CÁC ĐẠI TÔN TRONG ĐẠI TỘC NGUYỄN TRIỆU CƠ

CHƯƠNG 3.

CÁC ĐẠI TÔN TRONG ĐẠI TỘC NGUYỄN TRIỆU CƠ

  1. Đại tôn Nguyễn Triệu Cơ Quỳnh Bảng

Thủy Tổ Đại Tôn Nguyễn Triệu Cơ Quỳnh Bảng là cụ Nguyễn Tĩnh tự Khánh Duệ có biệt danh là Duệ sinh năm Bính Dần (1386) con thứ 2 của Đức Khởi Thủy Tổ Nguyễn Thạc anh Nguyễn Tu, Nguyễn Lai, Nguyễn Láng, Nguyễn Hàn, Nguyễn Huyên. Ông có công đánh dẹp Tàu Ô được phong làm Đô Đốc Tổng Quản. Sau khi hy sinh được truy phong Thống Đốc Quận Công hưởng thọ 49 tuổi. Vợ có tên tục là Thúy năm Giáp Ngọ sinh con trai tên Nguyễn Vĩnh, một con gái chưa rõ tục danh, đến tuổi trung niên sinh Nguyễn Tuấn, có biệt danh An. Mộ ông bà chôn cất ở Phú Đa thôn Nghĩa Lý. Con cháu mất liên lạc đến 3,

  1. đời sau mới nối lại quan hệ tổ tiên.

 

 

  1. Các chi

Cụ Nguyễn Phú Lương là cháu 4 đời cụ Nguyễn Khánh Duệ sinh ra và lớn lên thời Lê Mạc Trịnh Nguyễn phân tranh nên ông theo đường binh nghiệp sau là một tướng quân. Ông là ông tổ của dòng họ Nguyễn ở Bình Định. Theo Gia phả của phái đèo ngang Dương Liễu thì quê quán cụ ở Đại Nam Quốc, Nghệ An Thừa Thiên Diễn Châu phủ Quỳnh Lưu quận, nguyên Hương cần xã, Cần Miếu thôn. Đã nhập họ An Hòa Hầu Triệu Cơ Nguyễn Thạc vào ngày 1 tháng 12 năm 2009; nay mới chắp nối được 3 chi.

  • Chi 1 Nguyễn Đại Lang
  • Chi 2 Phù Mỹ Bình Định
  • Chi 3 Nguyễn Phúc Hoán ở Phương Cần Quỳnh Lưu Nghệ An.

ĐÒI THỨ 5

  1. Nhánh Nguyễn Chính Đạo

Chưa có thông tin về gia thế. Cụ Nguyễn Đại Lang tự Phổ Quang Phủ Quân là con thứ 3 cụ Nguyễn Phúc An. Cụ có 3 con trai, con đầu tên là Xức (Hội Tâm), con thứ 2 tên Thục (Phúc Lợi) mất sớm. Con út là ông Bằng (Phúc Nghiêm).

  1. Nhánh Nguyễn Phổ Quang

Đời thứ 6 Cụ Nguyễn Bàng tự Phúc Nghiêm con thứ 3 cụ Nguyễn Phổ Quang hy sinh khi đánh giặc. Ông có 4 con trai Nguyễn Huyết, Nguyễn Sỹ (từ Đạo Thông), Nguyễn Nho (Phúc Khuông), Nguyễn Phúc Tin.

Đến đời thứ 7 con cụ Nguyễn Phúc Nghiêm ở Quỳnh Bảng chia thành 2 Trung chi.

  1. Trung chi 1 ông tổ là Nguyễn Sỹ

Cụ Nguyễn Sỹ có 8 con trai: Nguyễn Phúc Tường, Nguyễn Phúc Bàng, Nguyễn Mạo, Nguyễn Tam Lang, Nguyễn Vật, Nguyễn Phúc Hải, Nguyễn Thanh, Nguyễn Liêm Công.

  1. Trung chi 2 ông tổ là Nguyễn Nho

Cụ Nguyễn Nho tự Phúc Khuông có con là Trung Chất có con là Nguyễn Cấp và 5 cháu trai là Nguyễn Bật, Nguyễn Đức Tiến, Nguyễn Hạp, Nguyễn Thán, Nguyễn Tô. Còn cụ Nguyễn Huyết có con là Nguyễn Thám chưa có thông tin.

  1. Trung chi 3 phân chi 3 Thanh Hóa

Cụ Nguyễn Văn Thọ hậu duệ Nguyễn Phúc Hoán thi đậu tam trường về dạy học dẫn 3 con trong đó có ông Thiện đã 44 tuổi vào ấp Tây Sơn Bình Đinh để theo Nguyễn Huệ. Theo chỉ dụ của Tây Sơn ông mở Văn Trường Giáo Huấn nên ông có nhiều đồ đệ khắp vùng Thuận Quảng. Con là Nguyễn Thiện được Nguyễn Huệ phong Chỉ Huy Soái Bắc Tướng Công và sau được cấp trại ở Yên Mỹ thuộc Chánh Hảo, Quảng Đông, Quảng Xương Thanh Hóa được vua Minh Mạng phong thành hoàng làng Chánh Hảo.

  1. Trung chi 4 Nguyễn Trọng Công tự Văn Truyền thuộc phái Phương Cần
  1. Về truyền thống khoa bảng

Trong thời phong kiến có 11 vị tướng trung quân ái quốc. Nguyễn Đức Thạc con ông Nguyễn Phúc Liên (Trử) có công lớn nên trong 14 tháng được vua phong 2 sắc rồng. Ông Nguyễn Hằng (Nguyên) con ông Thuần Mỹ là Phó Đô Thống Chế. Nguyễn Tri Phương tự Hàm Trinh hiệu Đường Xuyên (tên khai sinh là Nguyễn Chương), sinh ngày 21 tháng 7 năm canh thân (9-9-1800) là con ông Nguyễn Văn Đãng thuộc Phái Đèo Ngang - Dương Liễu. Nguyễn Tri Phương(26) là tên vua Tự Đức ban cho năm 1850, tên thực của ông là Nguyễn Văn Chương, sinh ngày 21 tháng 7 năm canh thân, tại làng Đường Long, tổng Chánh Lộc, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên. Ông từng khai hoang, lập ấp, từng vượt biển sang Tàu, Philipines, Singapore, Ân Độ để “làm việc công” (công cán), lại từng cầm quân xuôi ngược Bắc, Nam, Cămpuchia đánh giặc Khách, Xiêm, Miên, Pháp, Tây Ban Nha, công cao đức cả rạng danh đệ nhất huân thần: Trí Dũng tướng, Trang Liệt bá, Thái Tử Thái Bảo, Võ Hiển Đại Học Sỹ mà vẫn là người chỉ một lòng vì nước, chí công vô tư, suốt đời thanh bạch. Năm 1858, Nguyễn Tri Phương - Tổng Thống Quân Thứ Quảng Nam chủ trương đánh dằng dai, đã đánh bại chiến lược của tướng Pháp Rigault de Genouilly mưu chiếm Huế. Nguyễn Tri Phương, Tổng Thống Quân Thứ Gia Định giao chiến với Pháp tại Chí Hòa bị trọng thương. Tán lý Nguyễn Duy, em ông tử trận. Tháng 8 năm 1872 ông được phái ra Bắc theo lệnh vua Tự Đức, ngày 27-5-1873 ông về giữ thành Hà Nội, quân Pháp kéo đến đánh úp, Nguyễn Tri Phương bị trọng thương, Phò mã Nguyễn Lâm tử trận. Thành Hà Nội thất thủ. Từ ngày ấy ông tuyệt thực, chối từ băng bó, đến ngày 1 tháng 11 năm quý dậu (20- 12-1873) ông tử tiết. Mộ ông lúc đầu ở Bửu Hòa Biên Hòa sau đưa về quê làng Chí Long, Phong Điền, Thừa Thiên. Ngày nay con cháu cụ Duệ cũng lắm người có học hàm học vị tỉ như Phó Giáo Sư Nguyễn Thường Ngô hậu duệ của danh nhân Nguyễn Tri Phương.

