộn từ Quốc Oai tiến đến chợ Dừa cùng Phan Lân đánh thắng

các tướng ở Hồng Châu là Đoàn Cấm, Vũ Hốt. Lý Huệ Tông thất thế phải chạy lên Lạng Châu. Sau trận đó, ông được Trần Tự Khánh giao giữ vùng Bắc Giang. Trần Tự Khánh lên Lạng châu rước Huệ Tông không được liền lập hoàng thân khác lên ngôi, tức là vua Càn Ninh.

Năm 1214, anh em họ Đoàn tấn công đất Bắc Giang. Hai bên đánh nhau ở núi Đông Cứu (Gia Lương, Bắc Ninh), Nguyễn Nộn giết chết được Đoàn Nguyễn, nhưng cũng bị thương ở lưng.Tuy nhiên lúc đó nội bộ phe Tự Khánh xảy ra phản loạn lớn. Tướng ở Cam Giá (thị xã Sơn Tây) là Đỗ Bị lại nổi lên chống cự. Nhân thời cơ đó, Nguyễn Nộn cũng phản lại Tự Khánh, xây dựng một thế lực rất lớn. Do Đỗ Bị, Nguyễn Nộn uy hiếp kinh thành Thăng Long Tự Khánh lấy hết vàng bạc, của cải các kho và phóng hỏa đốt kinh đô rồi đưa vua mới là Càn Ninh xuống hành cung Lý Nhân (Hà Nam). Nguyễn Nộn đem binh đến Thăng Long đánh nhau với Tự Khánh. Lý Huệ Tông và thái hậu đang ở Nam Sách trở về Thăng Long, phong cho Nguyễn Nộn tước hầu để mượn tay Nộn chống họ Trần. Từ đó cục diện trong nước lúc này đại thể hình thành ba thế lực: Phía bắc là Nguyễn Nộn, phía đông là Đoàn Thượng, phía nam là Trần Tự Khánh.

Theo Đại Việt Sử Lược, tháng 6, năm 1219, Trần Tự Khánh sai tướng Vương Lê đem binh về Nam Sách đánh Nguyễn Nộn. Quân hai bên giằng co, Trần Tự Khánh không thắng nổi quân của Nộn. Sau năm 1219 Nguyễn Nộn vẫn còn hoạt động. Năm 1220, trong khi các sứ quân khác bị dẹp thì Nguyễn Nộn và Đoàn Thượng vẫn là hai sứ quân tồn tại chống lại triều đình (trong tay họ Trần). Năm 1223, Trần Tự Khánh chết, em ruột là Trần Thừa và em họ là Trần Thủ Độ lên thay nắm quyền điều hành việc triều đình. Thế quân của Nguyễn Nộn ngày càng mạnh. Nguyễn Nộn chiếm cứ Bắc Giang, Đoàn Thượng chiếm cứ Hồng Châu. Năm 1225, Trần Thủ Độ chủ xướng việc nhà Trần thay nhà Lý và lo việc đánh dẹp. Tuy nhiên bấy giờ Nguyễn Nộn và Đoàn Thượng binh thế còn mạnh, chưa dễ hàng phục được, Trần Thủ Độ bèn phong cho Nộn làm Hoài Đạo Vương, chia cho các huyện Bắc Giang Thượng, Bắc Giang Hạ, Đông Ngạn. Tháng 12 năm 1228, Nguyễn Nộn đánh bại giết chết Đoàn Thượng. Nhân đó ông gộp cả quân của Thượng ở đất Hồng Châu. Con của Thượng là Văn đem gia thuộc đến hàng. Thanh thế của Nguyễn Nộn rất lừng lẫy. Trần Thủ Độ lo lắng, chia quân chống giữ và sai sứ đem thư đến chúc mừng, gia phong Nộn làm Hoài Đạo Hiếu Vũ Vương ('®^#^ĩ). Sau đó Thủ Độ lại đưa công chúa Ngoạn Thiềm gả cho ông để ngầm dò la tin tức. Biết ý Thủ Độ ông chia nha tướng canh giữ riêng chỗ công chúa ở. Vì thế công chúa không thể báo được tin gì cho triều đình.

Tháng 3 năm 1229, Nguyễn Nộn tự xưng là Đại Thắng Vương, tuy nhiên, ông cũng tự lượng sức biết thế mình không thể cùng đối lập với nhà Trần, định đến tháng 10 sẽ vào chầu, song còn do dự chưa quyết. Cuối năm đó ông ốm nặng không bao lâu thì qua đời. Trước khi mất ông khuyên các con về với nhà Trần. Nguyễn Thế Tứ con cả đã về với nhà Trần giữ chức Đô Kiểm Điểm dưới trưởng Hoài Đạo Vương Trần Hưng Đạo.

(11)   Nguyễn Khoan

Theo Khoái Hầu tục biên thì “ Nguyễn Khoan thuộc dòng họ Nguyễn Bặc, đến đời cha ta là Nguyễn Khoan dưới Triều Lý Cao Tông (1176 - 1210) thi đậu Tiến sĩ và làm chức Khâm Sai Đô Úy trấn thủ vùng biên giới phía Bắc thời Lý

Duệ Tông (1211 - 1224)” - Khoái Hầu tục biên” tờ 22 do Nguyễn Quang Kỳ giữ - “Khi Thủ Độ buộc Lý Chiêu Hoàng nhường ngôi cho Trần Cảnh khiến Nguyễn Khoan phải ôm uất hận treo ấn từ quan về ẩn dật tại quê nhà ở Bình Lệ Nguyên thuộc vùng Vĩnh Yên - Tam Đảo - tỉnh Vĩnh Phúc ngày nay- cùng vợ và ba con là Nguyễn Khoái, Nguyễn Khả, Nguyễn Truyền chuyên việc nông trang, săn bắn cung kiếm vui thú thanh nhàn mà thôi” Thấy được gương cha con nhà Trần, là Trần Thái Tông và Thái tử Trần Hoảng ra trận tiền chỉ huy đánh giặc xâm lăng Nguyên Mông Nguyễn Khoan cùng ba con đốc thúc mọi người quanh vùng giết giặc. Trong trận đó vào đêm 24 tháng 12 cùng năm Bính Thìn (1257) Nguyễn Khoan bị tử trận. Sau khi toàn thắng giặc Nguyên Mông, vào năm Kỷ Sửu (1289) vua Trần Nhân Tông đã phong cho Nguyễn Khoan chức “Trung Lương Tướng Thượng Đẳng Thần”. Nguyễn Khoái viết về cụ Nguyễn Khoan “Đến đời cha ta, tuy chưa có công gì lớn với nhà Trần nhưng là nguời đi đầu giúp Trần Thái Tông trong trận đầu chiến thắng giặc Nguyên...mà chết. Rất đáng để cho anh em ta cùng con cháu dòng họ Nguyễn về sau mãi mãi noi gương sáng” Sách cua Giáo sư Nguyễn Thế Nguyên Trưởng Ban liên lạc họ Nguyễn Việt Nam tại trang 109 cuốn nghiên cứu phần thượng phả dòng họ Nguyễn Bặc cũng ghi Nguyễn Khoan sinh vào khoảng năm 1192 thời Lý Cao Tông 1176 - 1210. Trong thời kỳ 1209 Nguyễn Nộn khởi nghĩa làm chủ cả vùng Bắc Giang một bộ phận con Nguyễn Thế Tứ trong đó có Nguyễn Khoan đi ở ẩn. Năm Giáp Tuất - 1214 dưới triều Lý Huệ Tông dựa vào thế lực của cha Hoài Đạo Vương Nguyễn Khoan nhậm chức Khâm Sai Đô Úy vùng biên Lạng Sơn. Khi quân Mông xâm lược tuy không phải là tướng nhà Trần, ông cùng 3 con Nguyễn Khoái, Nguyễn Khả Lập, Nguyễn Thế Truyền cùng gia nhân phối hợp với quân triều đình tập kích quân Mông. Nguyễn Khoan bị tử trận vào năm Bính Thìn 1257 thọ 65 tuổi đươc vua Trần Nhân Tông truy phong Trung Lương tướng Đẵng Thần. Nguyễn Khoan sinh 3 con trai Liệt hầu Nguyễn Khoái Tướng Nguyễn Khả Lập và Phương Liệt Bá Trung Đẳng Thần. Theo Nguyễn Tộc Thế Truyền ở Nha trang phụng lập năm 1995 và (“Nguyễn Gia văn tập “) do Tiến sĩ Nguyễn Văn Chương dịch ra chữ nôm; Tú tài Nguyễn Quang Dư dịch ra chữ Quốc ngữ; con là Nguyễn Quang Kỳ ở tại chợ Võ Đắc (Huyện Đức Linh, Tỉnh Bình Thuận) thì Nguyễn Khoan sinh ra Nguyễn Khoái, Nguyễn Khoái sinh ra Nguyễn Bính, Nguyễn Bính sinh ra Nguyễn Nạp Hoà, Nguyễn Nạp Hoà sinh ra Nguyễn Đa Phương, Nguyễn Đa Phương sinh Nguyễn Cảnh Chân, Nguyễn Cảnh Chân sinh ra Nguyễn Cảnh Dị Thủy Tổ dòng họ Nguyễn Cảnh ở Thanh Chương Nghệ An. Đối chiếu với lịch sử và Di Huấn họ Nguyễn Triệu Cơ Quỳnh Đôi thì hành trạng tức là quá trình hoạt động của cụ Nguyễn Bính và Nguyễn Khoái gần như trùng khớp nhau. Cụ Nguyễn Bính đậu tiến sỹ và 2 lần đi sứ nhà Nguyên vào các năm 1275, 1315 được vua thưởng chức Nội Thư Chính Chương dưới thời Thượng Hoàng Trần Thánh Tông - 1279 - 1282, đi thị sát cùng với tướng Trần Khánh Dư ở Nghệ An vào năm 1316. Cũng thời gian này Nguyễn