  1. Đại Tôn Nguyễn Triệu Cơ Quỳnh Đôi

Thủy tổ Đại Tôn Quỳnh Đôi cụ Nguyễn Tu (Yên, An) sinh năm Mậu Thìn (1388) con trai thứ 3 cụ Nguyễn Thạc em Nguyễn Tĩnh anh các cụ Lai, Láng, Hàn, Huyên. Nguyễn Tu có danh là con Rồng Vàng; Năm Giáp Thìn (1424) năm thứ 7 cuộc khởi nghĩa của Lê Lợi cụ Nguyễn Tu gia nhập nghĩa quân. Năm Àt Tỵ (1425) thi đậu thủ khoa cử nhân võ được phong là Thiết Đột quân tham gia trận đánh quân Minh ở Cửa sông Khuất(25) tiêu diệt 2 vạn quân của Trần Trí Lý An, năm Thuận Thiên thứ 2 đến năm Quý Hợi Lê Nhân Tông năm thứ 2 được phong Cấm Vệ Quân. Lê Nhân Tông năm thứ hai đến năm Quý Dậu Lê Nhân Tông thứ 12 lấy được 4 tòa thành được phong là Đề Hạt. Lê Thánh Tông năm thứ nhất năm Canh Thìn được phong Quả cảm tướng quân hoặc là Thượng sỹ. Ông mất ngày 2 tháng 6 năm Canh Dần triều Lê Thánh Tông năm thứ 10 tại kính thảnh Thăng Long hưởng thọ 82 tuổi mộ đặt tại đỉnh Long Sơn Độ Lộ. Vợ cụ lả bả Trần Thị Biên. Bả sính ra 2 nam 1 nữ. Trưởng nam Nguyễn Huy, thứ nam Nguyễn Xuân còn có tên khác lả Quỹ. Lúc tại triều cụ Tu có lấy 1 thiếp tên lả Mai Chi Linh sinh 2 con trai Nguyễn Phù hoặc Chi vả Nguyễn Phúc Hậu hoặc Truyền vả 1 con gái lấy chồng ở Chí Linh. Khi còn ở kinh đô Thăng Long Nguyễn Tu có bả thiếp Mai Chí Linh sinh hạ 2 nam 1 nữ. Con gái lấy chồng ở xứ Chí Linh, được cha yêu mến cho hưởng lộc đất của Thượng tướng Quận Công. Hai con trai lả Nguyễn Phù vả Nguyễn Phúc Hậu (Truyền) sau khi cha mất đã về quê lập nghiệp.

Đời thứ 3

1.    Quan viên tử (con quan) Nguyễn Văn Huy sinh năm Giáp Ngọ (1414) con trai Thượng sỹ Long Lĩnh Công Nguyễn Tu. Cụ lấy bả Đỗ Thị Châu sinh hạ mười một người con. Con trưởng Nguyễn Sầu mất sớm. Năm Canh Thìn (1460) sinh Nguyễn Bộ. Các con trai Văn Chiến, Văn Tuyên (Nghi) ... đều thất truyền.

2.    Quan viên tử Nguyễn Xuân còn có tên khác lả Quỹ sinh năm Bính Ngọ (1426) lả em Nguyễn Huy lấy vợ lả Nguyễn Thị Thanh sinh 2 nam. Con cả Thuận Hảnh mất sớm; con thứ nam Nguyễn Lân; Ông Xuân với vợ thứ Nguyễn Thị Đảo năm Kỷ Mão (1469) sinh Nguyễn Thị Xuân, sau gả cho nhả họ Hoảng.

3.    Cụ Nguyễn Phù (hoặc lả Chi) sinh năm Quý Hợi lả con bả Mai Chí Linh lả thiếp cụ Nguyễn Tu (Yên). Đến năm Tân Mão cụ trở về quê lập nghiệp ở ven sông Độ Lộ (Đò Lội) nơi Nguyễn Tu lập chùa (đền) “TrầnLưu quận”.

4.    Cụ Nguyễn Phúc Hậu hoặc Truyền sinh năm Bính Ngọ (1426) con bả Mai Chí Linh lả thiếp của cụ Nguyễn Tu (Yên, An) cụ về quê cha rồi chuyển nhả đến thôn bên cạnh lập nghiệp, sau chiến tranh loạn lạc nên thất truyền.

Đời thứ 4

1.    Cụ Nguyễn Văn Bộ con thứ 2 ông Nguyễn Văn Huy do anh cả mất sớm nên cụ kế trương. Cụ đậu tú tải năm Quý Mão năm thứ 11 triều Lê Trang Tông (1543) thụ chức Hản Lâm Viện Tú Lâm cục. Cụ lấy bả Võ Thị Tư sinh 2 con trai Văn Tịch vả Văn Bạt.

2.    Cụ Nguyễn Công Nghị con thứ cụ Nguyễn Văn Huy vợ người họ Bùi có con trai lả Nguyễn Cổn.

3.    Cụ Nguyễn Lân, thụy lả Phúc, hiệu Mai Khê tiên sinh sinh năm Canh Dần (1470) con thứ cụ Nguyễn Xuân. Cụ đậu tú tải năm Quý Mùi năm thứ 11 Lê Tranh Tông (1543) thụ chức Hản Lâm Viện Đại Chiếu lấy bả Hồ Thị Đông sinh 3 con gái vả 3 con trai Nguyễn Trạch, Nguyễn Bửu (Bùi) sinh năm Kỷ Tỵ, Nguyễn Hưởng sinh năm Nhâm Thân. Cụ Nguyễn Hưởng lấy bả Hoảng Thị Đông cùng tuổi sinh 1 con trai 2 con gái. Về sau ông Hưởng đi đâu không rõ.

4.    Ngải Nguyễn Văn Tịch con cụ Nguyễn Bộ cháu cụ Huy chắt cụ Tu lả cụ tổ của các chi 1,2,3. Cụ lả Đạo Sĩ húy Văn Tịch tự Đạo Thảnh, Thụy Pháp Thắng; lấy bả Hồ Thị Nghị sinh 3 con trai lả các ông tổ của 3 trung chi 1,2,3.

5.   Ngài Nguyễn Văn Bạt húy là Trạt thụy Phúc Quang con cụ Nguyễn Bộ cháu cụ Huy chắt cụ Tu lấy bà Hồ Thị Luận sinh 3 con trai. Cụ là ông tổ của chi

4      cũng là ông tổ trung chi 4.

6.   Ngài Nguyễn Cổn con cụNguyễn Công Nghị cháu cụ Nguyễn Văn Huy chắt cụ Tu. Cụ là cụ tổ chi 5.

7.   Ngài Nguyễn Trạch tên chữ là Phúc Đạt sinh năm Quý Hợi con đầu Tú tài Nguyễn Lân. Cụ là cụ tổ chi 6,7,8. Cụ Trạch đậu tú tài làm tướng được phong Phụ quốc Thượng tướng quân, tước Đoạn Trường Đỏ và truy phong Kiến Võ Hầu. Cụ Trạch lấy bà Lê Thị Xuyên người ở tổng Hoàng Mai sinh 2 con gái Nguyễn Thị Xuân, Nguyễn Thị Thanh đều lấy chồng người họ Hồ và 4 con trai cụ Nguyễn Phụ là cụ tổ chi thứ 6, cụ Nguyễn Sơn cụ tổ chi thứ 7, cụ Nguyễn Bá, cụ Nguyễn Thời Vụ là cụ tổ chi thứ 8 nay ở xã Kim Cốc Tĩnh Gia Thanh Hóa. Cụ Trạch mất ngày 15 tháng 3 năm Mậu Dần.

8.   Ngài Nguyễn Bùi thụy là Chính Giác sinh năm Kỷ Tỵ con thứ 2 Tú tài Nguyễn Lân cụ là cụ tổ chi 9 hiện ở Cửa Lò. Cụ lấy bà Hồ Thị Hạnh cùng tuổi sinh được 2 con trai 3 con gái.

Ngài Nguyễn Hưởng sinh năm Nhâm Thân con thứ 3 Tú Tài Nguyễn Lân. Cụ Hưởng sinh ra chi 10. Cụ lấy bà Hoàng Thị Đông cùng tuổi. Ông bà sinh được 1 con trai 2 con gái. Về sau ông Hưởng đi đâu không rõ.

Đời thứ 5 phân ra các chi Tông đồ Đại tộn Nguyễn Triệu Cơ Quỳnh Đôi Nguyễn Thạc

Đến đời thứ 6 hình thành 10 chi:

Chi 1 con cháu cụ Nguyễn Lội con cụ Nguyễn Tịch

Chi 2 con cháu Ngài NguyễnThế Lộc con thứ 2 cụ Nguyễn Tịch

Chi 3 con cháu Ngài Nguyễn Mai Giang con cụ Nguyễn Tịch

Chi 4 con cháu Ngài Nguyễn Bạt con cụ Nguyễn Bộ

Chi 5 con cháu Ngài Nguyễn Cổn con cụ Nguyễn Công Nghị

Chi 6 con cháu Ngài Nguyễn Phụ con cụ Nguyễn Trạch

Chi 7 con cháu Ngài Nguyễn Sơn con thứ 2 cụ Nguyễn Trạch

Chi 8 (Kim Cốc) con cháu Ngài Nguyễn Thời Vụ con cụ Nguyễn Trạch

Chi 9 (Cửa Lò) con cháu Ngài Nguyễn Bùi con thứ 2 cụ Nguyễn Lân Chi 10 con cháu Ngài Nguyễn Hưởng con thứ 3 cụ Nguyễn Lân

Các chi phân ra các trung chi, các trung chi phân ra các Tiểu chi họ.

3.2.1   về chức sắc khoa bảng

3.2.2   Trung chi 1

Cụ tổ Nguyễn Sòi húy là Lội con cụ Văn Tịch, anh cụ Thế Lộc vợ người họ Hoàng sinh 2 con trai con cả là ông Bàng có 3 tiểu chi:

3.2.2.1     Nguyễn Đào

Có các nhánh: con cháu Nguyễn Quán đời 12 ở Nghi Xuân, Con cháu ông Nguyễn Trọng Giao đời 11 ở Thạch Hà tỉnh Hà Tĩnh; con cháu Nguyễn Triết đời thứ 11 ở Đông Triều Quảng Ninh.

3.2.2.2     Nguyễn Ổi

Còn có con cháu Nguyễn Danh Dinh Đời thứ 12 ở Thanh Hóa.

3.2.2.3     Nguyễn Cam

Em cụ Ổi có là Nguyễn Dõi xiêu bạt ở Xuân Úc Tổng Hoàng Mai nay ở Hoàng Mai năm 1978 con cháu đời 17 mới về Quỳnh Đôi nhận tổ.

3.2.3            Trung chi 2

Cụ tổ Nguyễn Thế Lộc húy là Tài con thứ 2 cụ Văn Tịch, em cụ Sòi. Ngài đỗ sinh đồ khoa Đinh Dậu cùng năm với Nguyễn Sơn (1597). cụ có con trai là Nguyễn Thế Hạ đậu sinh đồ. Trung chi 2 đến đời thứ 9 thứ 10 hình thành 4 tiểu chi:

3.2.3.1     Tiểu chi 1 con cháu ông Nguyễn Thư

3.2.3.2     Tiểu chi 2 con cháu ông Nguyễn Văn Cơ ở QuỳnNghĩa

3.2.3.3     Tiểu chi 3 con cháu ông Nguyễn Thẹt (Thiệt)

3.2.3.4     Tiểu chi 4 con cháu ông Nguyễn Mâu đời thứ 8 tiểu    chi này di cư

vào Hưng Nguyên. Ngoài ra còn có con cháu ở các địa phương khác như con cháu cụ Nguyễn Nhuận đời 14 con cháu ông Cốn đời 16 di cư đến Quảng Cư Yên thành...

3.2.4   Trung chi 3

Cụ tổ Nguyễn Mai Giang con út cụ Văn Tịch. Cụ đậu tú tài năm thứ 20 triều Lê Thế Tông 1597 sin 1 con trai tên là Thịnh đã truyền đến đời 18 con cháu sống ở nhiều địa phương khác nhau và đông hơn ở bản quán. Ông Nguyễn Quang Thiệu đời 15, Nguyễn Xuân Diên đời 15 ở xã Tam Dân huyện Bình Xuyên Vĩnh Phúc, ông Nguyễn Xiển đời thứ 12 con ông Danh Chấn ở huyện Phù Cừ hưng Yên....

3.2.5   Trung chi 4

Cụ tổ Nguyễn Tri Chỉ húy là Muôn con đầu cụ Văn Bạt. Cụ lấy 3 vợ có 6 con trai Tri Thức, Tri Trí, Vinh Tiến,Tri Đích, Tri Viễn và ông Thược. Cụ phụng sự 3 triều Lê Thế Tông, Lê Kính Tông, Lê Thần Tông với các chức Tri Bộ, Tự thừa, Phó Đoan Đồng Tri Phủ ở phủ Đức Quang tĩnh Hà Tĩnh 19 năm. Cụ Tổ Trung chi 4 là Nguyễn Bạt nay đã truyền đến 21 đời; đến đời thứ 7 hình thanh 5 tiểu chi:

3.2.5.1   Tiểu chi 1 Nguyễn Tri Thức

3.2.5.2   Tiểu chi 2 Nguyễn Tri Trí

3.2.5.3   Tiểu chi 3 Nguyễn Vinh Tiến

3.2.5.4   Tiểu chi 4 Nguyễn Tri Đích

3.2.5.5   Tiểu chi 5 Nguyễn Tri Viễn

Nay chỉ còn 3 tiểu chi 1,2,5 còn tiểu chi 3 chỉ đến đời thứ 8 tiểu chi 4 đến đời thứ 9 thì bị suy tàn. Con cháu ở xa tách thành họ có nhà thờ riêng. Các ông Danh Cung Danh Kính con ông Nguyễn Triệu đời thứ 11 ở Hà nội; con cháu ông Tế Nghĩa ở Nam Định.

3.2.6   Trung chi 5

Ông tổ trung chi 5 là cụ Nguyễn Công Nghị đời thứ 4 đến đời thứ 6 hình thành 6 tiểu chi: Tiểu chi 1 Nguyễn Lòng

3.2.6.1   Tiểu chi 2 Nguyễn Thi

3.2.6.2   Tiểu chi 3 Nguyễn Công Quyển

3.2.6.3   Tiểu chi 4 Nguyễn Cày

3.2.6.4   Tiểu chi 5 Nguyễn Vi

3.2.6.5   Tiểu chi 6 Nguyễn Đỗ

Con cháu cụ Nguyễn Công Nghị phân chia thành 4 nhánh họ

-  Nhánh 1 Cụ tổ Nguyễn Phê thường gọi là ông Sướng con đầu ông Nguyễn Cổn

-  Nhánh 2 con cháu cụ Nguyễn Đặc con thứ 2 ông Cổn, gia thế của ông không rõ cháu đời thứ 9 của ông tên là Nguyễn Hữu.

-  Nhánh 3 con cháu cụ Nguyễn Văn Nghi húy là Hân tên thường gọi là Cường con út ông Cổn đậu tú tài năm Tân Sửu (1601) đời vua Lê Kính Tôn (1601) về sau làm nghề dạy học. Con đầu Nguyễn Lòng đi lính chết có con là Thảo. Ông Thảo không có con; con thứ 2 là ông Thị đậu tú tài; con thứ 3 Nguyễn Công

Quyền đậu cử nhân làm tri huyện có con Nguyễn Công Dũng đậu cử nhân không có con; ông Công Cày làm đề lại; con trai thứ 5 là ông Vy con thứ 6 là ông Đỗ cả 3 ông Cày, Vi, Đỗ đều thất lạc.

-   Nhánh 4 con cháu cụ Nguyễn Thảng con thứ 4 ông Cổn ông tổ của dòng họ Nguyễn Triệu Cơ Quỳnh Tiến có con là Nguyễn Công Tiến.

Các ông Nguyễn Phê, Nguyễn Đặc,Nguyễn Hàn (Văn Nghi) Nguyễn Thảng sinh ra con cháu ở Phú Nghĩa (có 4 nhánh nhánh ông Phượng, nhánh ông Chánh, ông Quyền, nhánh ông Thu) ở Quỳnh Tiến, Nam Đàn đã có nhà thờ riêng. Riêng nhánh ở Quỳnh Minh tiểu chi 3 trung chi 5 hiện nay con cháu đã truyền đến đời thứ 19- 20 con cháu ở Quỳnh Hưng, Nghĩa Đàn hàng năm vẫn về tế tổ trung chi và đại tộc.

Theo phả Họ Nguyễn Quỳnh Tiến do cụ Nguyễn Ngọc Chúc biên soạn vào năm Nhâm Tuất 1922 hệ phả từ đời thứ 9 trở về sau thì cụ Đạo An sinh ra cụ Thang Phúc, cụ Thanh Phúc sinh ra cụ Phúc Sinh, cụ Phúc Sinh sinh ra cụ Chân Tính, cụ Chân Tính sinh ra cụ Nguyễn Phú, cụ Nguyễn Phú Nguyễn Phú sinh ra cụ Nguyễn Tinh, cụ Nguyễn Tinh sinh ra cụ Nguyễn Trung Trực đời thứ 14 thủ lĩnh phong trào khởi nghĩa chống Pháp sinh 4 con trai và 3 con gái.

3.2.7   Trung chi 6

Cụ tổ Nguyễn Công Phụ húy là Soạn tự là Công Phụ hiệu Tây Trai con đầu Công thần Nguyễn Trạch anh ruột các ông Nguyễn Sơn Nguyễn Thời Bá, Nguyễn Thời Vũ đậu tú tài vào năm thứ 11 Quang Hưng Lê Thế Tôn(1588) nhờ cha nên được thụ hưởng Hàn Lâm Viện Tú Lâm Cục.

Ông tổ trung chi 6 là Nguyễn Công Phụ đời thứ 4 đến đời thứ 11 hình thành

4   tiểu chi:

3.2.7.1   Tiểu chi 1 Nguyễn Khắc Hòa

3.2.7.2   Tiểu chi 2 Nguyễn Khắc Tán

3.2.7.3   Tiểu chi 3 Nguyễn Khắc Thận

3.2.7.4   Tiểu chi 4 Nguyễn Khắc Tuân

Trưởng trung chi 6 là Ông Nguyễn Đức Thịnh đời 16 hàng năm tế lễ ở nhà trưởng trung chi. Các con cháu hiện ở ngoài địa phương có:

-   Con cháu ông Tú tài Nguyễn Danh Quyên (Kỳ) đời thứ 12 ở Hương Tô, Gia Lạc,Yên Thành.

-   Con cháu ông Nguyễn Quỹ đời thứ 13 ở Mai Các Cao Xá Diễn Châu.

-   Con cháu ông Nguyễn Thiều đời thứ 13 ở Yên Lộc Bình Chánh Quảng Bình. Hiện nay ở quê chỉ còn 2 tiểu chi.

3.2.8   Trung chi 7

Cụ tổ Nguyễn Sơn sinh năm Giáp Thìn con ông Nguyễn Trạch thời vua Lê Trang Tông. Cụ Sơn thi đậu tú tài năm Đinh Dậu năm thứ 2 Lê Thế Tông (1567) được thụ hưởng Hàn Lâm Viện Tú Lâm Cục. Các con cụ đều thành đạt. Ông luôn quan tâm đắc tới dòng tộc, gia phong. Ông đã viết tả lại cội nguồn của cụ Thạc có căn cứ đầy đủ và sự liên quan đến dòng tộc Cụ Hồ Kha. Cụ sinh 3 con trai Nguyễn Đường, Nguyễn Tiến (Triền), Nguyễn Trình.