Khoái đem đội quân Thánh Dực hầu cận bảo vệ Thượng Hoàng Trần Thánh Tông (1258 - 1278) và vua Trần Nhân Tông (1279 - 1293). Nguyễn Khoái ra làm quan sớm hơn Nguyễn Bính 17 năm (1275 - 1258) Ta có thể kết luận hai cụ tuy cùng phò tá Thượng Hoàng Trần Thánh Tông và vua Trần Nhân Tông nhưng không đồng trang lứa. Điều còn phân vân vợ Nguyễn Khoái không biết là vợ thứ mấy có thể ít tuổi hơn Nguyễn Bính. Tương truyền, vào năm Ất Dậu 1285 quân Nguyên Mông sang xâm lược nước ta vợ chồng tướng quân Nguyễn Khoái trấn giữ mặt Nam Thanh Hóa chặn đánh giặc Toa Đô từ Chiêm Thành ra. Trong một trận kịch chiến, vợ Nguyễn Khoái đã anh dũng hy sinh. Tưởng nhớ công ơn người phụ nữ anh hùng nhân dân lập đền thờ Bà bên bờ Sông Mã đoạn chảy qua huyện Hoằng Hoá ngày nay vẫn còn. Nguyễn Bính đậu tiến sỹ ra làm quan đi sứ nhà Nguyên vào năm 1275 ít ra đã trên 30 tuổi thì 10 năm sau 1285 đã trên 40 tuổi, lúc đó vợ Nguyễn Khoái đã ở độ tuổi 65.

(2)   Nguyễn Bính

Năm 2007 trong điều kiện thông tin rộng mỡ họ Nguyễn Triệu Cơ Quỳnh Đôi ban hành Tộc phả, lập Tông đồ tại nhà thờ Phúc Thọ di tích văn hoá Quốc Gia, gốc tổ là cụ Nguyễn Bặc, cha Thuỷ Tổ Nguyễn Thạc là Chỉ Huy Sứ Nguyễn Thanh, ông nội là chỉ Huy Sứ Nguyễn Hào cố nội là Chỉ Huy Sứ Nguyễn Hiến em Đô Kiểm Điểm Nguyễn Thế Tứ. Kể từ khi xuất hiện bản Di Huấn thì Đại Tộc Nguyễn Triệu Cơ Quỳnh Đôi lại xuất hiện một Tông đồ họ Nguyễn Triệu Cơ Đại Tộc mới tại nhà thờ Đại Tộc không còn gốc tổ Nguyễn Bặc. Ai là cha Nguyễn Bính vẫn là một ẩn số chưa có lời giải. Thông tin thì nhiều, tôi chỉ chọn những vấn đề có liên quan đến quan hệ cha con và thế thứ của cụ Bính và cụ Thạc để phân tích làm rõ gốc gác của dòng họ Nguyễn Triệu Cơ Quỳnh Đôi. Năm 2014 tôi có chuyên đề giải mã về thân sinh của cụ Nguyễn Bính có thể là cụ Nguyễn Thế Tứ song còn nhiều phân vân. Đọc kỹ bản Di Huấn của Họ Nguyễn Triệu Cơ Quỳnh Đôi thì Nguyễn Thạc xuất thân trong gia đình võ tướng nỗi tiếng từ tằng tổ đến cụ tổ đã bảy tám đời từng làm tướng giúp nhà Trần đánh quân Nguyên Mông. Tằng tổ Nguyễn Bính đậu tiến sỹ khoa Ất Hợi đời vua Trần Thánh Tông niên hiệu Bảo Phù thứ ba 1273 - 1278. Sau đó được Thượng Hoàng đặc phái đi sứ nhà Nguyên. Ngài được Thượng Hoàng tin cẩn nên được phong chức Nội Thư Chính Chương. Nguyễn Bính sinh 2 anh em Nguyễn Nạp Hòa và Nguyễn Cảnh, Nguyễn Cảnh sinh năm Quý Mão - 1303, Nguyễn Nạp Hòa có thể sinh năm 1300. Theo Giáo Sư Nguyễn Thế Nguyên thì phả cổ chép Nguyễn Thế Tứ sinh 9 con trai còn lưu lại 2 người là Nguyễn Nạp Hòa và Nguyễn Cảnh. Nguyễn Thế Tứ sinh khoản năm 1179 thì Nguyễn Nạp Hòa và Nguyễn Cảnh 1303 kém Nguyễn Thế Tứ trên 120 năm chỉ là hàng cháu chắt. Theo Nguyễn Tộc Thế Truyền ở Nha Trang phụng lập năm 1995 và (“Nguyễn Gia văn tập “) thì Nguyễn Khoan sinh ra Nguyễn Khoái, Nguyễn Khoái sinh ra Nguyễn Bính, Nguyễn Bính sinh ra Nguyễn Nạp Hoà, Nguyễn Nạp Hoà sinh ra Nguyễn Đa Phương, Nguyễn Đa Phương sinh Nguyễn Cảnh Chân, Nguyễn Cảnh Chân sinh ra Nguyễn Cảnh Đối chiếu với lịch sử và Di Huấn họ Nguyễn Triệu Cơ Quỳnh Đôi thì quá trình hoạt động của cụ Nguyễn Bính và Nguyễn Khoái gần như trùng khớp nhau. Cụ Nguyễn Bính đậu tiến sỹ và 2 lần đi sứ nhà Nguyên vào các năm 1275, 1315 được vua thưởng chức Nội Thư Chính Chương dưới thời Thượng Hoàng Trần Thánh Tông - 1279 - 1282, đi thị sát cùng với tướng Trần Khánh Dư ở Nghệ An vào năm 1316. Còn Nguyễn Khoái đem đội quân Thánh Dực bảo vệ Thượng Hoàng Trần Thánh Tông (1258 - 1278) và vua Trần Nhân Tông (1279 - 1293) Tuy hai cụ cùng phò tá Thượng Hoàng Trần Thánh Tông và vua Trần Nhân Tông nhưng không đồng trang lứa. Nguyễn Khoái ra làm quan sớm hơn Nguyễn Bính 17 năm (1275 - 1258). Điều còn phân vân vợ Nguyễn Khoái không biết là vợ thứ mấy có thể ít tuổi hơn Nguyễn Bính. Tương truyền, vào năm Ất Dậu 1285 quân Nguyên Mông sang xâm lược nước ta vợ chồng tướng quân Nguyễn Khoái trấn giữ mặt Nam Thanh Hóa chặn đánh giặc Toa Đô từ Chiêm Thành ra. Trong một trận kịch chiến, vợ Nguyễn Khoái đã anh dũng hy sinh. Tưởng nhớ công ơn người phụ nữ anh hùng nhân dân lập đền thờ Bà bên bờ Sông Mã đoạn chảy qua huyện Hoằng Hoá ngày nay vẫn còn. Nguyễn Bính đậu tiến sỹ ra làm quan đi sứ nhà Nguyên vào năm 1275 trước 10 năm vợ Nguyễn Khoái hy sinh. Nguyễn Khoái sinh khoảng 1218 đến 1220 dưới triều Lý Huệ Tông (1211 - 1224) thì năm 1285 đã 65 tuổi, nếu vợ đồng tuổi thì năm hy sinh đã 65 tuổi.