Ông tổ trung chi 7 Nguyễn Sơn đời thứ 6 đến đời thứ 7 hình thành 3 tiểu chi:

3.2.8.1  Tiểu chi 1 Nguyễn Đường

3.2.8.2  Tiểu chi 2 Nguyễn Triền (Vận)

3.2.8.3  Tiểu chi 3 Nguyễn Trình

Con cháu trung chi 7 đến nay đã truyền đến đời thứ 20. Ông Nguyễn Danh Tuấn Trưởng chi 1 là Trưởng trung chi.

3.2.9         Trung chi 8

Cụ tổ Nguyễn Thời Vũ con thứ 4 ông Trạch đậu Tú tài năm Quý Mão (1603) Lê Kính Tôn. Ông có công cùng với Trần Sũng chiêu tập và lập ra làng Kim Đôi năm 1732 đổi tên thành làng Kim Cốc phủ Tĩnh Gia tỉnh Thanh Hóa) nên được ban chiếu sắc Yên Trung Tôn Thần con cháu đã truyền nhau 24 đời có trên 500 đinh. Chính thất của Ngài ở xã Hộ Độ sinh được ông Tông Đính sau chuyền sang lập làng mới gọi là làng Kim Đôi sau đổi tên là làng Kim Cốc nay là xã Mai Lâm huyện Tĩnh Gia Thanh Hóa. Ông là ông Tổ Trung chi 8 họ Nguyễn Triệu Cơ Quỳnh Đôi ở Tĩnh Gia Thanh Hóa.

-       Con cháu tiểu chi 3 nay sống rải rác trong cả nước.

-       Con cháu Nguyễn Quán đời 14 ở Gia Định nay truyền đến đời thứ 18.

-                 Con cháu ông Nguyễn Tiến Khôi (Mỹ) đời thứ 11 và Trung Xướng đời thứ

11  ở Thanh Giang, Thanh Lương huyện Thanh Chương.

-       Con cháu ông Nguyễn Lệ đời thứ 16 ở ga Yên Vĩnh Bắc Ninh.

Con cháu ở nơi khac có con cháu ông Nguyễn Công đời 14 ở Yên Bái.

3.2.10    Trung chi 9

Cụ tổ Nguyễn Bàu cụ tổ trung chi 9 là Nguyễn Bùi đời thứ 5 con thứ 3 ông Nguyễn Lân. Nguyễn Bàu con đầu ông Nguyễn Bùi vợ người họ Nguyễn sinh con trai có tên là Nguyễn Mạn. Phả cũ có chép ông Nguyễn Thập có 2 người con là Nguyễn Nên và Nguyễn Thường nhưng chỉ có Nguyễn Nên nay có con cháu truyền đến đời 20 con ông Nguyễn Thường chỉ truyền đến đời thứ 3 về sau không có chép lạị nữa. Đến năm 2001 có chi họ ở Cửa Lò tìm về cội nguồn đối chiếu có nhiều đểm giống nhau về tên người đi, địa điểm nhưng khác về thời gian. Và năm 2002 đã chính thức về nhận tổ họ Nguyễn Triệu Cơ Quỳnh Đôi.

Con cháu trung chi 9 nay đã truyền đén đời thứ 20 và có nhà thờ khang trang, con cháu thịnh vượng hình thành 3 tiểu chi.

3.2.11    Trung chi 10

Cụ tổ Nguyễn Khuyến ông tổ trung chi 10 là Nguyễn Hưởng đời thứ 5 con thứ 5 ông Nguyễn Lân.

Nguyễn Khuyến tự Huệ Chân con thứ 2 cụ Nguyễn Hưởng. Ông bà sinh được 1 con trai tên là Nông được truyền đến đời thứ 11 có 2 ông Nguyễn Huy Trứ và Nguyễn Hoặc. Ông Hoặc không có con. Ông Trứ (1759) đời thứ 12 con ông Nguyễn Lúa đỗ Tú tài năm 1782) có con là Nguyễn Thể đến đời thứ 14 có chắt Nguyễn Hữu Lệ ở làng Yên Nhuệ huyện Yên Thành là trưởng nhánh 1 của trung chi 10 về nhận tổ tông.

Con cháu trung chi 10 nay có 2 tiểu chi

3.2.11.1     Tiểu chi 1 ở Yên Thành.

3.2.11.2     Tiểu chi 2 ở Phú Thọ, Hải Phòng, Nam Định, Thành phố Vinh.

3.2.12   về chức sắc khoa bảng

Đại Tôn Nguyễn Triệu Cơ Quỳnh Đôi là một trong 3 dòng họ lớn ở Quỳnh Đôi Nguyễn - Hoàng - Hồ thời nào cũng có những danh nhân nỗi tiến. Nguyễn Trạch đời thứ 5 trúng cử tuyển võ nghệ nhập quân Mạc, phò 4 đời vua Mạc được phong Phụ Quốc Tướng quân, tước Đoạn Trường Đỏ và được truy phong “Kiến võ hầu”. Con cháu cụ mấy đời đều đậu Tú Tai như Nguyễn Sơn, Nguyễn Thời Bá, Nguyễn Thời Tự (Vũ), Nguyễn Đàn...

Cụ Nguyễn Hữu Chỉnh là cụ Tổ của một dòng họ Nguyễn Triệu Cơ lớn ở Hà Tĩnh và Hà Tây là một danh nho (Hương Cống), nhà thơ, là một danh tướng trong thời loạn dẹp được Chúa Trịnh, lấy vợ cho vua Quang Trung, được cả 2 vua cùng phong Tước Quận Bằng Nguyễn Hữu Chỉnh. Cụ được vua Quang Trung trả ơn bằng cách bỏ rơi dồn ép chống lại rồi bị Vũ Văn Nhậm giết. Mộ cụ nay được đặt trang nghiêm trong nghĩa trang Họ Nguyễn Triệu Cơ Quỳnh Đôi. Nguyễn Tiên Công đậu Phó bảng. Nguyễn Thịnh đậu Hương Cống. Nguyễn Thịnh đậu Hương Cống. Nguyễn Tri Chỉ chức Đồng Tri phủ. Nguyễn Tri Giai đậu tiến sỹ vào năm 1844 sau đổi lại họ tên là Văn Đức Khuê.(ông tổ họ Văn). Nguyễn Tông Lai thượng thư Bộ Lại. Sinh Đồ Nguyễn Đoàigiữ chức Thái Uý kiêm Võ Bá Tông TRiNguyễn Đoài Ông Yến Vũ giữ chức Thiên hộ Quốc Lão, Nguyễn Bật làm chức Trưởng thanh tra tài chính Nguyễn Tông Giảng đậu Phó Bảng tuần phủ Kinh Bắc và Khâm sai 5 xứ Tây Nắc, Bắc Giang, Thái Nguyên, Tuyên Quang, Văn Mộ, Hưng Hóa. Nguyễn Tông Tự năm Mậu Thìn đậu Hương Cống thụ chức Tri phủ Thước Châu, Nguyễn Thê đậu Hương Cống thụ chức huấn đạo. Nguyễn Tông Tô đỗ Hương cống. Nguyễn Quý Yêm đậu Giải Nguyên giữ chức Huấn đạo Nông Cống. Nguyễn Công Quyền đậu Hương Cống, Nguyễn Trung Trực con cụ Nguyễn Tinh là thủ lĩnh phong trào khởi nghĩa chống Pháp ....Sau cách mạng nhiều con cháu có hoc vị học hàm,tiến sỹ thạc sỹ cử nhân, kỹ sư, cán bộ cao cấp và sỹ quan quân đội.

 

3.3       Đại Tôn Nguyễn Lâm Họ Nguyễn Sơn Bằng

Tiền thế tổ Thống ĐốcTổng quản Nguyễn Lai sở dĩ gọi ngài như thế bởi ngài là cha Đức Khởi Tổ Nguyễn Lâm. Theo bản tiền phả Đại tộc Nguyễn Triệu Cơ làng Quỳnh Đôi thì cụ Nguyễn Lai (PS là Tam Thế Tổ sinh năm Canh Ngọ (1390) dưới triều Trần Thuận Tông (1388 - 1389) con thứ 4 của ngài Nguyễn Thạc. Cụ làm quan 3 triều Nhà Hồ, Hậu Trần, Lê Sơ. Trong cuộc kháng chiến chống giặc Minh giữ các chức Đội trưởng, Đô Tổng Quản, Thống đốc Tổng quản. Cụ lấy bà Hoàng Thi Tuệ cùng tuổi con thứ 3 cụ Hoàng Khánh con trai đầu Nguễn Lâm con thứ 2 Nguyễn Thủy mất lúc 10 tuổi và Nguyễn Thị Lương lấy chồng ở Trung Thanh. Cụ Lai hy sinh ngày 10 tháng 10 năm 1439 linh cữu được triều đình đưa về quê vợ an táng. Bà Hoàng Thị Tuệ mất vào ngày 10 tháng

11 năm Canh Thân (1440) được hợp táng phía Bắc chùa Bờ Gương và mộ cụ Hoàng Khánh ở Thanh Lương Nghĩa Lý.

Đời thứ 1 Thống Đốc Tổng quản quân Thủy Nguyễn Lâm (P^ ^) sinh năm Giáp Ngọ (1414) là con trai đầu Thống Đốc Tổng quản Nguyễn Lai. Cụ Lâm là Đức Khởi Tổ Đại Tôn Nguyễn Triệu Cơ Thanh Uyên thường gọi Họ Nguyễn Sơn Bằng. Cụ có 2 vợ và 1 thiếp. Vợ cả là bà Nguyễn Thị Nhị Nương tên thường gọi là Nguyễn Thị Loan con gái thứ 2 của một gia đình vọng tộc ở làng Thanh Minh nay là xã Quỳnh Lập cùng tuổi với chồng sinh 1 con trai 1 con gái. Bà thiếp lấy khi còn làm quan ở triều sinh 2 con trai không rõ tên. Bà Hoàng Thị Tâm quê chợ Đông Ba (Huế) sinh 3 con trai 1 con gái. Các con trai cụ Nguyễn Lâm

1.    Nguyễn Dư sinh năm 1437 (Đinh Tỵ) con bà Loan

2.    Nguyễn Đôi sinh năm 1472 con bà Tâm

3.    Nguyễn Trương Đa hoặc Trường sinh năm 1474 con bà Tâm

4.    Nguyễn Đình hoặc Mai sinh năm 1476 con bà Tâm. Hai con bà thiếp không rõ tên tuổi và 2 người con gái, con bà Loan lấy chồng quê ngoại, bà Trúc sinh năm 1478 con bà Tâm không biết lấy chồng họ nào. Cụ Lâm mất ngày 30 tháng

4  năm Quý Hợi 1503 thọ 89 tuổi mộ chôn tại đồng bờ Gương thôn Đa Kỳ Nội Đa kỳ Ngoại đầu hướng bắc bi mộ bằng đá ghi tên Khuất Lâm Lai Trần Lưu Quận(1).

Đời thứ 2 Thủy Tổ Nguyễn Dư (PS fậ) húy là Dụ sinh năm Đinh Tỵ -1437 (theo lời cụ Lâm tự sự trong bản Tiền phả Đại tộc Nguyễn Triệu Cơ làng Quỳnh Đôi) tại thôn Thanh Minh nay là xã Quỳnh Lập huyện Quỳnh Lưu Tỉnh Nghệ An, con trai đầu Thống Đốc Tổng quản Quân Thủy Nguyễn Lâm vợ là bà Nguyễn Thị Nhạ sinh 5 con trai va 1 con gai theo thứ bậc.

1.    Nguyễn Chanh

2.    Nguyễn Hông

3.    Nguyễn My (chết sớm)

4.    Nguyễn Xan (chết sớm) Dùng Chiến thuật “Vây thành diệt viện” “mưu phạt nhị tâm công”của Lê Lợi Nguyễn Trãi

5.    Nguyễn Chất (chết sớm)

6.    Nguyễn Thị Bông con thứ 2 chết sớm hồn thiêng hễ ai ốm đau đến miếu khấn là khỏi bệnh nhân dân Giáp Thanh Uyên phong bà là thành hoàng, năm 1744 vua Lê Hiến Tông hiệu Cảnh Hưng 44 phong thần “Nhất đẳng chúa sinh thần nữ Nguyễn Thị Hoa Nương” Bà là Quốc thần trước thờ ở Đền Bà đình làng Yên Nghĩa nay thờ tại chùa Phúc Lai.

Vào đời thứ 3 tức là đời thứ 4 của Đại Tộc phân chia lần đầu thành 2 chi: Chi Đại Tôn thường gọi là Cửa Đại Tôn cụ tổ là cụ Nguyễn Chanh con đầu Thủy Tổ Nguyễn Dư; Chi Thứ tôn thường gọi là Cửa Thứ Tôn cụ Tổ là cụ Nguyễn Hồng con thứ 2 Thủy Tổ Nguyễn Dư.

-   Trung Chi họ có họ còn gọi là Phái là kết quả phân chia lần thứ 2 từ mỗi Chi Họ, có 7 Trung Chi thất truyền 2 trung chi 6 và 7 còn lại 5 Trung Chi.

-   Tiểu Chi họ còn gọi là Tiểu tôn là sự phân chia lần thứ 3 trong mỗi Trung Chi do con, hoặc cháu...của cụ Tổ Trung Chi làm cụ Tổ Tiểu Chi, có 17 Tiểu Chi thất truyền 7 Tiểu chi nay còn 10 Tiểu Chi.

-   Nhánh họ có nơi còn gọi là Cửa họ, là sự phân chia lần thứ 4 từ mỗi một Tiểu Chi, số lượng tiểu chi phụ thuộc số con của các cụ Tổ Tiểu Chi sinh ra,cả Đại tôn có 17 nhánh có 3 nhánh vô tự, thất tích nay chỉ còn 14 Nhánh họ.

-   Chi nhánh họ là kết quả phân chia lần thứ 5 từ mỗi Nhánh họ có 32 chi nhánh họ, vô tự thất truyền 5 còn 27 Chi nhánh

-   Tiểu Chi Nhánh là kết quả phân chia lần thứ 6 từ mỗi Chi Nhánh phân ra các Tiểu Chi

nhánh họ. Tiểu Chi Nhánh thì nhiều nhưng phần đông cơ cấu chưa ổn định lâu nhất cũng chỉ mới 4 đời.

Tôi có thể tóm lược hệ phả từ trung chi tở xuống như sau.

3.3.1       Trung chi 1 cụ Tổ Nguyễn Năng Kính

Cụ có 4 con trai con Nguyễn Quán Thì Nguyễn Triền, Nguyễn Doãn, Nguyễn Dật, Nguyễn

Đình Tài phân ra 4 Tiểu Chi họ trong đó có 1 tiểu chi vô tự

3.3.1.1Tiểu chi 1 Nguyễn Triền

Cụ Nguyễn Triền sinh cụ Nguyễn Văn Vận và 5 con trai 4 con gái mất sớm. Cụ Vận sinh 6 con trai hình thành 6 nhánh (Cửa) họ còn gọi là Họ Sáu Cửa

a.          Nhánh 1 cụ Tổ Nguyễn Văn Thông, phân ra Chi nhanh Nguyên Trac có

5   Tiểu chi nhánh: Tiêu Chi nhanh Cụ Tổ Nguyễn Văn Tập, Tiêu Chi nhánh cụ Nguyễn Văn Định, Tiêu Chi nhánh - cụ Nguyễn Văn Chiêu,Tiêu Chi nhanh - Cụ Nguyễn Văn Soạn, Tiêu Chi nhánh Cụ Nguyễn Văn Lượng, Tiêu Chi nhánh cụ Nguyễn Văn Triện. Chi nhánh cụ Nguyễn Bá phân ra 3 Tiểu chi nhánh: Tiểu chi nhánh cụ Nguyễn Đào Quý, Tiểu chi nhánh cụ Nguyên Trong tưc ông Nghi, Tiểu chi nhánh Nguyên Vong tư la Nghiêm .

b.         Nhánh 2 - Cửa 2 cụ Tổ Nguyễn Văn Trác phân ra 2 Chi nhánh: Chi nhánh cụ Nguyễn Đức Châu gồm 7 Tiểu chi nhánh, Tiểu chi nhánh ông Nguyên Đình Khôi, Tiểu chi nhánh ông Nguyên Đình Chương, Tiểu chi nhánh ông Nguyễn Đình Cung,Tiểu chi nhánh Nguyên Quang Dư vô tự Tiểu chi nhánh Nguyên Đình

Các, Tiểu chi nhánh Nguyên Đình Côn, Tiểu chi nhánh Nguyên Đình Thiêm (vô tự). Chi nhánh cụ Nguyễn Sương gồm 3 Tiểu chi nhánh,Tiểu chi nhánh Nguyên Đình Hàn, Tiểu chi nhánh ông Nguyễn Thanh Sơn, Tiểu chi nhánh Nguyên Duy Nhạc.

c.   Nhánh 3 - Cửa 3 - cụ Tổ Nguyễn Văn Đạt phân ra 4 Chi nhánh: Chi nhánh Nguyên Thu, Chi nhánh Nguyên Tư, Chi nhánh Nguyên Viên vô tự,Chi nhánh Nguyên Thù .

d.  Nhánh 4 - Cửa 4 cụ Tổ Nguyễn Uyên phân ra 3 Chi nhánh, Chi nhánh Nguyên Phương, Chi nhánh Nguyên Thư, Chi nhánh NguyênVăn Bình,

e.   Nhánh 5 Cửa 5 - cụ Tổ Nguyễn Văn Du phân ra 3 Chi nhánh: Chi nhánh Nguyễn Ân, Chi nhánh Nguyễn Hưng thất tích, Chi nhánh Nguyễn Nhiếp thất tích

f.    Nhánh 6 Cửa 6 cụ Tổ Nguyễn Văn Tam phân ra 2 Chi nhánh: Chi nhánh cụ Nguyễn Hữu Dực, Chi nhánh Nguyễn Văn Tường.