Không loại trừ Nguyễn Bính là con Nguyễn Thế Tứ vì Nguyễn Bính đậu tiến sỹ năm 1275 rồi đi sứ nhà Nguyên được thượng Hoàng Trần Thánh Tông ban chức Nội Thư Chính Chưởng ít ra ở độ tuổi 30 thì Nguyễn Bính sinh vào khoảng 1240 hoặc trước nữa, thời gian này Nguyễn Thế Tứ sinh khoảng năm 1189 ở độ tuổi 51 hoặc 61 - Nguyễn Thế Tứ về với nhà Trần vào năm 1229 ở độ tuổi 40 đến 50) vẫn có thể sinh con. Hoặc Nguyễn Bính cũng giống như trường hợp Nguyễn Khoan Giáo Sư Nguyễn Thế Nguyên nhận định thuộc bộ phận con Nguyễn Thế Tứ ở ẩn sau mới về với nhà Trần. Lưu ý nhà Trần bắt đầu thực hiện chế độ khoa cử để chọn người tài giúp nước rất ít, năm 1232 mở khoa thi đầu tiên năm 1247 triều đình đặt lệ thi lấy Tam khôi trạng nguyên, bảng nhãn, thám hoa và quy định cứ 7 năm mở 1 khoa thi năm 1255 lấy 2 trạng nguyên và năm 1275 lấy Bãng Nhãn Tham Hoa và Thái học sinh. Chế đô thi cử như vậy nên nhiều học sinh phải đi thi ra làm quan muộn có thể Nguyễn Bính ở trong trường hợp này.

Nguyễn Bính là cận thần của Thượng Hoàng sống cùng thời Hàn Thuyên, Trần Trung Tá, Nguyễn Trung Ngạn và Hoàng Tá Thốn .. ..là người thẳng thắn trong sạch được ghi vào sử sách quốc gia. Tại trang 101, 102 tâp II Đại Việt Sử Ký Toàn thư Nhà xuất Bản khoa học xã hội năm 1998 có chép lại lời của vua Trần Minh Tông (1314 - 1329) “Ta sai nhân Huệ Đại Vương Khánh Dư đi Diễn Châu duyệt sổ lính sổ dân lấy Nội Thư Chính Chưởng phụng ngự Nguyễn Bính làm phó. Xong việc về triều Bính đem tiền bỗng dâng nộp. Vua sai hữu ty nhận lấy. Có người hỏi “Bính nộp tiền bổng mà bệ hạ nhận, thần chưa hiểu cớ làm sao? Vua đáp Bính nộp tiền bổng là thành thực, nếu trẫm không nhận, thì hàm Bính vào tôi dối trá, cho nên nhận lấy để tỏ rõ Bính không nói dối. Bính là cận thần của Thượng Hoàng tính người trong sạch thẳng thắn, năm trước đứng đầu hành nhân sang sứ nước Nguyên trở về không mua thứ gì, Thượng Hoàng khen ngợi dặc cách ban thưởng 2 tư. Theo lệ cũ những người đi sứ Nguyên về mỗi người được ban tước 2 tư, người đứng đầu hành nhân trở xuống mỗi người 1 tư. Bính là người trong sạch thẳng thắn nên được 2 tư”.

(3)       Nguyễn Nạp Hòa

Theo Giáo Sư Nguyễn Thế Nguyên thì phả cổ chép Nguyễn Thế Tứ sinh 9 con trai còn lưu lại 2 người là Nguyễn Nạp Hòa và Nguyễn Cảnh. Nguyễn Nạp Hòa anh Nguyễn Cảnh sinh năm Quý Mão - 1303, Nguyễn Thế Tứ sinh khoản năm 1179 thì Nguyễn Nạp Hòa và Nguyễn Cảnh kém Nguyễn Thế Tứ trên 120 năm chỉ là hàng cháu chắt. Theo bản Di Huấn cháu đời thứ 3 Thuỷ Tổ Nguyễn Thạc Nguyễn Huy chép Đại Tộc Nguyễn Triệu Cơ thu hồi được vào ngay 2 tháng 6 Âl năm 2014 thì Nguyễn Nạp Hòa con trai đầu Nội Thư Chính Chương Nguyễn Bính thi đỗ cử nhân võ nhậm chức Tướng quân qua các triều Trần Dụ Tông (1341 - 1369), Trần Hiến Tông (1369 - 1372, Trần Dụê Tông (1372 - 1377) . Tháng Giêng năm Đinh Tỵ hiệu Xương Phù Nguyên (1377) ngài hộ gía vua chinh chiến ở phương Nam bị tử trận cùng với 2 tướng Đỗ Lễ, Phạm Huyền Linh. Ngài sinh 2 con trai, con đầu Nguyễn Luật con thứ Nguyễn Đa Phương, Nguyễn Luật cử nhân võ nhậm chức Hữu Hiệu Điểm Giám Quân Thiên Trường Vệ. Nguyễn Đa Phương cử nhân võ nhậm chức Kim Ngự Đại Tướng Quân. Nguyễn Luật sinh 3 con trai con đầu Nguyễn Sách cử nhân võ giữ chức Thiết Sàng Tướng Quân. Nguyễn Hồ cử nhân võ giữ chức Thiết Liên Tướng Quân. Con trai út Nguyễn Minh Du cử nhân võ giữ chức Thiết Hộ Tướng Quân. Kim Ngự Vệ Đại tướng Quân Nguyễn Đa Phương quê ở làng Ngọc Sơn, huyện Nam Đường, Hoan Châu nay thuộc Thanh Chương tỉnh Nghệ An sinh Nguyễn Cảnh Chân năm Ất Mùi (1355) lớn lên khôi ngô tuấn tú văn võ song toàn đậu cử nhân võ ở kinh đô được bổ nhiệm An Phủ Sứ Thuận Hoá. Khi giặc Minh xâm lược ông cùng Đặng Tất lập công đánh tan đạo quân Mộc Thạnh. Sau chiến thắng ở Sơn Nam ônng bị vua Giản Định (Trần Ngỗi) nghi oan giết hại. Nguyễn Cảnh Chân là Thủy tổ dòng họ Nguyễn Cảnh ở Nghệ An. Nguyễn Đa Phương là ông nội Nguyễn Cảnh Dị là Đại Tướng Quân kháng chiến chống quân nhà Minh sang xâm lược nước ta, sau khi quét sạch giặc Minh, vua Lê Thái Tổ truy phong tước Thụy Quốc Công.

(4)       Nguyễn Đa Phương

Trong Di huấn họ Nguyễn Triệu Cơ chép rằng Tằng tổ Nguyễn Bính sinh ra Nguyễn Nạp Hòa, Nguyễn Cảnh; Nguyễn Nạp Hòa sinh ra Nguyễn Luật, Nguyễn Đa Phương, Nguyễn Luật sinh ra Nguyễn Bát Sách, Nguyễn Hồ, Nguyễn Minh Du; Nguyễn Đa Phương sinh ra Nguyễn Cảnh Chân. Nguyễn Cảnh em Nguyễn Nạp Hòa sinh 5 con Nguyễn Thành, Nguyễn Thực, Nguyễn Thạc, Nguyễn Khánh.

(15) Nguyễn Ứng Long và Nguyễn Trãi

Tên là Ứng Long về sau làm quan đổi tên là Nguyễn Phi Khanh ông sinh năm Bính Dần là con thứ 3 Du Cần Công Nguyễn Minh Du hậu duệ của Hoài Đạo Vương Nguyễn Nộn thuộc dòng trưởng Đô Kiểm Điềm Nguyễn Thế Tứ Đời thư

4   dòng họ Nguyễn Bặc. Ứng Long có 6 con trai. Vợ cả là bà Trần Thị Thái con quan Tư Đồ Trần Nguyên Đán có 5 con trai Nguyễn Lý, Nguyễn Trãi, Nguyễn Bảo, Nguyễn Phi Ly, Nguyễn Phi Hùng; vợ thứ 2 có con là Nguyễn Bằng. Năm

19    tuổi Ứng Long đỗ đệ nhất giáp Tiến sĩ, đệ nhị danh Bảng Nhãn thời Trần Duệ Tông - 1374 nhưng chỉ làm Kiểm Chính ở Trung thư. Nguyễn Trãi sinh năm Canh Thìn sau khi đỗ Thái Học sinh được bổ nhiệm Chánh Chưởng Ngự Sử Đài. Sau chinh biến ông và gia đình từ quan về Nhị Khê dạy học. Sau khi Hồ Quý Ly lập triều nhà Hồ (1400 - 1407) Nguyễn Ứng Long và con là Nguyễn Trãi được trọng dụng. Nguyễn Phi Khanh giữ chức Học Sỹ Hàn Lâm Viện Quốc Tử Giám sau là Tứ Kim Ngô Đại, Thông Chương Đại Phu,Thượng Kinh Xa Đô Úy, Đại Lý Tự Khanh kiêm Trung Thư Thị Lang, Thái Tử Tả Tán Thiện Đại Phu và ngài đổi tên là Phi Khanh. Sau khi nhà Hồ thất bại ông bị nhà Minh bắt cầm tù ở huyện Tương Dương - Hồ Bắc và mất vào năm 1428 thọ 73 tuổi.

Khi nhà Hồ thất bại Nguyễn Trãi mưu cầu nhà Minh thả cha nhưng không thành ông về lánh nạn ở Thanh Hóa rồi phò tá Lê Lợi đánh thắng quân Minh lập nên triều Lê Sơ. Do có công lao lớn Nguyễn Trãi được vua Lê Thái Tổ ban họ vua là Lê Trãi và phong chức tước: “Khai Quốc Công Thần, Nhập Nội Hành Khiển, Trung Thư Hàn Lâm Ngự Sử, Lục Bộ Thượng Thư, Tứ Kim Ngư Đại Thượng Hộ Quan Phục Hầu”.

Nguyễn Trãi có năm người vợ. Bà họ Trần: Sinh ra Nguyễn Khuê, Nguyễn Ứng, Nguyễn Phù. Bà họ Phùng: Sinh ra Thị Trà, Nguyễn Bảng, Nguyễn Tích. Bà Thị Lộ: Không có con. Bà Phạm Thị Mần: Sinh ra Nguyễn Ánh Vũ (sau vụ án Lệ Chi Viên) Bà họ Lê: Sinh ra con cháu ở chi Quế Lĩnh, Phương Quất- huyện Kim Môn, Hải Dương.

Thảm án Lệ Chi viên xẩy ra ngày 4 tháng 8 năm Nhâm Tuất và thảm hoa tru di gia quyến Nguyễn Trãi. Vua Lê Thái Tông trên đường hồi kinh có Lễ Nghi Học sỹ Nguyễn Thị Lộ theo đoàn hộ giá tới hành cung Lệ Chi Viên nghỉ đêm về khuya vua ngộ cảm rồi băng.

Để đưa con mình lên ngôi bọn Thị Anh dày công thoán nghịch loại bỏ các phi tần được Thái Tông sủng ái, đối phó với các trung thần bảo vệ, tố cáo Nghi Dân và xuyên tạc lịch sử... Khi vua đang vi hành trong cung Ngọc Dao sinh hoàng tử. Nguyễn Thị Anh sợ không yên vị nên lập mưu giết vua Thái Tông. Đây là cơ hội cho Nguyễn Thị Anh trả thù Nguyễn Trãi. Ngay sau khi Lê Thái Tông chết thì ngày 12 tháng 8 Bang Cơ lên ngôi lúc mới 2 tuổi. Thái hậu chấp chính cùng tay sai dựng lên vụ án Lê Chi Viên cho Nguyễn Trãi âm mưu thoán nghịch nên đã sai vợ Nguyễn Thị Lộ giết vua. Ngày 16 thàgs 8 năm Nhâm Tuất bọn Nguyễn Thị Anh tru di đại công thần khai quốc Nguyễn Trãi.

 

Sau vụ án Lệ Chi Viên ngày 19/9/1442 (tức ngày 16 tháng 8 năm Nhâm Tuất), dòng họ Nguyễn Trãi gần như tuyệt diệt. Một số con cháu sống sót phiêu tán lánh nạn khắp nơi để trốn tránh sự truy sát của triều đình. Đến năm 1464, vua Lê Thánh Tông ra chiếu giải oan cho Nguyễn Trãi, vụ án Lệ Chi Viên mới đến hồi kết thúc sự truy sát của triều đình.

Đến nay có khoảng 23 chi họ phân tán ở một số tỉnh từ Cao Bằng đến Nghệ An, Hà Tĩnh. Năm 2002 Ban quản lý di tích Côn Sơn đã sưu tầm 14 cuốn gia phả viết bằng Hán, Nôm có niên đại từ thời: Hồng Thuận Tứ Niên (năm 1513), Cảnh Hưng nguyên niên (năm 1740), gần đây nhất là cuốn gia phả sao lại năm 1962 ở 12 chi họ ở các tỉnh Hải Dương, Hưng Yên, Quảng Ninh, Thanh Hóa như Chi Ngại, Phương Quất, Quế Lĩnh, Triều Bến, Xuân Dục, Phù Khê, Nhị Khê, Canh Hoạch, Thụy Phú, Gia Miêu, Cẩm Nga, Lan Trà, Dự Quần,... Về nguồn gốc của các chi họ, gia phả đều thống nhất ghi: Nguyên quán cụ tổ tiên đời trước cua h ọ ta ở xã Chi Ngại, huyện Phượng Nhỡn, phủ L ạng Giang, trấn Kinh Bắc (nay là thôn Chi Ngãi, xã Cộng Hòa, huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương) sau dời về làng Hạ, xã Nhị Khê, huyện Thượng Phúc ; phủ Thường Tín, đạo Sơn Nam. Về gốc tích cội nguồn họ Nguyễn ở thôn Chi Ngại, truyền thuyết của dòng họ kể rằng: Tổ tiên dòng họ Thái Tể triều Đinh - Đinh Quốc Công Nguyễn Bặc (924 - 979) khi Nguyễn Bặc kéo quân về Côn Sơn dẹp sứ quân của Phạm Phòng Át (Phạm Bạch Hổ), ông để lại con cháu của mình cùng năm vị tướng quân họ Phí ở lại Chi Ngại cai quản vùng đất này. Khi năm anh em họ Phí mất, người dân Chi Ngại tôn họ làm Thành Hoàng, lập đền thờ cúng. Đình làng Chi Ngại bị phá hủy trong kháng chiến chống thực dân Pháp, những bài vị, ngai thờ và thần tích của năm vị tướng họ Phí vẫn được lưu giữ thờ phụng đến ngày nay (nay bài vị của năm vị Thành Hoàng thờ ở chùa Ngái của thôn Chi Ngại). Qua những tư liệu trên, chúng ta thấy nguồn gốc dòng họ Nguyễn Trãi ở Chi Ngại có xuất xứ từ Nguyễn Bặc - Thái tể Định Quốc Công triều Đinh, quê ở huyện Hoàng Hóa, Thanh Hóa, di cư ra khoảng cuối thế kỷ X. Từ đó dòng họ Nguyễn phát triển đến đời cụ Tiên Nghiêm, sinh ra hai con trai. Vì nhà nghèo, hai anh em họ Nguyễn từ Chi Ngại đến Trại Ổi tức làng Nhị Khê - Thường Tín, Hà Đông làm thuê cho một nhà bán tương để sinh nhai. Nhờ một sự may mắn, hai anh em biết được ngôi đất quý ở cánh đồng Trung, bèn mang mộ tổ từ Chi Ngại sang táng ở bãi đất này. Ngôi mộ phát tích đó nay vẫn còn, người Nhị Khê gọi là “Dàn Cấm Địa” Một thời gian sau người em sang định cư ở thôn Cổ Hoạch: (huyện Thanh Oai, Hà Đông), người anh ở lại Nhị Khê. Từ đó lập nên ba chi họ Nguyễn. Chi họ gốc ở Chi Ngại, Chi họ Nhị Khê và chi họ Canh Hoạch. Chi họ Nguyễn ở Canh Hoạch, đến thời Lê Mạc thế kỷ XVI sinh ra Nguyễn Thiến đỗ Trạng Nguyên, phù giúp vua Lê Trang Tông trừ nhà Mạc, dẹp loạn Ai Lao, đánh Chiêm Thành. Sau con cháu vào Hà Tĩnh lập nên Chi họ Nguyễn Tiên Điền, cháu ngoại là Đại thi hào Nguyễn Du. Đến thế kỷ XX, cụ Nguyễn Duợc Hiệp hội UNESCO công nhận là danh nhân văn hóa thế giới.