3.3.1.2   Tiểu chi 2 cụ Nguyễn Doãn sinh con gái lấy về họ Phạm - vô tự.

3.3.1.3   Tiểu chi 3 cụ Nguyễn Dật sinh 2 con trai là các nhánh họ Nguyễn ở xóm Làng

3.3.1.4   Tiểu chi 4 Ưu Binh Tướng quân Nguyễn Đình Tài húy Bưu

Đời thứ 7 phân thành 3 nhánh a. Nhánh Nguyễn Lai vô tự

b.  Nhánh Nguyễn Thành có 2 chi nhánh Nguyễn Trọng, Nguyễn Phúc

c.   Nhánh Nguyễn Báo có 2 chi nhánh Nguyễn Viện, nguyễn Tích

3.3.2   Trung chi 2 (Cửa Hầu Đại Sứ) cụ Tổ Nguyễn Năng Võ gồm

3.3.2.1   Tiểu Chi 1 - Con cháu ông Nguyễn Công Đam

Phân ra Nhánh 1 Nguyễn Công Trù thất tích hơp tư vào cưa 2.

3.3.2.2   Tiểu Chi 2 - Cụ Tổ Nguyên Công Đinh

Phân ra:

a.   Nhánh 1 (Cửa 1) Cụ Tổ Nguyên Công Câu gồm Chi nhánh Nguyễn Công Thiêu, Chi nhánh Nguyễn Công Tiếp .

b.  Nhánh 2 (Cửa 2) Cụ Tổ Nguyễn Công Cân gồm Chi nhánh Nguyễn Công Ban, Chi nhánh Nguyên Công Văn, Chi nhánh cụ Tổ Nguyên Công Giáp thất tích, Chi nhánh Nguyễn Công Thuật thất tích, Chi nhánh cụ Tổ Nguyễn Công Kiên.

3.3.2.3   Tiểu Chi 3 - Cụ Nguyễn Công Nại.

3.3.2.4   Tiểu Chi 4 - Con cháu ông bà Nguyễn Năng Chính thất tích.

3.3.2.5   Tiểu Chi 5 - Tri Phủ Trường Khánh Hương Cống Nguyễn Năng Nho

a.   Nhánh Nguyễn Công Sắc vô tự,

b.  Nhánh Nguyễn Công Tiến vô hậu từ đời thứ 6,

c.   Nhánh Nguyễn Công Nghi gồm Chi nhánh Nguyễn Thát vô hậu, Chi nhánh Nguyễn Diên đến đời thứ 8 vô hậu, Chi nhánh Nguyễn Phàn (Phèn) Chi nhánh

Nguyễn Học Phong, Chi nhánh Nguyễn Tương.

d.  Nhánh Nguyễn Năng Liêm gồm Chi nhánh Nguyễn Hòa, Chi nhánh Nguyễn Trình

3.3.3       Trung chi 3 Nguyễn Sản tức Cố Khoái con cụ Nguyễn Hồng gồm:

3.3.3.1Tiểu Chi 1 Nguyễn Trình,

3.3.3.2Tiểu Chi 2 Nguyễn Khải,

3.3.3.3Tiểu Chi 3 Nguyễn Loan thất tích từ Đời 5,

3.3.3.4Tiểu Chi 4 cụ tổ Nguyễn Du sang đời thứ 6 Nguyễn Ưng thất tích

3.3.4       Trung chi 4 cụ Tổ Nguyễn Hoà tức Cố Duyên gồm

3.3.4.1Tiểu chi 1 Nguyễn Hước,

3.3.4.2Tiểu chi 2 Nguyễn Truyền tức Khắc Bạt thất tích,

3.3.4.3Tiểu chi 3 Nguyễn Thính thất tích.

3.3.5       Trung chi 5 Nguyễn Trông gồm

3.3.5.1Tiểu chi 1 Nguyễn Năng Thể

a.  Nhánh Nguyễn Dụ thất tích.

b.  Nhánh Nguyễn Tày gồm Chi nhánh Nguyễn Khắc Khoan có Tiêu chi nhánh Nguyễn Oánh, Tiểu chi nhánh Nguyễn Út. Chi nhánh Nguyễn Trị thất tích. Chi nhánh Nguyễn Khắc Nhân.

3.3.6       Trung chi 6 Nguyễn Chấp con Cụ Nguyễn Hồng thất tích

3.3.7       Trung chi 7 Nguyễn Lễ con Cụ Nguyễn Hồng thất tích

3.3.8       Khoa bảng chức sắc và các di sản

Đức khởi tổ Thống Đốc Nguyễn Lâm đến Điểu Lĩnh nay đã trải qua 19 đời con cháu các bậc tài giỏi đời đời nối nhau kế xuất, đời đời khoa bảng rạng danh tông tổ. Cụ Tổ đời thứ 3 Nguyễn Chanh chi trưởng Nguyễn Dư đậu Tam trường giữ chức xã trưởng. Nguyễn Hồng còn gọi là Cố Sâm chi thứ Nguyễn Dư là người giàu có là Sinh đồ dạy học các môn gia truyền võ nghệ y lý số. Các cụ Tổ đời thứ 4 (trung chi) Nguyễn Năng Kính con cả cụ Nguyễn Chanh đậu nhị trường giữ chức xã trưởng, Nguyễn Năng Võ con thứ Nguyễn Chanh đậu Hương Cống giữ chức Thái Y Viện Đại Sứ chữa bệnh cho Hàng Gia được vua Lê Hiển Tông truy phong Hầu Đại Sứ Hoàng Tín Đại Phu Thái Y Viện, Nguyễn Sản con cả Cố Sâm thi đậu Cử nhân võ được vua Lê Ỷ Tông phong chức Chánh Vệ Úy sau lên chức Đô Ngự Sử, Nguyễn Hoà con Cố Sâm đậu Sinh đồ dạy học. Các cụ Tổ đời thứ 5 Nguyễn Công Đảm con cả Nguyễn Năng Võ có học vấn cao trúng tuyển quan trong triêu được vua phong tước bá Hầu Thiêm, Nguyễn Công Đỉnh con thứ Nguyễn Năng Võ là vị tướng(Tướng Sỹ Lang) thời Lê được vua phong tước bá hiệu Hầu Tri Sự, Nguyễn Năng Chính con thứ Nguyễn Năng Võ giữ chức Phó Sở Sở Sứ, Hầu Phủ Nguyễn Năng Nho con thứ Nguyễn Năng Võ vua Lê Huyền Tông phong Tri Phủ Trường Khánh, Nguyễn Công Sắc con thứ Nguyễn Năng

Võ đậu cử nhân võ. Các cụ Tổ đời thứ 6 Nguyễn Triền cháu cụ Nguyễn Chanh đậu Nhị trường giữ chức xã trưởng, Nguyễn Năng Liêm cháu cụ Nguyễn Năng Võ đậu cử nhân vua Lê Gia tông ban tước Quan Viên Tử Phủ Trường Khánh. Các cụ Tổ đời thứ 7 Nguyễn Văn Vận chắt cụ Nguyễn Năng Kính đậu Tam Trường giữ chức Chánh Tổng và làm thầy thuốc được vua Lê Hiển Tông phong Tước Nam Minh Đạo y, Nguyễn Đinh Tài em cụ Nguyễn Triền đậu tam trường là quan võ được vua Lê Hiển Tông phong sắc Ưu Binh Tướng quân. Nguyễn Khắc Tiệp cháu Cố Duyên đậu Hương Cống được vua Lê Hiển Tông phong chức tri huyện,Nguyễn Ánh, Nguyễn Tôn Phái cháu cụ Nguyễn Năng Nho đều đậu Hương Cống giữ chức Tri Phủ Trường Khánh dưới triều vua Lê Dụ Tông. Các cụ Tổ đời thứ 8 Nguyễn Văn Trác con cụ Nguyễn Văn Vận đậu Nhị trường giữ chức Lý trưởng. Các cụ Tổ đời thứ 9 Nguyễn Soạn cháu cụ Nguyễn Văn Vận giữ chức Chánh Tổng. Các cụ Tổ đời thứ 10 Nguyễn Năng Định (Huyện Uyên) đậu Tam trường là nhà thơ, cụ đồ, thầy thuốc, thủ lĩnh Nghĩa Binh Hữu Bằng trong phong trào Cần Vương, là danh nhân văn hoá Hà tĩnh. Nguyễn Đức Châu chắt cụ Vận thi đậu đầu xứ hành nghề y - lý - số được vua Thành Thái phong tước Bàng Thái Y Viện, cụ Nguyễn Đào Quý chắt cụ Vận thi đậu Tú tài thời vua Thành Thái (1889 - 1907) làm thầy thuốc. Đời thứ11 Nguyễn Sơn chắt cụ Nguyễn Văn Trác đậu cử nhân, Ủy viên UB kháng chiến Nam bộ, tướng trong quân đội, Trưởng ban kinh tế tỉnh ủy.