 

CHƯƠNG II -THƯỢNG PHẢ

Đại tộc Nguyễn Triệu Cơ làng Quỳnh Đôi

2.1   Tiểu sử An Hòa Hầu Nguyễn Thạc

Theo Tiền phả Đại Tộc Nguyễn Triệu Cơ làng Quỳnh Đôi do Sinh đồ Nguyễn Lân đời thứ tư khởi biên năm 1501 có ghi “P^ ® ^                                             ^

Nguyễn Thạc khởi đầu chi phái thứ 7 họ Nguyễn (có thể hiểu là chi thứ 7 của dòng họ con cháu cụ Nguyễn Bính. Dòng trưởng Nguyễn Nạp Hòa có 5 con trai hình thành 5 chi phái, dòng thứ Nguyễn Cảnh có 5 con trai trong đó Nguyễn Thực, Nguyễn Giang, con út cụ Nguyễn Cảnh thất truyền như vậy có thể Nguyễn Thành là chi phái thứ 6 và Nguyễn Thạc là chi phái thứ 7). Di Huấn của họ Nguyễn Triệu Cơ do cụ Nguyễn Huy cháu đời thứ 3 chép, sinh đồ Nguyễn Lân đời thứ 4 sao chép lại vào năm 1490 thì cụ Nguyễn Thạc xuất thân từ gia đình vọng tộc, ông cha là quan võ từ nhiều đời. Bác ruột là Nguyễn Nạp Hòa đậu cử nhân võ được phong chức đại tướng có 2 con trai Nguyễn Luật, Nguyễn Đa Phương. Nguyễn Luật(1) đậu cử nhân võ được phong Hữu Hiệu Kiểm, Nguyễn Đa Phương(2) đậu cử nhân võ được phong Kim Ngự Đại Tướng Công. Nguyễn Luật sinh 3 con là tướng quân Thiết Sàng Nguyễn Sách, tướng quân Thiết Liêm Nguyễn Hồ và tướng quân Thiết Hổ Nguyễn Minh Du(3) (ông tổ dòng họ vua Gia Long). Nguyễn Đa Phương sinh ra tướng quân Nguyễn Cảnh Chân là cụ tổ dòng họ Nguyễn Cảnh ở Nghệ An.

Theo nhiều phả cổ thì cụ Nguyễn Thạc con Thái Bảo Cảnh Quận Công cháu Nội Thư Chính Chương Nguyễn Bính chắt Liệt Hầu Nguyễn Khoái chút Khâm Sai Đô Úy Nguyễn Khoan hậu duệ Đô Kiểm Điểm Nguyễn Thế Tứ. Cụ Nguyễn Thạc có 5 anh em trai. Anh cả Nguyễn Thành sinh năm Kỷ Sửu 1349 triều Trần Dụ Tông hiệu Thiệu Phong 1341 - 1369 thi đậu cử nhân võ vào năm Giáp Dần triều Trần Dụê Tông năm thứ 3 1372 - 1377, do có công đánh phá chặn giặc Chăm Pa được thăng chức Thái Úy. Cu là viên quan chính trực đã viết cáo trạng vạch tội Hồ Quý Ly. Hồ Quý Ly rất căm giận nhưng không thể hại được vì ông có uy tín lớn. Sau đó ông cùng với Nguyễn Luật anh con bác và các cháu Nguyễn Sách, Nguyễn Hồ, Nguyễn Minh Du âm mưu cứu vua Nghễn nhưng không thành bị Hồ Quý Ly truy bức. Ngài không có con nên nhận nuôi dưỡng một người nội tộc có tên là Nguyễn Lang làm con nuôi. Cụ qua đời vào năm Kỷ Mão 1399 thọ 51 tuổi. Các em Nguyễn Thành còn nhỏ bị liên lụy nên đã tùy phương sơ tán mỗi người mỗi nơi. Anh thứ 2 Nguyễn Thực sinh năm Tân Mão1351 đời vua Thiệu Phong tản cư xứ nào chưa biết. Nguyễn Thạc có 2 em trai một người tên là Khánh hoặc Giang đi về xứ nào hiện chưa biết, người em út theo mẹ tản cư nghi về hướng Gia Miêu(4).

Nguyễn Thạc sinh năm Giáp Ngọ (1354) hiệu Trần Dụ Tông quê gốc ở phía Bắc thôn Hàn Huyên, Nam Sách Hải Dương(5) thuở ấu thơ được cha mẹ chăm sóc giáo dưỡng, học hành thông minh thi cử đỗ đạt cao. Ở trường thầy trò ái mộ mệnh danh Nguyễn Hàn Thuyên(6)dân làng Hàn Thuyên người kính trọng gọi Nguyễn Hàn Thạc. Ngài nối nghiệp cha Thái Bảo Cảnh Quận Công Nguyễn Cảnh là một viên quan liêm khiết chính trực. Hồi đó khi còn luyện văn võ được trường thông báo vua Trần Dụ Tông băng hà, triều đình loạn lạc, tướng lĩnh mai danh ản tích. Ngài cùng các tướng lĩnh cải trang làm ngư dân xuôi thuyền về hướng Nam vào sông Mai Giang lạch Quèn đến Minh Cảo(7) rồi đến Nghĩa Lý thôn Thanh Lương ấp Đa Kỳ ngoại Đa Kỳ nội Xuân Úc(8) về sau chuyển sang Mạnh Sơn rồi tới Kim Lưu thôn Thượng Yên Tốt Động xã Hoàn Hậu. Người đã cùng với cụ Hoàng Khánh, Hồ Hồng và 2 con gái cụ Hồ Kha đồng tâm hợp lực khai hoang cày cấy đắp đê lấn biển trị thủy biến đất hoang thành đồng ruộng cày cấy với quy mô rộng lớn. Thổ nhưỡng tốt long mạch hội tụ thành sông có sức lôi cuốn các dòng họ đồng tâm hợp lực xây dựng hậu cứ lớn vững chắc dân cày ấm no. Nguyễn Thạc cùng với các tướng lĩnh tạo nên thế chân vạc, trang Thổ Đôi trở nên hậu phương lương thảo cho triều đình. Sau khi Lê Lợi( ) bình định thiên hạ xong1428 phong tặng chức “ Ma Lãnh Nguyễn Thạc danh An Tâm Cư Sĩ tước An Hòa Hầu. Ngày 4 tháng 4 năm Giáp Dần đời vua Lê Thái Tổ hiệu Thuận Thiên thì Nguyễn Thạc qua đời. Xét công lao to lớn của 3 cụ tổ Nguyễn, Hoàng, Hồ có công khai phá đất đai ngày 15 tháng 7 năm 1805 vua Gia Long(10) năm thứ tư phong tặng ba vị tổ tiên với danh tính “họ Triệu Cơ” với thần hiệu “ Bảo Dực Trung Hưng”. 

Họ Triệu Cơ có nghĩa là họ lấy việc xây dựng cơ nghiệp là nhiệm vụ hàng đầu. Lúc sinh thời An Hòa Hầu nguyện cống hiến toàn tâm toàn lực cho triều đình, lúc mất rồi Tiên Thế Tổ Nguyễn Thạc lại tiếp tục phù hộ việc nước, năm Giáp Tý năm thứ tư hiệu Đại Khánh vua Khải Định phong sắc hiệu thần phù “Dực Bảo Trung Hưng”.

“Sắc phong thần nông làng Quỳnh Đôi huyện Quỳnh Lưu tỉnh Nghệ An ”.

Nguyễn Ma Lĩnh danh An Tâm cư sĩ An Hòa Hầu nổi danh linh thiêng phù tá người tài giỏi đem trí lực giúp nước “Nhân dịp Trẫm hưởng thọ 40 tuổi ân chuẩn thần hiệu “ Dực Báo Trung Hưng”(24), và định kỳ cúng tế bậc anh linh tiên tổ thời gian tuần -10 ngày - với nghi thức long trọng. Ơn thần che chở cho dân ấm no an bình. kính cẩn báo

Ngày 2 tháng 7 năm thứ 9 vua Khải Định (1916 -1925)

Cháu đời thứ 14 Nguyễn Tri Dũng tuân chỉ sao chép”

Theo bản Tiền phả thì năm Mậu Ngọ Trần Phế Đế Nguyễn Thạc lấy bà Hồ Nhất Nương hiệu là Từ Thuận con gái đầu của cụ Hồ Kha, sinh con gái đầu lòng tên là Nguyễn Thị Thu (Thơm) chết sớm và 7 con trai theo thứ bậc

1.  Nguyễn Long sinh năm Quý Hợi mất khi 10 tuổi

2.  Nguyễn Tỉnh tự Khánh Dụệ sinh năm Bính Dần 1486

3.  Nguyễn Tu tức Yên sinh năm Mậu Thìn 1388

4.  Nguyễn Lai tục gọi là Lại sinh năm Canh Ngọ 1390

5.  Nguyễn Láng tức Lam sinh năm Quý Dậu 1393

6.  Nguyễn Hàn tức Hải sinh năm Àt Hợi 1395

7.  Nguyễn Huyên sinh năm Đinh Sửu 1397

Về sau phát triển thành 6 Đại tôn 1,2,3,4,5,6.

Tông đồ Đại tộc Nguyễn Triệu Cơ Quỳnh Đôi 

Nguyễn Cảnh

Tiểu sử về Nguyễn Thạc tờ số 2.2.1 bản Tiền Phả Đại tộc do Tiến Sỹ Nguyễn Xuân Mạnh phục chế

Theo cuốn Tiền Phả Đại Tộc Nguyễn Triệu Cơ thì bà Hồ Thị Thuận sinh 7 con trai một người mất sớm sáu người còn lại thì 4 người thất truyền. Đầu thế kỹ

19   danh nho Nguyễn Đức Châu đi tìm tổ tông dòng Họ Nguyễn Hữu Bằng nay gọi là Họ Nguyễn Sơn Bằng về Quỳnh đôi khảo cứu có gặp cụ Nguyễn Danh Hoà. Cụ cho biết 5 người con trai cụ Thạc đều nhập quân Lê Lợi làm ông Đội đánh nhau ở Lũng Khuất sau đó chỉ có Nguyễn Tu về làm quan trong triều còn 4 người không trở về và thất truyền.

2.1   Tổ tiên và bà con bên ngoại của họ Nguyễn Triệu Cơ

Ngài Hồ Kha là hậu duệ họ Hồ ở Trung Hoa sinh vào tháng 10 năm Bính Dần mất vào tháng 10 năm Kỷ Mùi dưới triều Trần Minh Tông là tổ tiên bên ngoại của họ Nguyễn Triệu Cơ. Cụ là quan Hải Giám dưới thời Trần Thánh Tông, dưới triều Trần Nhân Tông được truy phong thần Hải Giám. Vợ là bà Nguyễn Thị Cúc sinh 3 con gái theo thứ bậc Hồ Thị Thuận, Hồ Thị Minh và Hồ Thị Sinh và 2 con trai Hồ Hồng, Hồ Cao. Theo bản Thế phổ họ Hoàng ở Quỳnh Đôi thì Hoàng Khánh và Nguyễn Thạc là con rễ cụ Hồ Kha. Nguyễn Thạc lấy bà Hồ Thị Thuận (Thợi) con cả, Hoàng Khánh lấy bà Hồ Thị Sinh con út. Cụ Hoàng Khánh con cụ Hoàng Thanh cháu cụ Hoàng Tá Thốn. Hoàng Tá Thốn sinh năm Giáp Dần được phong thần Hải giám và tặng Ngọc Minh Triều lão tướng quân. Cụ có 5 con trai 2 con gái sống phân tán 5 xứ. Cụ Hoàng Thanh là con trưởng, do cha mẹ có chức tước nên được thừa kế chức Tổng Quản lĩnh lộ. Cụ Hoàng Khánh thi đậu Hương cống giữ chức quan Hành khiển cai quản giao thông ở châu. Cụ sinh 2 con trai và 2 con gái; con trai cả là Hoàng Chung con trai thứ là Hoàng Duy; con gái đầu Hoàng Thi Phương lấy chồng ở tổng Hoàng Mai, con gái thứ 3 là bà Hoàng Thị Tuệ lấy chồng là Cụ Nguyễn Lai con thứ 3 ngài An Hòa Hầu Nguyễn Thạc. Bà Hoàng Thị Tuệ là thân mẫu Thủy Thống Đốc Nguyễn Lâm Đức khởi Tổ Đại tôn Nguyễn Triệu Cơ Thanh Uyên Sơn Bằng.

2.2   Thuỷ Tổ An Hoà Hầu Nguyễn Thạc sinh ra các Thiên mã

Dân gian có ngạn ngữ Hổ Phụ sinh Hổ Tử quả dúng không sai. Nội Thư Chính Chương Nguyễn Bính sinh ra Nguyễn Cảnh đậu cử nhân võ được thăng chức Trấn Thủ Kinh Bắc Tham Tri Chính Sự sau được gia phong Thái Bảo tước Cảnh Quận Công, năm Giáp Ngọ (1354)sinh ra Nguyễn Thạc. Nguyễn Thạc nỗi tiếng về đường văn võ, mệnh danh Nguyễn Hàn hoặc kính trọng được gọi Nguyễn HànThạc - Hàn là danh của cụ Hàn Thuyên tên thật là Nguyễn Thuyên đỗ Tiến sĩ năm 1247dưới thời Trần Nhân Tông ông làm quan Thượng Thư Bộ Hình. Ngài Nguyễn Thạc nối nghiệp cha chức Thái Bảo một viên quan liêm khiết chính trực. Ngài cùng các tướng lĩnh vào Quỳnh Lưu xây dựng hậu cứ lớn chống giặc Minh. Ngài đã hợp tác với 2 cụ Tổ Hoàng Khánh, Hồ Hồng khai hoang lập nên Trang Thổ Đôi trù phú ấm no. Trang Thổ Đôi có sức lôi cuốn các dòng họ đồng tâm hợp lực cày cấy trở thành hậu cứ cung cấp lương thảo cho triều đình. Sau khi Lê Lợi bình định thiên hạ xong năm 1428 phong tặng Ngài Nguyễn Thạc chức “ Ma Lãnh Nguyễn Thạc danh An Tâm Cư Sĩ tước An Hòa Hầu. Vua Gia Long năm thứ tư xét công lao to lớn của 3 cụ Tổ Nguyễn, Hoàng, Hồ có công khai phá đất đai phong tặng ba vị tổ tiên với danh tính “họ Triệu Cơ” với thần hiệu “ Bảo Dực Trung Hưng” vào ngày 15 tháng 7 năm 1805, vua Khải Định năm thứ tư hiệu Đại Khánh phong Ngài sắc hiệu thần phù “ Dực bảo trung hưng”vào năm Giáp Tý 1924. Trong 11 năm từ năm 1386 đến năm 1397, An Hòa Hầu Nguyễn Thạc và bà Hồ Thi Thuận sinh 8 con, trưởng nữ và con trai đầu mất sớm còn lại 6 con trai. Trong 6 con trai thì 5 người là võ tướng theo Tả Ao - người được xem là thánh địa lý của Việt Nam gọi là Ngũ Mã đăng trình, mồ mã dòng họ Nguyễn có ngôi kết phát quan Thiên mã.