Từ đời thứ 12 trở xuống có trên 20 giáo sư phó giáo sư, tiến sỹ thạc sỹ, trên 150 kỹ sư, cử nhân, kiến trúc sư.. trên 30 tướng tá và hàng trăm cao đẳng giáo viên. Phần đông con cháu là bậc trung lưu giàu có, ruộng đất dăm bảy mẫu có dư, 10 mẫu trung bộ trở lên cũng có đến mấy chục hộ, trong cải cách ruộng đất cũng lắm gia đình địa chủ phú nông. Tư bản lớn thì không có nhưng cũng có nhiều hộ buôn bán lớn ở Lào và Thái Lan. Ngày nay con cháu chẳng những giàu có về trí thức mà còn lắm người thuộc diện đại gia triệu đô ở vùng Hà Nội và phía Nam đúng với nghĩa “đôi khi lây bat đong vang” .

3.4       Đại tôn Nguyễn Láng

Nguyễn Lam tức Láng sinh năm Quý Dậu (1393) con trai thứ 5 cụ Nguyễn Thạc lớn lên vừa cày cấy và luyện võ nghệ. Năm Canh Thân ông lấy bà Hoàng Thị Thanh người Đa Kỳ Nội. Năm Đinh Dậu - 14170 sinh con trai đầu Nguyễn Vũ, Canh Tý -1420 sinh Nguyễn Doãn, năm Quý Mão -1423 sinh Nguyễn Văn, năm Bính Ngọ - 1426 sinh con gái Nguyễn Thị Lài. Năm Đinh Mùi -1427 Cụ nhập quân Lê Lợi giữ chức Tả Đột Quân (quả đấm thép) ở Thanh Nghệ Tĩnh. Năm Mậu Ngọ -1438 ông xuôi biển đến Hương Giang lập nghiệp về sau loạn ly không biết gia cảnh ra sao. Nay con cháu đang tìm về gốc Tổ

3.5       Đại tôn Nguyễn Hàn

Nguyễn Hàn (Hải) sinh năm Àt Hợi - 1395 con trai thứ 6 Nguyễn Thạc ở quê làm ruộng. Đến năm Canh Tý ông lấy bà Nguyễn Thị Nam người Thanh Viên, năm Quý Mão - 1423 Nguyễn Hàn sinh con đầu là Nguyễn Dương, năm Đinh Mùi - 1427 sinh Nguyễn Thị Trang. Năm Canh Tuất vua Thái Tổ năm Thuận Thiên mỡ mang bờ cõi, ông bà thuận buồm vào khai cơ lập nghiệp ở xứ Núi Sơn Quảng Nam về sau do loạn lạc chẳng biết ra sao. Nay đã tìm được con cháu ở Bình Dương.

3.6   Đại tôn Nguyễn Huyên

Theo hậu phả cụ Nguyên Huyên và cụ Nguyễn Lâm, thì ông Nguyễn Huyên “ Hưng” con út cụ Nguyễn Thạc, cụ Hồ Thị Thuận, người tráng kiện, giỏi võ nghệ. Cụ ở Vũng Dọc ven bờ Mai Giang năm Đinh Dậu 1417, cầm quân đánh giặc giữa Thanh Nghệ giữ chức Phó tổng quản truy sát. Cụ Huyên lấy bà Hoàng Thị Mai (Mơ) quê Trung Hà cùng tuổi năm Đinh Sửu 1397, về sống ở Xuân Phúc, Xuân Úc, năm Kỷ Hợi 1419 sinh con đầu Nguyễn Hương (Hà), năm Nhâm Dần 1422 sinh con trai thứ Nguyễn Huân (Trung). Về sau sinh một gái Thị Xuân rồi chuyển về xứ mẹ bên ngoại. Cụ cùng con trai đầu đi vào Vũng Khe Hương sơn (nay gọi là cầu Kheeng nằm trên địa giới giữa xã Sơn Bằng và Sơn Trung cạnh sông Ngàn Phố) dừng chân cùng cháu Lâm (Sơn) con cụ Lai (Lại), quy hẹn nếu sau này mà tìm chú thì hỏi Khuất Huyên (Hưng), Khuất là Lâm con Lai. Cuối năm Canh Tý 1470 ở Sơn Trà dọc sông Hương. Cụ Huyên mất ngày 25 tháng 4 năm Canh Dần 1470 thọ 73 tuổi (1397 - 1370). Ông Hương chuyển đi Sơn Hương Trà cạnh Sông Hương sinh sống lập miếu thờ cha Khuất Huyên vọng Trần Lưu Quang. Cuối năm Canh Tý 1480 Nguyễn Hương được bổ làm quan trong trận đánh dọc biển, ông đã từ trận, được truy phong Quản Lĩnh Lộ. Nguyễn Sơn cháu cụ Huyên con ông Hà 51 tuổi được nhậm chức cha để rửa thù. Ông Nguyễn Hương sinh con trai đầu vào năm Giáp Tý 1444 tên là Nguyễn Hiến tức Hậu, con thứ 2 là Nguyễn Hữu và 2 con gái. Dòng họ này thất truyền từ xưa, gần đây năm 2012, 2015 con cháu dòng họ Tam chi Tứ Phái thờ cụ Tổ là Khuất ở Huế có về Quỳnh Đôi và Sơn Bằng tìm tổ tiên. Dòng họ này đang lưỡng lự thuộc dòng họ nào. Theo gia Theo Tiền phả thu hồi được năm 2012 và năm 2014 thì danh Khuất là quy ước của 2 chú cháu Nguyễn Huyên con út cụ Nguyễn Thạc và Nguyễn Lâm con cụ Nguyễn Lai. Tôi phỏng đoán “Tam Chi” là 3 con trai bà Hoàng Thị Tâm còn “Tứ Phái” là cháu chắt cụ Huyên. Nếu phả phân theo lối cổ truyền tứ phái là Trung Chi hoặc tiểu chi thì cần phải xem xét cụ thể các phái thuộc các chi.

3.7   Hệ thống thờ tự

Đã hơn 635 năm trải qua bao thăng trầm biến cố có nhiều sách chép lại quá trình xây dựng tôn tạo và phát triển các di sản văn hóa tổ tiên. Thành ngữ “luận cổ suy kim” nghĩa là biết quá khứ đoán tương lai. Nếu không hiểu lịch sử thấu đáo suy luận chủ quan sẽ làm mất đi tính thiêng liêng cổ kính, gây tranh cải bất hoà trong họ trong làng. Tôi đọc nhiều sách viết về các nhà thờ, có sách viết công phu kể về sự tích, tổ chức tế tự nhưng nhiều sách không hiểu viết với mục đích gì. Kể công người xây dựng và cải tạo, liệt kê các khoản tiền đóng góp của con cháu cũng là điều cần biết nhưng kể sai lại là điều tai hại, lại có sách lại bỏ qua phần cốt lõi về giá trị văn hoá của di tích. Tôi cũng không có sự hiểu biết rộng nên chỉ tóm lược tên các di tích văn hoá của Đại Tộc để con cháu tham khảo tìm hiểu thêm. Tôi có chụp lại nhiều hình ảnh di tích của Đại Tộc cũng muốn đưa vào để minh họa song ảnh lại bị lạc hậu do họ cứ đập đi sữa lại hình ảnh di tích cũng thay đổi luôn thôi đành chịu sợ bà con trách ảnh này chẳng phải của họ mình.

3.7.1        Miếu Quan Thái Giám.

Vào ngày 5 tháng 10 năm Quý Sửu Ngọc Lan Hòa Thái Giám quan chọn đất Minh Long dựng 3 gian nhà thờ 5 vị thế tổ của nhiều họ trong thôn. Tổ tiên Nguyễn Thạc được tế đầu tiên trước đó 1 ngày, tức ngày 10 tháng giêng. Các họ còn lại thì tế vào ngày 11. Đến năm Àt Sửu miếu trở thành miếu công của cả xã.

3.7.2   Nguyễn tộc từ đường (nhà thờ Ngũ Phúc).

Năm Mậu Thìn (1748), làm từ đường mới ở thôn Ngũ Phúc. Năm Tân Dậu tức năm Tự Đức thứ 14 thì con cháu đóng góp mỗi đinh ít nhất 10 quan tiền xây dựng thượng đường 3 gian bằng gỗ tứ thiết. Thượng Đường để bài vị Nguyễn Thạc và vợ, tiếp đến xếp theo thứ bậc cho đến đời thứ 8, gian bên trái thờ những vị không có người nối dõi, gian bên phải thờ các vị chức sắc khoa bảng. Bái đường kết cấu liên hoàn linh nghiêm. Các tộc trong thôn tặng câu đối, hoành phi treo trước cửa: “Triệu Cơ tự cổ truyền tam tính”.

Năm Tân Dậu tức Tự Đức thứ 25 thì tu sửa lại mái và bề ngoài bái đường. Năm Nhâm Thân (1872), xậy dựng ngọ môn hình vòm, kết cấu 2 tầng, tầng thượng có 2 chữ Càn Khôn, có 8 đầu rồng. trên đỉnh có chữ Nguyễn Triệu Cơ; trong mái vòm có chữ năm Mậu Ngọ. Ở hai hiên của bái dường đặt 2 hàng ghế ngồi đối diện và xếp 2 con ngựa gỗ hai bên đứng chầu; ngoài trước cửa có đôi hổ và 2 con sư tử đá cao 10 tấc đứng nhìn. Tường ngoài cùng có cây vú sữa, cây sưa, tường bao có lũy tre tạo nên cảnh quan thâm nghiêm.