Thiên Mã thứ nhất là cụ Nguyễn Tĩnh tự Khánh Duệ sinh năm Bính Dần (1386) có công đánh dẹp Tàu Ô được phong làm Đô Đốc Tổng quản. Sau khi hy sinh được truy phong Thống Đốc Quận Công hưởng thọ 49 tuổi. Con cháu cụ trong thời phong kiến có 11 vị tướng trung quân ái quốc như ông Nguyễn Đức Thạc được vua phong 2 sắc rồng. Ông Nguyễn Hằng (Nguyên) là Phó đô thống chế. Nguyễn Tri Phương tên thực của ông là Nguyễn Văn Chương Đệ Nhất Huân Thần Tổng Thống Quân Thứ Quảng Nam, Tổng Thống Quân Gia Định, tháng 8 năm 1872 theo lệnh vua Tự Đức phái ra Bắc giữ thành Hà Nội bị trọng thương rồi tuẫn tiết. Ngày nay con cháu cụ Duệ cũng lắm người có học hàm học vị tỉ như Phó Giáo Sư Nguyễn Thường Ngô hậu duệ của danh nhân Nguyễn Tri Phương Thiên Mã thứ 2 là cụ Nguyễn Tu (Yên, An) năm Giáp Thìn (1424) gia nhập nghĩa nghĩa quân Lê Lợi, năm Àt Tỵ (1425) thi đậu thủ khoa cử nhân võ được phong là Thiết Đột Quân đến năm Quý Hợi được phong Cấm Vệ Quân đến năm Quý được phong là Đề Hạt năm Canh Thìn được phong Quả

Cảm Tướng Quân hoặc là Thượng Sỹ. Ngài là Thuỷ Tổ Đại Chi Nguyễn Triệu Cơ Quỳnh Đôi thời nào cũng có những danh nhân nỗi tiếng. Thời phong kiến có Nguyễn Trạch đời thứ 5 trúng cử tuyển võ nghệ nhập quân Mạc, phò 4 đời vua Mạc được phong Phụ Quốc Tướng quân, tước Đoạn Trường Đỏ và được truy phong “ Kiến Võ Hầu”. Con cháu cụ mấy đời đều đậu Tú Tai như Nguyễn Sơn, Nguyễn Thời Bá, Nguyễn Thời Tự (Vũ), Nguyễn Đàn...Cụ Nguyễn Hữu Chỉnh là cụ Tổ của một dòng họ Nguyễn Triệu Cơ lớn ở Hà Tĩnh và Hà Tây là một danh nho (Hương Cống), nhà thơ, là một danh tướng trong thời loạn giúp Tây Sơn dẹp được Chúa Trịnh, lấy vợ cho vua Quang Trung, được cả 2 vua cùng phong Tước Quận Bằng Nguyễn Hữu Chỉnh. Nguyễn Tiên Công đậu Phó bảng. Nguyễn Thịnh đậu Hương Cống. Nguyễn Tri Chỉ chức Đồng Tri phủ. Nguyễn Tri Giai đậu tiến sỹ vào năm 1844 sau đổi lại họ tên là Văn Đức Khuê.(ông Tổ họ Văn). Nguyễn Tông Lai thượng thư Bộ Lại. Sinh Đồ Nguyễn Đoài giữ chức Thái Uý kiêm Võ Bá Tông Tri. Nguyễn Đoài sinh ra ông Yến Vũ giữ chức Thiên hộ Quốc Lão, Nguyễn Bật làm chức Trưởng thanh tra tài chính, Nguyễn Tịnh tự Đôn Phúc danh Nguyễn Tam Lang là cựu chức dịch sinh ra Nguyễn Trung Trực thủ lĩnh phong trào khởi nghĩa chống Pháp vào nửa cuối thế kỷ 19 ở Nam Bộ, Nguyễn Tông Giảng đậu Phó Bảng tuần phủ Kinh Bắc và Khâm sai 5 xứ Tây Bắc, Bắc Giang, Thái Nguyên, Tuyên Quang, Văn Mộ, Hưng Hóa. Nguyễn Tông Tự năm Mậu Thìn đậu Hương Cống thụ chức Tri phủ Thước Châu, Nguyễn Thê đậu Hương Cống thụ chức huấn đạo. Cử nhân Nguyễn Danh Kiều, Nguyễn Thế Mỹ, Tú Tài Nguyễn Danh Hoà, Nguyễn Trí Dũng, Nguyễn Như Lan... Sau cách mạng tháng 8 dòng họ này cũng lắm người tài như giáo sư Nguyễn Nhật Tiến, học vi có Tiến Sỹ Nguyễn Xuân Mạnh, Tiễn Sỹ Nguyễn Danh Đạt, Tiến sỹ Nguyễn Dương, có nhiều cán bộ trung cao cấp, Đại Tá trong quân đội.

Thiên Mã thứ 3 là cụ Nguyễn Lai (P^^) sinh năm Canh Ngọ (1390) lúc thiếu thời khỏe mạnh và thông minh thao lược võ nghệ, lớn lên trốn nhà gia nhập quân Hồ Hán Thương chống quân Minh xâm lược. Nguyễn Lai làm quan

3   triều đại Hồ, Hậu Trần, Lê Sơ trong cuộc kháng chiến cống giặc Minh và bọn xâm lươc. Dưới triều nhà Hồ giữ chức Đội trưởng, Hậu Trần giữ chức Đô Tổng Quản, năm Giáp Dần (1433) được Lê Tháí Tông phong chức Tổng Quản Quân Lương. Ngày 3 tháng 10 năm Kỷ Mùi (1439) hy sinh trong chiến đấu tại vùng Thanh Nghệ hưởng thọ 49 tuổi và được truy phong Thống Đốc Tổng Quản Quân Lương. Ngài Nguyễn Lai lấy bà Hoàng thị Tuệ con gái cụ Hoàng Khánh, sinh ra Nguyễn Lâm về sau là Đức Khởi Tổ Đại Chi Nguyễn Triệu Cơ Sơn Bằng. Nguyễn Lâm thông minh hiểu biết sâu rộng đỗ đạt cao năm 1440 được vua Lê Thái Tông phong chức Thủy Thống Đốc làm quan trong triều chính, năm 1470 được bổ làm quan Tổng Đốc Tổng Quản Quân Thủy ở Thuận An đến năm 77 tuổi mới nghỉ hưu sống thọ 89 tuổi. Đại Chi Nguyễn Triệu Cơ Sơn Bằng là một dòng họ lớn trong thời phong kiến đời nào các bậc tài giỏi nối nhau kế xuất khoa bảng. Quan Viên Tôn Nguyễn Chanh đậu Tam trường giữ chức xã trưởng có cháu Nguyễn Năng Võ đậu Hương Cống được bổ chức Ngự Y Hầu Đại Sứ Viện được truy phong Hoàng Tín Đại Phu Thái Y Viện Đại Sứ. Nguyễn Hồng em cụ Chanh đậu Sinh đồ cha Nguyễn Sản vị khoa bảng đầu tiên của dòng họ đậu Cử nhân võ giữ chức Chánh Vệ Úy sau giữ chức Đô Ngự Sử, Nguyễn Năng Chính giữ chức Phó Sở Sở Sứ, Nguyễn Năng Nho đậu Hương Cống giữ chức Tri Phủ tước Hầu Phủ Trường Khánh, Nguyễn Công Sắc Cử nhân võ, Nguyễn Năng Liêm đậu Cử nhân giữ chức Tri Phủ Trường Khánh, Nguyễn Văn Vận đậu Tam Trương giữ chức Chánh Tông thầy thuốc chữa bệnh cho Hoàng Gia được phong Tước Nam Minh Đạo Y, Nguyễn Khắc Tiệp đậu Hương Cống vua Trần Hiển Tông phong chức tri huyện, Nguyễn Ánh đậu Hương Cống giữ chức Tri Phủ Trường Khánh, Nguyễn Tôn Phái đậu Hương Cống giữ chức Tri Phủ Trường Khánh, Nguyễn Huy Bành Tam trường, dạy học, Nguyễn Đức Châu Hiệu sinh đầu xứ, thầy thuốc được Triều Nguyễn phong Tước hiệu Bàng Thái Y Viện, Nguyễn Đào Quý đậu Tú tài làm thầy thuốc, Nguyễn Năng Định đậu Nhị Trường Thủ lĩnh Ngĩa Binh Hữu Bằng chống Pháp, nhà thơ danh nhân văn hoá Hà Tĩnh, Nguyễn Sơn Cử nhân, UVUB kháng chiến Nam bộ, tướng trong quân đội, Trưởng ban kinh tế tỉnh ủy... Sau cách mạng tháng 8 phần đông con cháu được học hành, phục vụ tổ quốc và tham gia hoạt động xã hội có 21 Giáo Sư, Phó giáo sư, tiến sỹ, thạc sỹ và trên 154 kiến trúc sư, kỹ sư, cử nhân và hàn trăm cao đẳng giáo viên và 30 tướng tá trong quân đội và an ninh.