Từ đường Nguyễn Tộc ở mặt tiền. Nhà thờ họ Hồ xây sau nên đứng ở giữa, của họ Hoàng làm sau ở Đông Viên xứ Đồng Tương. Trên cửa nhà thờ họ Nguyễn vừa mới làm và treo biển tên họ “Triệu Cơ”. Hàng năm có chiêu nạp con cháu trong ngoài tộc xa gần đến Thổ Đôi Trang lập nghiệp. Thường niên con và dâu rễ họ Hồ đều có qua lại làm lễ gia tiên. Ngày nay nhà thờ được chính phủ công nhận là di tích văn hóa cấp quốc gia. Hàng năm được ngân sách nhà nước cấp kinhphis để hương khói, chính quyền địa phương cấp thêm đất để mở rộng và làm đường xá đi lại thuận tiện hơn.

3.7.3   Chùa Trần Lưu Quận

Khi còn ở triều ngài Long Lĩnh Công Nguyễn Tu cho xây chùa để thờ phật tại xứ Đò Lội nay là xã Quỳnh Liên vùng đất ngày xưa cụ về khai cơ lập nghiệp đặt tên là Trần Lưu Quận. Có người trong họ giải thích “Theo phong tục khi chết thì họ Nguyễn lấy Quận Âm là Trần Lưu Quận” tôi nghỉ các cụ đâu ngồi ôm khư khư lấy mộ mà tụ họp nơi địa phủ (quận âm phủ). Tôi tin Trần Lưu Quận không phải là Tổ Quán thì cũng là một thần tích tuyệt đẹp mà chúng ta chưa biết.

 (1) Giải mã bia mộ Đức Khởi Tổ Nguyễn Lâm Đồng Bờ Gương xã Quỳnh bảng

Tại tiểu mục 2/mục 3.2 chương 2 về mộ Đức Khởi Tổ Nguyễn Lâm có ghi danh “Khuất Lâm Lai Trần Lưu Quận”. Tôi nghiên cứu giải mã về cụm từ Trần Lưu Quận.

Vậy Trần Lưu Quận có phải là Tổ Quán của Đức Khởi Tổ hay là một sự tích gì? Quận là tên một loại đơn vị hành chính. Dòng họ nào cũng có Tổ Quán. Tô quan la quê quán (địa chỉ) ông Tô đơi thứ nhất lấy vợ sinh ra con cai và cũng co thê tư nơi nao đo tơi khai cơ lâp nghiêp . Đã là quê quán phải là loại đơn vị hành chính được phân cấp phân cong quản lý hộ tịch xưa là trang ấp thôn bản nay là xã. Có những trang ấp thôn bản là Tổ Quán của nhiều dòng họ nỗi tiếng như thôn Đại Hữu ở Ninh Bình, Gia Miêu - Thanh Hoá, Hành Thiện - Nam Định, Quỳnh Đôi - Nghệ An, Trường Lưu, Tiên Điền - Hà Tĩnh. Các nhà thờ, văn tế, bài vị tổ tiên thường gán với Tổ Quán. Con cháu đi xa thường lấy Tổ quán để bái vọng, cũng là nơi con chau thất lạc tìm về.

Trước đây khi đi tìm tổ tông tôi có nghiên cứu địa danh Quỳnh Lưu từ năm 1010 đến 1225 nằm trong Châu, Lộ hoặc phủ Diễn Châu đến thời Lê phủ Diễn Châu chia làm hai huyện Đông Thành và Quỳnh Lưu dưới huyện là các Tổng và xã có thế quận cũng chỉ tương đương Trang Ấp. Đọc nhiều cuốn gia phả trên địa phận huyện Quỳnh Lưu bắt gặp nhều địa danh bằng chữ Hán như Yên Hồ Quận, Hoàng Mai Quận, Hoàng Giang Quận, Giang Hạ Quận, Trần Lưu Quận... tôi nghĩ đó là tên một đơn vị hành chính trang ấp là Tổ Quán của các dòng họ và chẳng có gì ấn tượng gì sâu sắc. Bẵng đi một thời gian năm 2014 tôi được đọc phần hậu phả Tổng Đốc Tổng Quản Quân Thuỷ Nguyễn Lâm Đức Khởi Tổ của dòng họ Sơn Bằng phần bia mộ có danh Khuất Lâm Lai Trần Lưu Quận tôi sinh ra tò mò. Cha cụ Nguyễn Lâm là Thống Đốc Tổng Quản Nguyễn Lai sinh ra ở Trang Thổ Đôi lấy vợ sinh ra cụ Lâm ở Thôn Nghĩa Lý, cụ Lâm lấy vợ đẻ con ở thôn Thanh Minh và chết chôn ở Bờ Gương. Một câu hỏi đặt ra sao bia mộ lại có danh Trần Lưu Quận ? Theo con cháu họ Nguyễn Triệu Cơ Quỳnh Đôi giải thích Trần Lưu Quận không phải là đơn vị hành chính mà là tên ngôi chùa do cụ Nguyễn Tu lập ra lấy Quận Âm của những người họ Nguyễn ở dưới địa phủ để đặt. Khẩu thiệt vô bằng khó tin lắm, sách có dạy người chết hồn lên Thiên Đàng xác để lại trần gian thành cát bụi. Vậy hãy đặt câu hỏi tiếp liệu Trần Lưu Quận có phải là Tổ Quán và có liên quan gì đối với họ Nguyễn không ?

Cần đặt ra câu hỏi trực tiếp hơn tại sao tên ngôi chùa do ngài Long Lĩnh Công Nguyễn Tu xây và bia mộ của Đức Khởi Tổ dòng họ Nguyễn Sơn Bằng lại đặt tên Trần Lưu Quận. Có người giải thích “theo phong tục khi chết thì họ Nguyễn lấy Quận Âm là Trần Lưu Quận” tôi nghỉ các cụ đâu ngồi ôm khư khư lấy mộ mà tụ họp nơi địa phủ (quận âm phủ) các cụ đã về cõi niết bàn. Có thể Trần Lưu Quận không phải là Tổ Quán thì cũng là một thần tích tuyệt đẹp mà chúng ta chưa biết. Trần Lưu Quận có thể là cộng đồng dân cư do cụ Nguyễn Tu đặt cho xứ Đò Lội nơi cụ khai hoang cày cấy. Cụ Tu lấy vợ người họ Trần, phải chăng tổ tiên bên vợ có người tên là Lưu. Đây cũng chỉ là giả thiết. Ở đây tôi xin kể sơ lược tục truyền Đức khởi tổ Nguyễn Lâm gọi cụ Nguyễn Tu bằng bác đặt tên Ấp Thanh Uyên sau này là Tổ Quán của dòng họ Nguyễn Sơn Bằng. Cũng tên ấp Thanh Uyên có đến mấy tục truyền. Khi cụ Nguyễn Lâm lấy Điểu Lĩnh làm nơi an cư lạc nghiệp tính kế lâu dài cụ chọn tên đặt cho nơi lập nghiệp. Tự nhận mình là con Rồng cháu Lac ngài chọn trang Thanh Uyên quê quán của Thần Cao Sơn linh thần cổ nhất thời Lạc Long Quân Âu Cơ (nay là xã Thanh Uyên Tam Nông Phú Thọ) đặt tên cho nơi mình ở. Lại có tục truyền khác, rằng ở Nghệ An có một vị quan người họ Nguyễn đi tuần phòng và vỗ về dân lập ra một trang ấp. Quan không biết khu vườn nhà mình có đất kết phát về văn võ. Đến đời con vợ chồng hiếm muộn con cái nên có ý định dời nhà ở nơi khác. Một đêm nằm ứng mộng “thần trạng” bảo rằng nơi đang ở là đất kết phát văn võ. Nghe vậy người chồng lập tức mời thầy địa lý xác định hướng xây cất từ đường, rào vươn định lại bờ cọi. Rồi từ đó làm ăn no đủ, sinh con trai học thành tài, đậu tam tràng làm quan giữ chức Bộ Lại được vua mời vào sân rồng chầu. Quan đã ngợi ca đạo thánh cao siêu nên được vua phong tước là Uyên Liêm Hầu về sau được thăng chức Dực Vận Tây Đài (ngang với Tể Tướng). Hậu duệ của Uyên Liêm Hầu là Nguyễn Trung Ngạn được nhà vua ân cho đỗ Hoàng Giáp triều Trần với chức Hậu Vệ Sự. Với lòng khát khao con cháu nhà mình về sau ấm no có trí tuệ uyên thâm sống thanh cao nên cụ Lâm đặt tên ấp là Thanh Uyên. Kể đến đây tôi liên tưởng đến tên ngôi đền do ngài Log Lĩnh Công Nguyễn Tu lập. Trần Lưu Quận có thể là một sự tích thần bí nào đó trong lịch sử chẳng hạn tổ tiên bên vợ có tên là Trần Lưu. Tôi cho rằng con cháu họ Nguyễn nên nghiên cứu về “ Trần Lưu Quận” theo hướng mới trên đây chỉ là những gợi ý ghi vào cuốn sách này để cùng nhau trao đổi thảo luận.

Bài của Tiến sĩ Nguyễn Đình Tùng

từ tư liệu các phả Họ Nguyễn thuộc Thái Tể Định Quốc Công Nguyễn Bặc