Thiên Mã thứ 4 cụ Nguyễn Lam tức Láng sinh năm Quý Dậu (1393) lớn lên vừa cày cấy và luyện võ nghệ năm Đinh Mùi (1427)nhập quân Lê Lợi giữ chức Tả Đột Quân (quả đấm thép) ở Thanh Nghệ Tĩnh.

Thiên Mã thứ 5 cụ Nguyễn Huyên “ Hưng” con út cụ Thạc người tráng kiện, giỏi võ nghệ năm Đinh Dậu 1417 giữ chức Phó Tổng Quản Truy Sát cầm quân đánh giặc giữa Thanh Nghệ. Con trai đầu của cụ là Nguyễn Hương được bổ làm quan sống cuối năm Canh Tý 1480 và cháu Nguyễn Sơn lúc 51 tuổi sau khi cha tử trận được nhậm chức cha để rửa thù.

Cụ Nguyễn Hàn sinh năm Àt Hợi 1395,lớn lên vừa cày cấy. Sau khi đánh đuổi được giặc Minh hướng ứng lời kêu gọi của triều đình cụ đưa vợ con vào miệt trong khai khẩn mở mang bờ cỏi vè Nam.

2.4 Chú thích

(1)   Nguyễn Luật

Nguyễn Công Luật(? - 1388) là một vị quan đời nhà Trần; hậu duệ đời thứ 7 của Định Quốc Công Nguyễn Bặc. Ông là con trưởng của Bình Nam Đại Tướng Quân Nguyễn Nạp Hòa. Ông làm quan dưới hai triều vua Trần Duệ Tông (1374

-    1377) và vua Trần Phế Đế (1377 - 1388). Ông từng nắm giữ các chức quan Giám Quân Thiên Trường, Hữu Hiệu Điểm, v.v... Năm 1388, Trần Phế Đế mưu tính với Trang Định Vương Trần Ngạc ngầm giết Hồ Quý Ly để trừ hậu họa. Việc này bị bại lộ, Hồ Quý Ly lấy cớ Trần Phế Đế đã giết Ngự Câu Vương Trần Húc (con của Thượng Hoàng Nghệ Tông), để xin Nghệ Tông lập vua khác. Trần Phế Đế bị Thượng Hoàng giáng xuống làm Minh Đức Đại Vương. Sau đó Phế Đế bị hại thắt cổ chết ở phủ Thái Dương. Những người theo Trần Phế Đế trong đó có Nguyễn Công Luật đều bị hại. Ông bị giết theo Phế Đế vào năm Mậu Thìn (1388). Ông có ba người con trai là Nguyễn Sách, Nguyễn Hổ và Nguyễn Minh Du.

(1)   Thiết Hổ Nguyễn Minh Du

Ngài húy là Nguyễn Minh Du con thứ ba của Hữu Hiệu Điểm Nguyễn Công Luật ngài cùng hai anh là Nguyễn Công Sách và Nguyẽn Hách đều làm quan dưới triều Trần Phế Đế. Theo “Đại Việt Sử Ký Toàn Thư”, Nguyễn Bát Sách là người là người cùng vú nuôi với Trần Phế Đế nên có tên là Nguyễn Thánh Du. Như vậy chứng tỏ thân sinh ngài là tướng thân cận với Hoàng gia. Cũng theo Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, khi vua Duệ Tông tử trận vào năm Đinh Tỵ (1377), người con trưởng của nhà vua được Thượng Hoàng Nghệ Tông đưa lên ngôi mà sau này sử ghi là Trần Phế Đế. Qua năm sau, Mậu ngọ (1378), Trần Phế Đế cho người có cùng nhũ mẫu với mình là Nguyễn Bát Sách làm Quân quân thiết sang và hai em của Nguyễn Bát Sách là Nguyễn Hách làm Quản quân thiết liêm và Nguyễn Thánh Du làm Quản quân thiết hổ. Các gia phả đều ghi Nguyễn Bát Sách là Nguyễn Công Sách. Nguyễn Thánh Du là Nguyễn Minh Du. Trong vụ thảm sát Trần Phế Đế năm Mậu Thìn (1388), ngài bị bắt. Sau đó ngài bị Hồ Quý Ly giết vào năm Canh ngọ (1390). Có thuyết cho rằng ngài trốn thoát được và về Thanh Hóa mai danh ẩn tích. Về gia đình, chỉ biết ngài có ba người con trai là Nguyễn Sùng, Nguyễn Thư và Nguyễn Biện.

(5)   Nguyễn Hàn Thuyên

Quê gốc cụ Thạc ở bên bờ sông Hàn có tên thôn Hàn Huyên thuộc phủ Nam Sách. Tôi đã hai chuyến đi về Nam Sách Hải Dương tìm thôn Hàn Huyên nhưng không thấy, ở đó chỉ có thôn Hàn Thuyên nằm trên bờ sông Hàn nay nằm trong thành phố Hải Dương có đền thờ cụ Hàn Thuyên. Hỏi các cụ ở địa phương thì họ lý giải, chữ Thuyên và chữ Huyên cùng âm “uyên” có thể con cháu nghe nhầm ghi là thôn Hàn Huyên. Sự tích về cụ Hàn Thuyên cả nước ai cũng biết. Nguyễn Hàn Thuyên có tên Nguyễn Thuyên là con cháu họ Nguyễn Gia Miêu quê làng Lai Hạ huyện Thanh Lâm châu Nam Sách bên bờ Sông Hàn đậu tiến sỹ vào năm 1247 làm quan Thượng Thư Bộ hình thời Trần Thánh Tông. Ông là người giỏi thơ Nôm, là người phát tiển và phổ biến chữ Nôm. Cụ có công lao lớn được vua nhà Trần ban tên là Hàn Thuyên có nghĩa là ông Thuyên bên bờ sông Hàn như dân ta sau này thường gọi cụ Phan Bội Châu là ông già Bến Ngự. Sau khi cụ mất, để tướng nhớ người có công lớn với nước với dân làng, địa phương đã lập đền thờ cụ gọi là đền Hàn Thuyên và đặt tên làng là làng Hàn Thuyên. Cũng có thể cụ Thủy tổ Nguyễn Thạc cùng dòng họ với cụ Hàn Thuyên ở vùng này cũng là người tài giỏi có đức độ nên cũng được dân làng suy tôn Hàn Thạc như vua đã từng ban tên cho Nguyễn Thuyên.

(6)   Minh Cảo nay là xã Quỳnh Minh và xã Quỳnh Lương huyện Quỳnh Lưu.

(7)   Xuân Úc nay là xã Quỳnh Liên.